Tiểu luận Hệ thống giao thông thành phố Moscow ( Moskva)

Hiện tại có hơn 2,6 triệu xe lưu thông trong thành phố hang ngày. Những năm gần đây sự tăng trưởng về số lượng xe ô tô đã gây nên tình trạng ùn tắc giao thông và thiếu chỗ đậu xe, đây là vấn đề lớn đặt ra cho các nhà lãnh đạo và chính quyền thành phố Moscow.

Các đường vành đai, cùng với đường vành đai thứ ba và thứ tư trong thời gian tới sẽ là một trong ba đường cao tốc chạy trong khu vực thành phố Moscow. Tuy nhiên, chúng ta có thể quan sát từ bản đồ thành phố có một số hệ thống đường khác tạo thành vành đai hướng tâm xung quanh thành phố.

 

doc17 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 24/01/2014 | Lượt xem: 1771 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Hệ thống giao thông thành phố Moscow ( Moskva), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Hệ thống giao thông thành phố Moscow ( Moskva) Moscow là thành phố đông dân nhất thuộc liên bang Nga. Là trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa, tôn giáo, tài chính, giáo dục và giao thông chính của Nga và thế giới. Moscow là thành phố đông dân nhất châu Âu, thứ bảy trên thế giới và là một siêu đô thị. Diện tích thành phố 1.081 km2, dân số vào tháng 01 năm 2010 là 10.563.038 người. Hiện trạng giao thông Hệ thống giao thông thành phố Moscow có một cấu trúc vành đai hướng tâm, luôn hướng vào trung tâm thành phố. Hơn nữa, vị trí của các dịch vụ hang hải quan trọng tại Moscow đã tạo nên trung tâm thương mại của cả nước và trung tâm phân phối dựa trên cơ sở các trung tâm giao thông Moscow. Giao thông Moscow bao gồm: Giao thông đường không, đường thủy, đường sắt và đường bộ. Giao thông đường không Hiện tai có 05 sân bay thương mại chính phục vụ Moscow bao gồm: sân bay quốc tế Sân bay quốc tế Sheremetyevo , Sân bay quốc tế Domodedovo , sân bay Bykovo , Sân bay quốc tế Ostafyevo và sân bay quốc tế Vnukovo. Sân bay quốc tế Sheremetyevo là điểm đến nhiều nhất của hành khách nước ngoài, chiếm tới 60% của tất cả các chuyến bay quốc tế. Sân bay quốc tế Domodedovo là sân bay hàng đầu ở Nga về thông hành khách, và là cửa ngõ chính để đường dài trong nước và CIS các điểm đến và giao thông đối thủ quốc tế Sheremetyevo của. Ba sân bay khác, cung cấp các chuyến bay trong nước Nga và đến và từ các tiểu bang Liên Xô cũ.Các sân bay khác nhau trong khoảng cách từ vành đai MKAD: xa nhất là Bykovo, khoảng 35 km; Domodedovo là 22 km; Vnukovo là 11 km; Sheremetyevo là 10 km và Ostafievo, gần nhất là khoảng 8 km từ MKAD. Sân bay quốc tế Sheremetyevo Ngoài ra còn có một vài sân bay nhỏ gần Moscow, như sân bay Myachkovo , dự định cho máy bay tư nhân, máy bay trực thăng được phép hoạt động. Giao thông đường thủy Moscow có hai bến thủy nằm ở phía Nam sông Terminal và Bắc sông Terminal hoặc Vokzal Rechnoy, các tuyến tàu thường xuyên trên sông được sử dụng chủ yếu phục vụ giải trí, du lịch. Phía Bắc sông Terminal, được xây dựng vào năm 1937, là trung tâm chính phục vụ các tuyến đường thủy đường dài. Ngoài ra còn ba khu vực vận chuyển hang hóa phục vụ thành phố Moscow khác. Bắc sông Terminal Giao thông đường sắt 1.1.3.1. Xe lửa Moscow sử dụng một số trạm xe lửa để phục vụ thành phố, có chin ga đường sắt bao gồm các ga: Belorussky, Kazansky, Kiyevsky, Kursky, Leningradsky, Paveletsky, Rizhsky, Savyolovsky, Yaroslavsky. Các ga này nằm gần trung tâm thành phố, là nơi tiếp nhận của các xe lửa đến từ châu Âu và châu Á. Ngoài ra ở Moscow còn có các trạm đường sắt nhỏ hơn. Giá vé xe lửa là tương đối rẻ, ưu tiên cho hành khách du lịch Nga, đặc biệt là tới Saint Petersburg, thành phố lớn thứ hai của Nga. Moscow cũng là ga cuối phía Tây của tuyến đường sắt Trans-Siberian , mà đi qua gần 9.300 km của lãnh thổ Nga tới Vladivostok trên bờ biển Thái Bình Dương. Vùng ngoại ô và các thành phố vệ tinh cũng được kết nối bằng mạng lưới đường sắt Elektrichkas. Ga xe lửa Paveletsky 1.1.3.2. Metro Phương tiện vận tải bao gồm Metro Moscow , một hệ thống tàu điện ngầm nổi tiếng với nghệ thuật của mình, trang trí hoành tráng , ghép , và trang trí đèn chùm. Hệ thống Metro đầu tiên được mở vào năm 1935, khi đó hệ thống chỉ có hai dòng. Ngày nay, Metro Moscow có mười hai dòng, chủ yếu là dưới đất với tổng số trạm là 182. Metro là một trong những hệ thống tàu điện ngầm sâu nhất thế giới, ví dụ các trạm công viên Pobedy, hoàn thành vào năm 2003, sâu 84 mét dưới lòng đất, có hệ thống thang cuốn dài nhất châu Âu. Các Metro Moscow là một trong những hệ thống tàu điện ngầm bận rộn nhất của thế giới, phục vụ hơn chín triệu lượt hành khách mỗi ngày. Đối mặt với vấn đề giao thông nghiêm trọng, Moscow có kế hoạch rộng lớn để mở rộng các Metro Moscow. Mạng lưới Metro Moscow Ngoài ra còn có tuyến Monorail, tuyến này kết nối với ga tàu điện ngầm Timiryazevskaya và đường Sergeya Eisensteina, đi qua VVTs. 1.1.3.3. Xe buýt và xe điện chở khách Cũng giống như Metro các trạm bên ngoài trung tâm thành phố là xa nhau hơn so với các thành phố khác, lên đến 4 km, một mạng lưới xe buýt tỏa sâu rộng từ mỗi trạm xung quanh khu dân cư. Moscow cũng có một trạm xe buýt cho các phạm vi dài và xe buýt chở khách liên khu vực với doanh thu hàng ngày của khoảng 25.000 hành khách phục vụ khoảng 40% của nhiều xe buýt các tuyến đường dài ở Moscow. Tất cả các đường phố lớn trong thành phố được phục vụ bởi ít nhất một tuyến đường xe buýt. Nhiều tuyến đường này đang tăng gấp đôi bởi một tuyến xe điện chở hành khách. Ngoài ra mỗi đường phố lớn của Moscow có dây xe đẩy lên trên. Xe điện Moscow Moscow có một hệ thống xe điện rộng lớn, tuyến xe điện đầu tiên được mở vào năm 1899. Dòng mới nhất được xây dựng vào năm 1984. Sử dụng hàng ngày của nó ở Moscow là thấp, khoảng 5% các chuyến đi, bởi vì nhiều kết nối quan trọng trong mạng lưới đã được thu hồi. Xe điện vẫn còn quan trọng ở một số huyện như ăn đến trạm Metro. Các xe điện cũng cung cấp qua các liên kết quan trọng giữa các đường tàu điện ngầm, ví dụ giữa trạm Đại học của tuyến Sokolnicheskaya và trạm Profsoyuznaya của Kaluzhsko-Rizhskaya Line hoặc Voykovskaya-Schukinskaya. Có ba mạng lưới xe điện riêng biệt trong thành phố: Krasnopresnenskoye với điểm cực tây ở Strogino (vị trí kho) và điểm cực đông gần Dmitrovskaya nền tảng. Mạng này đã tách ra vào năm 1973, nhưng cho đến năm 1997 nó có thể dễ dàng được kết nối lại bằng khoảng một km đường ray và ba thiết bị chuyển mạch. Mạng lưới này được sử dụng cao nhất ở Moscow và không có điểm yếu dựa trên doanh thu trừ đến kho đường (dịch vụ hành khách bằng xe buýt) và vòng xe điện tại Dmitrovskaya. Kho dịch vụ Apakov phía tây nam một phần từ đại lộ làn Simferopolsky Varshavsky ở phía đông đến Đại học tàu điện ngầm ở phía tây và đường đại lộ ở trung tâm. Mạng này được kết nối chỉ bằng cách-4 Dubininskaya và đường Kogevnicheskaaya. Kết nối thứ hai của đường phố Vostochnaya đã bị rút vào năm 1987 do hỏa hoạn tại nhà máy Dinamo và chưa được phục hồi, vẫn còn bị mất vào năm 1992. Các mạng có thể được phục vụ bởi một kho khác (nay là đường 35, 38). Ba mạng lưới kho chính với cửa khẩu đường sắt và nhà máy sửa chữa xe điện Ngoài ra, những người ủng hộ cho rằng xe điện nhanh chóng các dịch vụ quá cảnh mới sẽ có hiệu quả hơn là các đường xe điện ở cấp và các vấn đề hiện tại với xe điện chỉ do quản lý kém và hoạt động, không phải tính kỹ thuật của xe điện. Mô hình xe điện mới đã được phát triển cho mạng Moscow bất chấp sự thiếu mở rộng. Đường bộ Hiện tại có hơn 2,6 triệu xe lưu thông trong thành phố hang ngày. Những năm gần đây sự tăng trưởng về số lượng xe ô tô đã gây nên tình trạng ùn tắc giao thông và thiếu chỗ đậu xe, đây là vấn đề lớn đặt ra cho các nhà lãnh đạo và chính quyền thành phố Moscow. Các đường vành đai, cùng với đường vành đai thứ ba và thứ tư trong thời gian tới sẽ là một trong ba đường cao tốc chạy trong khu vực thành phố Moscow. Tuy nhiên, chúng ta có thể quan sát từ bản đồ thành phố có một số hệ thống đường khác tạo thành vành đai hướng tâm xung quanh thành phố. Đường vành đai bao quanh thành phố Moscow Quy hoạch hệ thống giao thông Thành phố Hồ Chí Minh ( áp dụng kinh nghiệm quy hoạch hệ thống giao thông của thành phố Moscow) 2.1. Hiện trạng giao thông - Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí trung tâm Nam Bộ, với diện tích 2.095 km2, dân số 7.200.000 người ( năm 2009). - Với số lượng phương tiện cơ giới đường bộ là 4.480.255 phương tiện, trong đó có 408.688 xe ô tô và 4.071.567 xe mô tô, gắn máy. - Cơ sở hạ tầng giao thông bao gồm : + 3.800 tuyến đường với tổng chiều dài khoảng 3.670 km. + Diện tích bến bãi đậu xe: khoảng 0,1% diện tích nội đô => chưa đạt 10% so với yêu cầu. + Đường bộ hiện nay gần như là phương thức duy nhất giải quyết nhu vầu giao thông vận tải của đô thị. - Tình hình đi lại: + Tốc độ đi lại của xe hai bánh vào giờ cao điểm khoảng 10km/h. + Tốc độ đi lại của các loại xe ô tô trên các trục giao thông chính vào giờ cao điểm khoảng 8km/h. + Tình hình ùn tắc giao thông ngày càng trầm trọng. - Hệ thống giao thông: + Mật độ đường giao thông thấp + Thiếu các đường vành đai + Chưa có đường cao tốc + Cảng biển vẫn nằm trong nội đô + Thiếu liên kết giữa các loại hình giao thông + Chưa có giao thông vạn tải chuyên chở khối lượng lớn - Phát triển đô thị: + Sự mở rộng đô thị diễn ra nhanh không kiểm soát được + Hệ thống hạ tầng kĩ thuật của thành phố bị quá tải, không đáp ứng được + Dân số tăng nhanh + Hệ thống hạ tầng văn hóa xã hội tập trung cao ở các khu vực trung tâm - Cấu trúc đô thị: + Công tác dự bao chưa chính xác + Vị trí các khu công nghiệp nằm đan xen trong khu dân cư, tập trung dày tại khu vực giáp ranh thành phố + Khu dân cư phát triển tự phát xung quanh các khu công nghiệp và đường giao thông + Liên hệ hợp tác giữa các vùng còn thiếu - Mạng lưới giao thông: + Cảng biển đa số tập trung ở trung tâm thành phố, tạo nên áp lực lớn lên hệ thống đường bộ xuyên tâm. + Hệ thống giao thông đường bộ thiếu và đơn giản + Tổ chức hệ thống xe buýt chưa đáp ứng được nhu cầu + Tốc độ phát triển hệ thống hạ tầng kĩ thuật không theo kịp được tốc độ phát triển của của dân số và phương tiện giao thông. 2.2. Giải pháp quy hoạch giao thông Mạng lưới đô thị vệ tinh - Phát triển đô thị vệ tinh: Mô hình phát triển Tp. HCM sẽ theo hình thức tập trung – đa cực. Vùng trung tâm ( bán kính 30km) bao gồm: đô thị hạt nhân Tp. HCM, các đô thị vệ tinh cách đô thị hạt nhân 30km là Tp. Biên Hòa và Tp. Thủ Dầu Một, các đô thị vệ tinh phụ thuộc là đô thị mới Nhoen Trạch, Tam Phước, Hiệp Phước, Củ Chi, Đức Hòa, Long Thành, Trảng Bom, An Lạc, Nhà Bè, Cần Giờ, Dĩ An- Thuận An cùng các đô thị vùng phụ cận là các đô thị loại III, IV ở phía ngoài vành đai 3. Nâng cấp và cải tạo 06 tuyến quốc lộ hướng tâm tuyến 1, tuyến 2, tuyến 3, tuyến 4, tuyến 5, tuyến 6. Xây dựng và mở rông 02 trục xuyên tâm . Xây dựng mới 07 tuyến đường cao tốc: T1 …T7. Xây dựng hoàn hỉnh 03 đường vành đai số 2, 3, 4. Cải tạo và mở rộng tuyến trục chính đô thị. Xây dựng các nút giao thông khác cốt: hạ tầng giao thông của Tp. Hồ Chí Minh chủ yếu là giao cắt cùng mức, và sử dụng đèn tín hiệu để điều chỉnh giao thông mà không có hệ thống giao thông khác mức, điều này dẫn tới tính trạng tắc ngẵn giao thông vào giờ cao điểm. Triển khai xây dựng hệ thống đường trên cao. Các dự án xây dựng đường trên cao tại Tp. Hồ Chí Minh gồm : Tuyến số 1 ( đường Công Hòa- Bùi Thị Xuân- kênh Nhiêu Lộc- Thị Nghè và tiếp đất tại đường Nguyễn Hữu Cảnh), Tuyến số 2 ( kênh Nhiêu Lộc- vành đai 2), tuyến số 3 ( điểm giao với tuyến số 2- Lê Hồng Phong- Lý Thái Tổ- Nguyễn Văn Cừ- Nguyễn Văn Linh), tuyến số 4 ( nút giao thông Bình Phước- Vườn Lài- Nguyễn Xí – Đinh Bộ Lĩnh- Điện Biên Phủ). Tuyến đường trên cao Xây dựng thêm 03 tuyến tàu điện ngầm, xây dựng tuyến đường săt đô thị số 1 ( Bến Thành- Suối Tiên ), dự án tuyến xe điện mặt đất Sài gòn- Chợ Lớn- Bến xe Miền Tây dài 12km ( bắt đầu từ công viên bến Bạch Đằng tới ga bến xe Miền Tây). Khai thác tầng ngầm làm bãi đậu xe nhằm giải quyết vấn đề thiếu nơi đậu xe. Mạng lưới đường sắt đô thị - Mạng lưới đường sắt đô thị bao phủ phần trung tâm: + 06 tuyến Metro + 03 tuyến đường sắt Tramway hoặc monorial + Mạng lưới đường sắt quốc gia và hệ thống ga trong vùng sẽ giảm tải giao thông hiện tại. - Cảng biển: + Tập trung di dời các cảng trên sông Sài Gòn ra khu công nghiệp Hiệp Phước, phát triển hệ thống cảng Cát Lái và Hiệp Phước. + Cải tạo luồng tàu và lắp đặt hệ thống điều khiển giao thông hang hải tiếp nhận tàu có trọng tải lớn tại cảng tổng hợp mới ở hiệp phước. + Cải tạo và nâng cấp tuyến luồng tàu sông đi liên tỉnh Đồng Nai- Bà Rịa- Vũng Tàu. Hệ thống cảng hang không : + Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất đến năm 2020 sẽ trở thành điểm trung chuyển hàng không của khu vực và thế giới. + Đang thực hiện đầu tư xây dựng cảng hang không quốc tế Long Thành và sân bay Bà Rịa – Vũng tàu. Cảng hàng không Kết luận Hệ thống giao thông đường bộ tại Tp. Hồ Chí Minh gặp phải nhiều vấn đề bất cập. Quá trình đô thị hóa diễn ra quá nhanh làm cho hệ thống giao thông không phát triển theo kịp sự phát triển của quá trình gia tăng dân số và các phương tiện cơ giới. Trong thời gian tới, hy vọng các dự án đang và sắp thực hiện sẽ đem lại diện mạo hoàn toàn mới cho đô thị.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docquy_hoach_giao_thong_5292.doc
Tài liệu liên quan