Tiểu luận Đặc điểm kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

Sự phát triển của lực lượng sản xuất của khoa học và công nghệ đang có xu hướng quốc tế hóa đời sống nhân loại. Xu hướng này chứa đựng một “nghịch lý “, nghịch lý đó là yếu tố “ nội sinh”của xu hướng. Nó là sự tác động “hai mặt “ phát triển và phản phát triển, tích cực và tiêu cực thẩm thấu đến từng người, từng quốc gia, từng dân tộc. Xu hướng này đòi hỏ phải giao lưu, hợp tác để hiểu biết lẫn nhau nhưng lại xảy ra xung đột, áp đặt, nô dịch nhau ngay trong quá trình giao lưu hợp tác để hiểu biết lẫn nhau nhưng lại xảy ra xung đột, áp đặt nhau, nô dịch nhau ngay trong quá trình giao lưu hợp tác. Đây là mâu thuẫn nội sinh của xu hướng. Giải quyết mâu thuẫn này đòi hỏi phải kết hợp sự tăng trưởng kinh tế, mở rộng quan hệ quốc tế với đấu tranh cho bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc.

 

doc23 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 15/01/2014 | Lượt xem: 879 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Đặc điểm kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g, tổng giá cả phù hợp với tổng giá trị của chúng. Tác dụng của quy luật giá trị: Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá Trong sản xuất quy luật giá trị điều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động giữa các ngành sản xuất thông qua sự biến động hàng hoá. Do ảnh hưởng của quy luật cung cầu , giá cả hàng hoá lên xuống xoay quanh gía trị của nó. Nếu có ngành nào đó, cung không đáp ứng được cầu giá cả hàng hoá lên cao thì người sản xuất sẽ đổ sô vào nghành đó. Và ngược lại , khi ngành đó thu hút quá nhiều lao động xã hội , cung vượt quá cầu , gía cả hàng hoá hạ thấp xuống thì người sản xuất sẽ chuyển bớt tư liệu sản xuất và sức lao động ra khỏi nghành này để đầu tư vào nơi có giá cả hàng hoá cao. Nhờ vậy mà tư liệu sản xuất và sức lao động đựơc phân phối qua lại một cách tự phát vào các nghành sản xuất khác nhau. Sự biến động của giá cả xung quanh giá trị không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế, mà còn có tác dụng điều tiết nền kinh tế. Kích thích lực lượng sản xuất phát triển Trong nền kinh tế hàng hoá , người nào có hao phí lao động cá biệt ít hơn hoặc bằng hao hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hoá thì người đó có lợi, còn người nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hoa phí lao động toàn bộ lao động đã hao phí. Muốn đứng vững và thắng lợi trong cạnh tranh, mỗi người sản xuất đều luôn luôn tìm cách rút xuống đến mức tối thiểu hoa phí lao động cá biệt. Muốn vậy họ phải luôn luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, tăng năng xuất lao động. Vì thế , trong nền kinh tế hàng hóa, lực lượng sản xuất được kích thích và phát triển nhanh hơn nhiều so với trong nền kinh tế tự cung, tự cấp, tự túc. Thực hiện sự bình tuyển tự nhiên và phân hoá người sản xuất thành kẻ giàu, người nghèo Trong cuộc cạnh tranh chạy theo giá trị, lao động cá biệt của mỗi người sản xuất có thể không nhất trí với lao động xã hội cần thiết. Những người làm tốt, làm giỏi có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, làm giàu , mua sắm thêm tư liệu sản xuất , mở rộng thêm qui mô sản xuất , mở rộng doanh nghiệp của mình. Bên cạnh đó, những người làm ăn kém hiệu quả , không gặp may mắn ,hao phí lao động cá biệt cao hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nên họ bị lỗ vốn, thậm chí đi đến phá sản. Như vậy quy luật giá trị có ý nghĩa bình tuyển, đánh giá người sản xuất. Nó mang lại phần thưởng cho những người làm tốt, làm giỏi và hình thức phạt cho những người làm ăn kém cỏi. Về phương diện này thì quy luật giá trị đảm bảo sự bình đẳng đối với người sản xuất. Mặt trái của quy luật giá trị : Ngay trong quá trình thực hiện bình tuyển tự nhiên đối với người sản xuất, quy luật giá trị đã phân hoá thành kẻ giàu người nghèo. Người giàu thì trở thành ông chủ, người nghèo dần trở thành người làm thuê. lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá giản đơn trong xã hội phong kiến dần dần sinh ra quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quan hệ giữa người giàu , người nghèo , quan hệ giữa chủ – thợ , quan hệ giữa tư sản và vô sản đối kháng về lợi ích kinh tế. Sự đối kháng đó tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh giữa người nghèo chống lại kẻ giàu , người thợ chống lại chủ ,vô sản chống lại tư sản. Đó là một trong những khuyết tật của kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường. . Qui luật cạnh tranh- Qui luật cung cầu- Qui luật lưu thông tiền tệ Ta biết giá trị là cơ sở quyết định giá cả còn giá cả là hình thức biểu hiện của giá trị hàng hoá trong trao đổi nhưng trong trao đổi lại có nhiêù yếu tố ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá. Đó là các qui luật cạnh tranh, qui luật cung cầu, qui luật lưu thông tiền tệ. Cạnh tranh là qui luật tất yếu giữa những người sản xuất với nhau, giữa những người sản xuất và người tiêu dùng nhằm giành được những điều kiện thuận lợi cho bản thân mình. Cạnh tranh có vai trò tích cực trong nền sản xuất hàng hoá, nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, thường xuyên cải tiến kĩ thuật, ứng dụng công nghệ mới, phương pháp tổ chức quản lí có hiệu quả, thực hành tiết kiệm, nâng cao tay nghề cho người lao động. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng động thời có những tác dụng tiêu cực như phân hoá người sản xuất hàng hoá, làm những ngưòi gặp khó khăn trong sản xuất do trình độ công nghệ thấp, vốn ít, gặp rủi ro..v..v . Mặc dù vậy, chấp nhận nền kinh tế thị trường nghĩa là phải chấp nhận có sự cạnh tranh bởi chính cạnh tranh đã đào thải cái lạc hậu, chọn lọc cái tiến bộ để thúc đẩy kinh tế phát triển. Qui luật cung cầu là mối quan hệ khách quan giữa cung và cầu diễn ra trên thị trường. Qui mô của cầu phụ thuộc vào các yếu tố: thu nhập, giá các hàng hoá liên quan, dân số, thị hiếu sở thích, kì vọng và giá hàng hoá ta xét, cầu còn đặc biệt quan trọng đối với người sản xuất, họ cần phải nắm được chính xác, kịp thời cầu trên thị trường để có thể định hướng cho việc sản xuất của mình. Một yếu tố nữa không thể thiếu được của thị trường là cung. Ta đã biết cung là tổng số hàng hoá dịch vụ mà người sản xuất có khả năng thực tế cung cấp cho thị trường ở mức giá tương ứng. Cung và cầu thị trường của một loại hàng hoá sẽ xác định cho ta giá cả của hàng hoá đó trên thị trường. Căn cứ vào đó, người sản xuất và người tiêu dùng điều chỉnh hành vi của mình để tối đa hoá lợi ích. Một qui luật nữa tồn tại khách quan trong nền kinh tế hàng hoá là qui luật lưu thông tiền tệ. Để thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, ở mỗi thời kì cần có một số lượng tiền nhất định. Số lượng tiền tệ này được xác định bằng qui luật lưu thông tiền tệ. Lạm phát xảy ra do nhiều nguyên nhân mà một trong số đó là do số tiền phát hành thực tế nhiều hơn so với lượng tiền cần thiết trong lưu thông, từ đó đẩy mức giá các mặt hàng lên cao để lượng hàng hoá tương ứng với lượng tiền có trong thị trường. Thông thường một nền kinh tế lành mạnh cần tỉ lệ lạm phát từ 5-7% để thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo thêm việc làm cho người lao động, tuy nhiên nếu lạm phát quá cao sẽ làm giảm tiền lương thực tế của người lao động, gây nhiều khó khăn cho đời sống nhân dân. 1.6. Cơ chế điều tiết kinh tế hàng hoá : Cơ chế điều tiết của kinh tế hàng hoá là cơ chế thị trường ở đó sản xuất cái gì ?, sản xuất bao nhiêu ?, sản xuất cho ai ?, số lượng bao nhiêu đều do thị trường quyết định. Có rât nhiều định nghĩa về cơ chế thị trường. Khi phân tích cơ chế kinh tế trongthời kỳ tự do cạnh tranh của Chủ Nghĩa Tư Bản, C.Mác đã chỉ ra những đặc trưng sau: Một là : Các quan hệ kinh tế hoàn toàn chịu sự chi phối của quy luật thị trường, chưa bị biến dạng bởi các quyết định hành chính của nhà nước và các thế lực độc quyền; Hai là : Giá cả là kết quả khách quan của quan hệ cung cầu, nó tồn tại độc lập với cả người mua và người bán, họ chỉ là “ những người nhận giá “; Ba là : tư liệu sản xuất và sức lao động được tự do di chuyển từ nghành này sang nghành khác theo cơ chế thị trường, do đó nâng cao hiệu quả đầu tư của tư bản. Như vậy, theo tư tưởng Mác cơ chế kinh tế thị trường gồm có các bộ phận cấu thành sau: Quan hệ cung cầu là quan hệ trung tâm của cơ chế thị trường; Giá cả là cốt lõi của cơ chế thị trường Cạnh tranh là sức sống của cơ chế thị trường Nhưng có lẽ quan điểm đúng nhất về cơ chế thị trường là tổng thể phương thức vận hành nền kinh tế sao cho phù hợp với các quy luật khách quan của thị trường, trong đó gồm có các quan hệ kinh tế ( mà quan hệ cung cầu là trung tâm ), các hình thức kinh tế ( mà giá cả thị trường là cốt lõi ), các phương pháp ( mà cạnh tranh là sức sống ), từ đó tạo ra những lực hút nhất định nhằm chi phối ba vấn đề cơ bản của nền sản xuất xã hội: Sản xuất cái gì ?, sản xuất bằng cách nào ? , sản xuất cho ai ?. _ Bản chất , đặc điểm của kinh tê thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam. Chuyển nền kinh từ hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung-hành chính – quan liêu – bao cáp sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần , vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là nội dung, bản chất và đặc điểm khái quát nhất đối với nền kinh tế nước ta trong thời kỳ hiện đại và tương lai. Vì thế chúng ta cần phân tích sâu thêm bản chất, đặc điểm đã được của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta để có thể hiểu rõ và thống nhất hơn trong nhận thức và hành động + Thứ nhất, nền kinh tế thị trường nước ta sẽ xây dựng là nền kinh tế thị trường hiện đại với tính chất xã hội hiện đại ( xã hội chủ nghĩa ). Mặc dù nền kinh tế nước ta đang nằm trong tình trạng lạc hậu và kém phát triển nhưng khi nước ta chuyển sang phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường thì thế giới đã chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại ( do những khuyết điểm của kinh tế thị trường tự do ). Bởi vậy mà chúng ta không thể và không nhất thiết phải trải qua giai đoạn kinh tế hàng hoá giản đơn và giai đoạn kinh tế thị trường tự do, mà đi thẳng vào phát triển kinh tế thị trường hiện đại, đây là nôị dung và yêu cầu của sự rút ngắn . + Thứ hai, nền kinh tế của chúng là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong một số lĩnh vực, một số khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị trường phải là nền kinh tế đa phần, đa hình thức sở hữu. Thế nhưng, nền kinh tế thị trường mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế thị trường hiện đại, cho nên chúng cần có sự tham gia bởi “ bàn tay hữu hình “ của Nhà Nước trong việc điều tiết, quản lý nền kinh tế đó. Đồng thời chính nó cũng bảo đảm sự định hướng phát triển của nền kinh tế thị trường, của nhà nứơc thông qua các công cụ kinh tế vĩ mô và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nứơc. Cùng với việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nứơc, cần coi trọng vai trò của khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp. Đặt chúng trong mối quan hệ hữu cơ, thống nhất không tách rời, biệt lập. + Thứ ba, Nhà Nước quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nhà nước pháp quyền, do dân vì dân. Thành tố quan trọng mang tính quyết định trong nền kinh tế thị trường hiện đại là nhà nước tham gia vào các quá trình kinh tế. Nhưng khác với nhà nước của nhiều nước nền kinh tế thị trường trên thế giới, nhà nước ta là nhà nước của dân do dân và vì dân, nhà nước công nông, nhà nước của đa số nhân dân lao động Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. + Thứ tư, mở cửa hội nhập nên kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là nội dung quan trọng của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Một trong những đặc trưng quan trọng của kinh tế thị trường hiện đại là việc mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. Để phát trong điều kiện của kinh tế thị trường hiện đại, Việt Nam không thể đóng cửa, khép kín nền kinh tế trong trạng thái tự cung tự cấp, mà phải mở cửa, hội nhập với nền kinh thế giới, sự mở cửa, hội nhập được thể hiện trên ba nội dung chính là : thương mại ; đầu tư và chuyển giao khoa học – công nghệ. + Thứ năm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời với việc đảm bảo công bằng xã hội cũng là một nội dung quan trọng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Phải đảm bảo cho sự công bằng xã hội tức là tạo cho mọi tầng lớp trong nhân dân đều có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển và được hưởng những thành tương xứng với sức lực, khả năng và trí tuệ của họ bỏ ra, là giảm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo giữa các tầng lơp dân cư và giữa các vùng. Nhưng trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn kém phát triển, ngân sách eo hẹp, thì không thể nhấn mạnh quá tới sự công bằng xã hội vì nếu không nó sẽ làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. + Thứ sáu,giải quyết mối quan hệ giữa lao động và tư bản( vốn), thông qua phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được thực hiện theo kết quả của lao động là chủ yếu kết hợp với một phần theo vốn và tài sản. Khác với chủ nghĩa tư bản thì chủ nghĩa xã hội đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển vì thế phân phối thu nhập và thành quả lao động chúng ta chú ý tới nhân tố lao động và yếu tố tiền lương – thu nhập của người lao động. Tuy nhiên chúng ta cần phải coi trọng đến vai trò của tiền vốn của tích luỹ và đầu tư ( cả và nhà nước và tư nhân). Vì thế thu nhập theo vốn và tài sản kinh doanh bây giờ đã trở thành bình thường. Chỉ có trên cơ sở đó mới tăng được số người giàu có trong xã hội. Tăng số người có thu nhập cao đồng thời giảm số người có thu nhập thấp trong xã hội và thu hẹp dần khoảng cách giữa giàu-nghèo vừa là mục tiêu, vừa là nội dung quan trọng của chính sách thu nhập của nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở nước ta. Tóm lại vai trò của kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở nước ta là (2)“ quá trình thực hiện dân giàu, nứơc mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá,có kỷ cương, xoá bỏ áp bức, bất công , tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do , hạnh phúc”.( chiến lược ổn định và phát triển kinh tế –xã hội năm 2000,nxb sự thật Hà Nội, 1991,tr8. 2.Sự cần thiết phải khôi phục và phát triển kinh tế hàng hoá ở Việt Nam: 2.1 Đặc điểm kinh tế chỉ huy Một là:Nhà nước quản lý nền kinhtế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, điều đó thể hiện ở sự chi tiết hoá các nhiệm vụ do trung ương giao bằng một hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh từ một trung tâm. Hai là :Các cơ quan hành chính-kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về mặt vật chất với các quyết định của mình. Ba là:Bỏ qua quan hệ hàng hoá-tiền tệ và hiệu quả kinh tế, quảnlý nền kinh tế và kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm, quan hệ hiện vật là chủ yếu, do đó hạch toán kinh tế chỉ là hình thức. Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức. Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức: bao cấp qua giá, bao cấp qua tiền lương hiện vật và bao cấp qua cấp phát vốn của ngân sách, mà không ràng buộc vật chất đối với người được cấp vốn 2.2. Tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế hàng hoá ở Việt nam Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt nam, sự tồn tại của sản xuất hàng hoá là một tất yếu khách quan. Bởi vì, trong nền kinh tế nước ta lực lượng sản xuất xã hội còn rất thấp, đang tồn tại nhiều thành phầnkinh tế khác nhau, sự phân công lao động xã hội gắn với sự tồn tại nhiều chủ thể sở hữu khác nhau như các thực thể kinh tế độc lập. Đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần ở thời kỳ quá độ theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một định hướng chiến lược cực kỳ quan trọng mang tính khách quan và có khả năng thực hiện thắng lợi ở nước ta vì: +) Chỉ có phát triển nền kinh tế nhiều thành phần mới phù hợp với thực trạng của lực lượng sản xuất chưa đồng đều ở Việt nam. +) Nó phù hợp với xu thế phát triển kinh tế khách quan của thời đại ngày nay-thời đại các nước đều hướng về phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Sự phù hợp này sẽ giúp nước ta có thêm thế và lực để phát triển kinh tế nhanh hơn. +)Phù hợp với lòng mong muốn thiết tha của nhân dân ta là được đem hết tài năng, sức lực để lao động làm giầu cho đất nước và cho cả bản thân mình, có thu nhập ngày càng cao làm cho cuộc sống càng ấm no và hạnh phúc. +)Nó cho phép có điều kiện thuận lợi để khai thác có hiệu quả các tiềm năng hiện có và đang còn tiểm ẩn ở trong nước, có thể tranh thủ tốt nhất sự giúp đỡ, hợp tác từ bên ngoài nhằm phát triển nền kinh tế nước ta hướng vào mục tiêu tăng trưởng nhanh và hiện đại hoá. Chỉ có nhiều thành phần kinh tế, chúng ta mới có khả năng huy động mọi tiềm năng về vốn, kỹ thuật; mới phát huy được mọi tiềm năng của người Việt nam... +)Chỉ có phát triển nềnkinh tế nhiều thành phần, chúng ta mới có khả năng giải quyết được vấn đề việc làm trên đất nước chúng ta. Một quốc gia giầu có bao nhiêu chăng nữa, mà đẩy một tỷ lệ quá cao người lao động ra ngoài quá trình sản xuất thì quốc gia ấy sẽ nghèo đi. Như vậy, phát triển sản xuất hàng hoá đối với nước ta là một tất yếu kinh tế, một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng đất nước để thực hiện nhiệm vụ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực hiện nhất quán đường lối phát triển kinh tế trên đây của Đảng và Nhà nước đề ra, qua hơn 10 năm đổi mới chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể: Mở rộng được quan hệ kinh tế hợp tác với bên ngoài, thu hút vốn đầu tư kỹ thuật hiện đại của nhiều nước vào để phát triển kinh tế trong nước. tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân hàng năm 8,2%, giảm tỷlệ lạm phát từ 74,7% ở năm 1986 xuống 12,7% ở năm 1995 và khoảng 5% ở năm 1996. Sản lượng thực tế đạt trên 29 triệu tấn ở năm 1996. Kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm đạt 17 tỷ đôla và năm 1996 đạt trên 7 tỷ đôla. Ưu thế của kinh tế hàng hoá so với kinh tế chỉ huy. - Đảm bảo cho sự thích ứng của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của phát triển của lực lượng sản xuất. - Nhiều chủ thể sở hữu về tư liệu sản xuất ( sự năng động của nền kinh tế ) Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì, của phân công lao động xã hội thì thì các hình thức sở hữu trong nên kinh tế hàng hoá cũng trở nên đa dạng hơn. Trong xã hội nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuât kém phát triển nên chỉ có một hình thức duy nhất về tư liệu sản xuất là sở hữu thị tộc, bộ lạc. Nhưng từ xã hội nô lệ phong kiến đến xã hội tư bản thì phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất ngày càng đa dạng. Ngày nay khi mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật làm thay đổi cơ bản lực lượng sản xuất thì dẫn đến các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất cũng trở nên đa dạng hơn, từ hình thức sở hữu của người sản xuất nhỏ cá thể đến sở hữu tư bản tư nhân , sở hữu tập thể, sở hữu Nhà nước và các hình thức sở hữu hỗn hợp. Sự hình thành phát triển một cách đa dạng các hình thức sở hữu đó đã cho phép giải phóng được các năng lực sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện đời sống nhân dân. Rõ ràng rằng xu hướng ngày càng đa dạng hóa các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động trong xã hội là một xu hướng tất yếu của xã hội, là một quá trình “lịch sử tự nhiên “ và là một quy luật phát triển của xã hội. Do đó mà ta thấy được ưu điểm của hình thức sở hữu trong nền kinh tế chỉ huy so với nền kinh tế hàng hoá, từ đó mà thấy được Đặc điểm của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 1) Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế kém phát triển, mang nặng tính tự cung, tự cấp, và quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hóa, vận hành theo cơ chế thị trường. Chuyển từ thói quen quản lý nền kinh tế hàng hoá tập trung quan sang quản lý nền kinh tế thị trường là một công việc không dễ dàng cùng một lúc nhà nước phải vừa “ bứt ra “ khỏi những ràng buộc của thói quen quản lý nền kinh tế kế hoạch tập trung, lại phải vừa tìm ra phương thức, phương pháp quản lý cho bối cảnh kinh tế mới, việc tìm ra những phương thức, phương pháp mới là một công việc hoàn toàn mới mẻ và khó khăn. Mặt khác đi lên chủ nghĩa xã hội chúng ta đã không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nên nước ta thiếu cái cốt vật chất của một nền kinh tế phát triển. Thực trạng kinh tế được biểu hiện ở những mặt cơ bản như: cơ cấu hạ tầng và xã hội thấp kém, trình độ cơ sở vật chất và công nghệ trong các doanh nghiệp lạc hậu, kém khả năng cạnh tranh, sản xuất phân tán, nhỏ lẻ, kỹ thuật thủ công, mang nặng tính bảo thủ, trì trệ, phân công lao động chưa sâu sắc, các mối liên hệ kinh tế kém phát triển, thị trường còn sơ khai, thu nhập của dân cư qúa thấp, nhu cầu tăng chậm dẫn đến đình trệ sản xuất kinh doanh là khó tránh khỏi, thiếu một đội ngũ những người quản lý sản xuất có khả năng tham gia cạnh tranh trong và nước ngoài.Ngoài ra, kiểu quản lý nền kinh tế chỉ huy đã làm xơ cứng các mối liên hệ kinh tế, điều đó biểu hiện: Từ 1986 trở về trước dù trên thực tế vẫn thừa nhận sản xuất hàng hoá, thừa nhận quan hệ hàng hoá-tiền tệ nhưng thực chất đó chỉ là kinh tế hàng hóa một thành phần-thành phần xã hội chủ nghĩa, dựa trên chế độ công hữu tư liệu sản xuất dưới hai hình thức: toàn dân và tập thể. Quy luật trung tâm chi phối sự vận động của kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa là quy luật có kế hoạch và cân đối nền kinh tế quốc dân, đã biến nền kinh tế thực tế là kinh tế chỉ huy. Những quan niêm ấu trĩ về xây dựng và phát triển kinh tế là biểu hiện sai lầm chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, mà đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, không tuân thủ một quá trình lịch sử tự nhiên trong sự phát triển xã hội nói chung và trong nền kinh tế nói riêng. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho sự trì trệ kéo dài, đồng thời làm xuất hiện yêu cầu của quy luật khách quan, phù hợp với xu thế thời đại ngày nay là chuyển sang cơ chế thị trường. 2)Nền kinh tế hàng hoá dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần Đường lối phát triển khinh tế hàng hoá nhiều thành phần tất yếu sẽ cấu trúc lại nền kinh tế thuần khiết chủ yếu với hai thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sang nền kinh tế thị trường hỗn hợp gồm nhiều thành phần, nhiều khu vực kinh tế và nhiều hình thức sở hữu tồn tại đan xen lẫn nhau. Quan hệ, hình thức , quy mô sở hữu đối với tư liệu sản xuất luôn là căn cứ cho vệc phân định các thành phần kinh tế khác nhau. ở dạng tổng quát nhất có thể nói rằng trong nền kinh tế nước ta đang tồn tại 3 hình thức sở hữu cơ bản; sở hữu nhà nước (toàn dân), sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp( gồm giữa nhà nước với nước ngoài, giữa nhà nứơc với tư nhân ngòai tư nhân trong nước; giữa tư nhân với tư nhân; giữa nhà nước với tư nhân và người lao động. Từ 3 hình thức sở hữu cơ bản đó đã hình thành nên kinh tế hàng hoá nhìêu thành phần và những loại hình doanh nghiệp đa dạng, phong phú. Phân tích thực trạng và xu hướng vận động của nền kinh tế nước ta trong bước đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế hoạt động có thể rút ra nhận xet sơ bộ : Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trường ở nước ta là nguồn lực tổng hợp to lớn để đưa nền kinh tế vượt khỏi thực trạng thấp kém, đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển kể cả trong điều kiện ngân sách nhà nước eo hẹp. Để hạn chế và khắc phục những hậu quả của mặt trái nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường mang lại, giữ cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng và phát huy bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế-xã hội bằng luật pháp,kế hoạch, chính sách, thông tin, tuyên truyền... Sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cũng có nghĩa là còn có các quy luật kinh tế khác nhau hoạt động. Sự vận động và phát triển của các thành phần kinh tế trong giai đoạn này chịu sự chi phối trực tiếp của các quy luật kinh tế. Thông qua hoạt động của các quy luật kinh tế mà nó đào thải những mặt, những yếu tố bất hợp lý và thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất. 3)Nền kinh tế phát triển theo hướng mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài. Sự phát triển của lực lượng sản xuất của khoa học và công nghệ đang có xu hướng quốc tế hóa đời sống nhân loại. Xu hướng này chứa đựng một “nghịch lý “, nghịch lý đó là yếu tố “ nội sinh”của xu hướng. Nó là sự tác động “hai mặt “ phát triển và phản phát triển, tích cực và tiêu cực thẩm thấu đến từng người, từng quốc gia, từng dân tộc. Xu hướng này đòi hỏ phải giao lưu, hợp tác để hiểu biết lẫn nhau nhưng lại xảy ra xung đột, áp đặt, nô dịch nhau ngay trong quá trình giao lưu hợp tác để hiểu biết lẫn nhau nhưng lại xảy ra xung đột, áp đặt nhau, nô dịch nhau ngay trong quá trình giao lưu hợp tác. Đây là mâu thuẫn nội sinh của xu hướng. Giải quyết mâu thuẫn này đòi hỏi phải kết hợp sự tăng trưởng kinh tế, mở rộng quan hệ quốc tế với đấu tranh cho bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc. Nước ta đang trên con đường đi lên con đường xã hội chủ nghĩa, vì vậy phải giữ vững tăng trưởng của mình, hội nhập quốc tế nhưng không làm mất độc lập tự chủ, cùng đi lên với thế giới nhưng vẫn theo mục tiêu đã chọn. Vì vậy chúng ta cần vạch ra những bước đi vững chắc ngay từ đầu tiên trên con đường quốc tế hoá và thực tiễn đã chứng minh điều đó: chúng ta đã tạo chính sách thương mại tự do theo hướng tạo điều kiện dễ dàng cho các doanh nghiệp được xuất khẩu trực tiếp các hàng hoá không còn bị cấm, thực hiện giảm thuế nhập khẩu tối đa xuống 50% đối với 6 nhóm mặt hàng ngoại lệ và tiếp tục nghiên cứu đối với một số mặt hàng khác; nới lỏng quy định về hạn chế ngoại hối …nhằm tăng cường sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Mặt khác chúng ta còn có tạo ra cơ hội thuận lợi đ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc50730.DOC
Tài liệu liên quan