Tiểu luận Khái quát chung về quá trình Dollar hóa, thực trạng dollar hóa trong nền kinh tế Việt Nam và một số giải pháp

MỤC LỤC

Lời mở đầu 1

Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐÔ LA HÓA 3

1.1 Khái niệm 3

1.2. Phân loại đô la hóa 3

1.2.1 Đô la hoá không chính thức 3

1.2.2 Đô la hoá bán chính thức 3

1.2.3 Đô la hoá chính thức 3

1.3. Nguồn gốc của đô la hoá 4

1.4. Những tác động của đô la hoá 7

Ch­¬ng 2 : Thùc Tr¹ng T×nh H×nh ‘§«la Hãa’ ë ViÖt Nam 10

2.1 Ảnh hưởng tích cực của tình trạng ‘Đôla hóa’ đến thị trường Việt Nam. 10

2.1.1 Giai đoạn trước khi gia nhập WTO (1985-2007) 10

2.1.2 Giai đoạn kể từ sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại Quốc Tế WTO đến nay (2007-2009) 11

2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của tình trạng ‘Đôla hóa’ tại Việt Nam 13

2.2.1Việc sử dụng quá mức đồng Đô gây hiện tượng mất cân xứng giữa cung và cầu tiền(đặc biệt là cầu ngoại tệ). 13

2.2.2 Cũng từ việc ‘Đôla hóa’ quá mức như ở Việt Nam hiện nay làm thua lỗ cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp,hay dễ nhận thấy nhất là việc cho vay vốn từ các Ngân hàng. 14

2.2.3Khi tình trạng ‘Đôla hóa’ quá cao (ở Việt Nam trong vài năm gần đây) sẽ như một con dao hai lưỡi: 15

2.2.4 ‘Đôla hóa’ sẽ làm mất chủ quyền về tiền tệ 16

2.2.5 ‘Đôla hóa’ cũng làm cho thị trường ngoại hối Việt Nam hoạt động kém hiệu quả 17

 

 

 

Ch­¬ng 3 : Nh÷ng Gi¶i Ph¸p Chèng ‘§«la Hãa’ ë ViÖt Nam 20

3.1. Nguyên nhân tình trạng dollar hóa ở Việt Nam 20

3.2.Một số giải pháp giải quyết tình trạng dollar hóa ở Việt Nam 21

3.2.1 Tạo môi trường đầu tư trong nước có khả năng hấp thụ được số vốn ngoại tệ hiện có trong dân bằng nhiều biện pháp. 21

3.2.2 Những giải pháp trong lĩnh vực tiền tệ. 22

3.2.3 Cần có các quy định về việc sử dụng ngoại tệ của cá nhân. 23

3.2.4 Chính Phủ và Ngân Hàng Trung ương phải có những biện pháp quản lí ngoại hối thích hợp. 25

3.2.5 Chống Đôla Hóa bằng việc chống tham nhũng trong bộ máy quản lí Nhà Nước. 26

Kết luận 29

Tài liệu tham khảo 32

Phụ lục : Danh sách nhóm . 33

 

doc35 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 03/07/2013 | Lượt xem: 1127 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Khái quát chung về quá trình Dollar hóa, thực trạng dollar hóa trong nền kinh tế Việt Nam và một số giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng kỳ năm trước. Riêng trong tháng 11, đã có 36 lượt dự án tăng vốn, nâng tổng số lượt dự án tăng vốn đầu tư trong 11 tháng lên 439 dự án, với tổng vốn đầu tư tăng là 1,68 tỷ USD.Trong tháng 11, cả nước cũng có thêm 43 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép với tổng vốn đăng ký 623,7 triệu USD. Theo đánh giá của Cục Đầu tư, chất lượng các dự án mới và tăng vốn trong 11 tháng qua có chuyển biến tích cực, đã thu hút được một số dự án quy mô lớn, quan trọng, sử dụng công nghệ tiên tiến như dự án điện thoại di động CDMA, dự án sản xuất phụ. ● Đồng Đôla là nhân tố chính giúp chính phủ và Ngân hàng Trung Ương tăng nguồn cung ngoại tệ - nguồn lực quan trọng giúp VN giải quyết được phần lớn các nhu cầu về vốn, xây dựng cơ sở hạ tầng.Có một thực tế là kể từ 1986 đến nguồn cung ngoại tệ vẫn không thể đủ đáp ứng được nhu cầu từ nhiều đối tác.Các ngân hàng không có Đola đẻ bán cà nếu có thì giá cao hơn mức trần do NHNN qui định.Doanh nghiệp muốn mua được ngoại tệ thì phải có kế hoạch từ trước mua đồng EURO rồi lại chuyển về đồng Đôla (USD).Từ đó có thể thấy rằng đồng USD đang có một vai trò vĩ mô trong việc bôi trơn các hoạt động thanh khoản cho các doanh nghiệp,điều tiết thị trường mới nổi như ở Việt Nam ,giữ vững được mức cân bằng giữa cung và cầu. ● “Đô-la hoá” có thể là yếu tố thu hút khách du lịch, kiều hối, tạo thuận lợi cho việc mua bán, trao đổi bằng ngoại tệ.Việc đồng Đô có mặt trong hầu hết mọi hoạt động thanh toán của thị trường,và đặc biệt kể từ khi lượng người Việt kiều quan tâm đến thị trường mở ở Việt nam (sau 1990 FDI không chính thức từ những doanh nhân Việt kiều tăng lên chóng mặt).Có thể thấy rõ được vai trò của USD sẽ là một chiếc đòn bẩy cung cấp vốn cho các nhà đầu tư,cũng như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam . 2.1.2 Giai đoạn kể từ sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại Quốc Tế WTO đến nay (2007-2009) Có thể nhận thấy rõ sau 2 năm gia nhập WTO nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển mình to lớn dưới ‘luồng chảy’ của đồng Đôla.Với tác động mạnh mẽ của mình trên toàn thế giới,USD đã giúp Việt Nam hòa nhập nhanh hơn vào sân chơi kinh tế rông lớn này.Số liệu từ tổng cục thống kê và BBộ công thương cho thấy :Hoạt động Xuất nhập khẩu tăng nhanh.Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu so với GDP thuộc loại cao so với thế giới:Thế giới bình quân tỷ lệ kim ngạch xuất khảu so với GDP là 22%.Còn ở Việt Nam 2006 là 64.9%,năm 2007 là 68.2%.Tốc độ xuất khẩu bình quân 2006 là 22.1%,năm 2007 là 21.9%. Ngoài những mặt tích cực nêu trên thì ‘Đôla hóa’ nền kinh tế Việt nam cũng góp phần làm tăng sự phát triển của một trong những ngành mang lại nhiều lợi nhất cho chúng ta-Du Lịch:Do được chấp nhận thanh toán bằng USD dưới nhiều hình thức kể cả Sec thì lượng du khách vào Việt Nam tăng khá nhanh nếu 1998 lượng du khách quốc tế tới Việ Nam là 1,520 triệu người thì năm 2006 là 3,583 triệu,năm 2007 là 4,22 triệu người. ►Tóm lại ‘Đôla hóa’ tại Việt Nam có thể đem đến những ích lợi sau đây: - Tạo một cái van giảm áp lực đối với nền kinh tế trong những thời kỳ lạm phát cao, bị mất cân đối và các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định. Do có một lượng lớn đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ chống lại lạm phát và là phương tiện để mua hàng hoá ở thị trường phi chính thức. Ở các nước đô la hoá chính thức, bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, họ sẽ duy trì được tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài sản tư nhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn. Hơn nữa, ở những nước này ngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ra lạm phát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ vào nguồn phát hành này để trang trải thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt chặt. Do vậy, các chương trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn. - Tăng cường khả năng cho vay của ngân hàng và khả năng hội nhập quốc tế. Với một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tại ngân hàng, các ngân hàng sẽ có điều kiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việc phải vay nợ nước ngoài, và tăng cường khả năng kiểm soát của ngân hàng trung ương đối với luồng ngoại tệ. Đồng thời, các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động đối ngoại, thúc đẩy quá trình hội nhập của thị trường trong nước với thị trường quốc tế. - Hạ thấp chi phí giao dịch. Ở những nước đô la hoá chính thức, các chi phí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiền khác được xoá bỏ. Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết, các ngân hàng có thể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí kinh doanh. - Thúc đẩy thương mại và đầu tư. Các nước thực hiện đô la hoá chính thức có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ, khuyến khích tự do thương mại và đầu tư quốc tế. Các nền kinh tế đô la hoá có thể được, chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách tiảm xuống và thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư. - Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phí chính thức. Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ để chuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị trường chính thức (thị trường hợp pháp). 2.2 Ảnh hưởng tiêu cực của tình trạng ‘Đôla hóa’ tại Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề nào cũng có hai mặt, không thể phủ nhận mặt tích cực của “đô-la hoá” trong nền kinh tế VN. Như đã nói ở trên một trong số đó là giúp thu hút đầu tư nước ngoài, tăng nguồn cung ngoại tệ - nguồn lực quan trọng giúp VN giải quyết được phần lớn các nhu cầu về vốn, xây dựng cơ sở hạ tầng. “Đô-la hoá” có thể là yếu tố thu hút khách du lịch, kiều hối, tạo thuận lợi cho việc mua bán, trao đổi bằng ngoại tệ...Bên cạnh những mặt tích cực mà đồng đô la mang lại thì lại dấy lên những nỗi lo lắng mà hiện tượng này giáng xuống nên kinh tế nước ta. Các chuyên gia kinh tế mới đây lên tiếng báo động về tình trạng "đô la hóa" tại Việt Nam và lưu ý chính phủ về tác động của tình trạng này đối với nền kinh tế. 2.2.1Việc sử dụng quá mức đồng Đô gây hiện tượng mất cân xứng giữa cung và cầu tiền(đặc biệt là cầu ngoại tệ). Giữa lúc cơn bão kinh tế chưa lắng, Việt Nam được cảnh báo là mức độ "đô la hóa" không chính thức ngày càng cao. Theo nhiều nhà kinh tế, hiện tượng đồng USD được lưu hành nhiều hơn tiền đồng Việt Nam (VND) ngày càng trở nên phổ biến hơn ở Việt Nam. Doanh nghiệp đã sử dụng USD nhiều hơn so với thời gian trước đây. Thậm chí, giao dịch bán lẻ cũng ngả theo xu hướng này. Nhiều  người dân tích trữ, gửi USD tại ngân hàng thay vì VND. Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy lượng ngoại tệ mà các tập đoàn kinh tế ký gửi đã tăng liên tiếp trong 4 tháng đầu năm nay, và số ngoại tệ ký gửi của cả nước tăng khoảng 3,35%.Tình trạng đô la hóa khiến lượng đô la được lưu hành không chính thức ở Việt Nam ngày càng tăng, nhưng cung vẫn chưa đủ cầu. Báo chí cho hay có những người phải chờ một tuần hay lâu hơn nữa mới có thể mua được số ngoại tệ cần thiết. Theo dự báo của giới đầu cơ, nguồn cung đô la sẽ giảm mạnh trong thời gian tới. Ngân hàng Trung ương vừa loan báo sẽ bán ngoại tệ nhằm ổn định thị trường.Theo hãng Reuters, giới hữu trách Việt Nam sẽ để cho tỷ giá hối đoái của VND giảm nhiều hơn trong nửa cuối năm nay để hỗ trợ xuất khẩu và góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt đô la trong nước. Theo báo cáo của Ngân hàng ANZ về tình hình tiền tệ Việt Nam trong tháng 5, nhu cầu đô la của các công ty nhập khẩu và những người mua bán vàng đã tăng mạnh trên thị trường không chính thức, khiến giá USD lên tới 18.250 VND, cao hơn nhiều so với tỷ giá chính thức là 17.780 VND. Bên cạnh đó, giới hữu trách Việt Nam có chủ trương trên nhằm giải quyết tình trạng mất cân bằng về cung-cầu USD trong nước.Ở Việt Nam, theo thống kê, tỷ lệ đô la hóa luôn ở mức trên 20% trong khi tỷ lệ này ở các nước trong khu vực thấp hơn rất nhiều, như: Indonesia, Thái Lan, Malaysia...chỉ khoảng 7-10%. Mục tiêu của Ngân hàng nhà nước Việt Nam tới năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ này xuống còn 15%. . 2.2.2 Cũng từ việc ‘Đôla hóa’ quá mức như ở Việt Nam hiện nay làm thua lỗ cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp,hay dễ nhận thấy nhất là việc cho vay vốn từ các Ngân hàng. Những năm qua, lượng tiền gửi tuyệt đối bằng USD tại các ngân hàng đã không ngừng tăng lên, đặc biệt là ở hệ thống ngân hàng tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Với nguồn vốn ngoại tệ đồ sộ đó, các ngân hàng thường có 2 cách lựa chọn: một là đem gửi ở ngân hàng nước ngoài_những nước có lãi suất tiết kiệm bằng đồng USD cao hơn trong nước để kiếm lời bằng chênh lệch lãi suất hoặc thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ quốc tế; hai là đầu tư và cho các doanh nghiệp trong nước vay. Cách thứ nhất buộc các ngân hàng phải có một lượng USD tương đối lớn, song, hiệu quả kinh tế không cao, lại luôn tiềm tàng nhiều rủi ro do giá USD trên thị trường thế giới luôn biến đổi thất thường. Điển hình là việc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã từng có giai đoạn bị thua lỗ hàng chục triệu USD do kinh doanh ngoại tệ. Chính vì vậy mà các ngân hàng thường thực hiện theo cách thứ 2: đầu tư cho vay trong nước, và chính điều này đã làm gia tăng các giao dịch, thanh toán bằng USD trên nhiều loại thị trường. Điều này không những đẩy nhanh quá trình đô la hóa mà còn mang lại nhiều rủi ro cho doanh nghiệp vay vốn bằng USD: họ kinh doanh bằng VNĐ nhưng phải trả nợ ngân hàng bằng USD và nghiễm nhiên sẽ phải gánh chịu rủi ro về tỷ giá, 2.2.3Khi tình trạng ‘Đôla hóa’ quá cao (ở Việt Nam trong vài năm gần đây) sẽ như một con dao hai lưỡi: Đôla hóa có thể bôi trơn quá trình thanh toán nhưng cũng có thể gây ra những rủi ro về việc ‘Niêm yết giá trong nhiều ngành.Một lĩnh vực đô la hóa tương đối mạnh đó là bán hàng qua mạng, kinh doanh các sản phẩm nhập khẩu, nhất là đồ điện tử. Ta có thể thấy bằng trực giác việc niêm yết giá bằng cả VNĐ lẫn USD ở hầu như 100% các trang web bán đồ điện tử như: máy vi tính, các thiết bị gia dụng nhập ngoại v.v... Mặc dù hai loại giá được đặt song song nhưng việc thanh toán thực tế thì luôn được thực hiện bằng USD, nếu khách hàng thanh toán bằng VNĐ thì giá của hàng hóa sẽ dựa trên tỷ giá hối đoái giữa VN  và USD ngày hôm thực hiện giao dịch. Những hàng hóa này thường là những hàng hóa mà doanh nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu toàn bộ hoặc nhập khẩu từng liên kiện, nên giá của chúng phụ thuộc hoàn toàn vào USD, do vậy, các doanh nghiệp, để tránh rủi ro tỷ giá cho mình, buộc phải niêm yết giá bằng USD. Ngoài ra, doanh nghiệp niêm yết giá bằng USD còn để tăng tính "hiện đại", "thương mại điện tử". Điều này rất đáng lo ngại vì kinh doanh qua mạng sẽ trở thành loại hình kinh doanh chủ yếu trong tương lai.Thời gian gần đây, khi đi mua ô tô, mua các dòng xe nhập khẩu, thậm chí mua máy in ở siêu thị, mua hàng điện tử, điện lạnh ở phố Huế (Hà Nội)… người bán hàng đã yêu cầu khách hàng thanh toán bằng đô la Mỹ (USD). Thực tế này được các chuyên gia tài chính gọi là nền kinh tế đô la hóa ở mức cao. Trong những thời điểm cung cầu ngoại tệ trên thị trường mất cân bằng như một vài thời điểm trong thời gian vừa qua, tình trạng đô la hoá cũng gây thêm khó khăn cho việc ổn định trở lại của thị trường ngoại tệ. Bởi đô la hoá làm tăng hiện tượng đầu cơ, bóp méo cung cầu ngoại tệ. → Thậm chí, đô la hoá đã làm giảm nhu cầu phát triển các công cụ phòng ngừa rủi ro trên thị trường ngoại hối, không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển thị trường ngoại hối, mà các doanh nghiệp cũng đối mặt với nguy cơ thiệt hại lớn do không có công cụ phòng ngừa rủi ro khi USD biến động bất thường. Ngoài ra, việc niêm yết giá bằng ngoại tệ cũng khiến cho người dân bị thiệt khi thanh toán tiền mua hàng hoá do các cửa hàng áp dụng tỷ giá không thống nhất. ►Phân tích 3 ảnh hưởng xấu trên:  Một thực tế là hiện nay đồng USD được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta. Tâm lý của người dân thích tích trữ tiền bằng ngoại tê, gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ bắt nguồn từ những cú sốc về tiền tệ trong khoảng 20 năm qua. Đồng tiền Việt Nam đãcó những đợt giảm giá rất mạnh vào những năm 1985 và những năm 1997-1998, khiến cho những người giữ tiền bị thiệt hại lớn. Hiện tượng lạm phát trong những năm cuối thập niên 80 và đầuthập niên 90 của thế kỷ trước cũng làm đồngnội tệ bị mất đi niềm tin của cả người sản xuất vàtiêu dùng. Tâm lý đó tạo thói quen mua bán, tích trữ bằng USD trở nên phổ biến. Đồng USD dần chiếm vị trí đáng kể trong các phương tiện thanh toán và tình trạng đôla hoá trở nên trầm trọng hơn. Hiện nay, ngoại tệ đổ vào nước ta theo rất nhiều nguồn: kiều hối, chi tiêu của người nước ngoài tại Việt Nam, thu nhập của người Việt Nam từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đầutư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và thông qua xuất, nhập khẩu… Kinh tế đấtnước càng phát triển , hội nhập kinh tế càng sâu rộng thì nguồn ngoại tệ càng dồi dào. Chỉ riêng số vốn FDI thu hút đượctrong năm 2007 đãlên đếnhơn 20 tỷ USD, vượt chỉ tiêu đặt ra từ 6-7 tỷ USD. Lượng kiều hối chuyển về nước cũng tăng đángkể, theo Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài, năm 2007 Việt kiều đãchuyển về nước hơn 5 tỷ USD tăng 1 tỷ USD so với năm 2006. Tuy nhiên theo ước tính của các chuyên gia kinh tế, nếu tính cả các kênh không chính thức, thì nguồn kiều hối năm 2007 có thể lên đến10 tỷ USD. Nguồn cung ngoại tệ dồi dào cũng là một trong những nguy cơ của tình trạng đôla hoá nếu không được xử lý hài hòa với đồng tiền Việt Nam. 2.2.4 ‘Đôla hóa’ sẽ làm mất chủ quyền về tiền tệ Ngược với cảnh đồng USD trồi sụt trên thị trường thế giới, sự hấp dẫn quá mức của đồng USD tại thị trường Việt Nam (VN), đặc biệt là ở thị trường tự do đang cảnh báo nguy cơ “đô-la hóa”. Tại sao người dân VN thích sử dụng USD trong thanh toán và cất giữ? Muốn lý giải được, phải đi ngược về 20 năm trước. Những cú sốc về tiền tệ khiến người dân có cảm giác quá rủi ro khi cất giữ VND. Cộng vào đó là những thời kỳ lạm phát phi mã, làm VND càng thêm mất giá nhanh. Hơn nữa, chỉ số VND/USD đang ngày càng tăng khiến mọi người thêm ngần ngại trong việc chuyển từ ngoại tệ sang VND. Người ta thích dùng USD không chỉ vì tính ổn định mà còn vì sự gọn nhẹ và tiện dụng của nó. Không chỉ có người dân ưa chuộng USD, ngay cả các ngân hàng thương mại cũng có hiện tượng này. Nhiều ngân hàng có dấu hiệu nghịch lý về đồng USD, biểu hiện qua hiện tượng “thiếu tiền, thừa vốn”. USD thừa nhưng thiếu trầm trọng euro, NDT, yên - đồng tiền của các đối tác thương mại đang chiếm tỉ trọng lớn trong cán cân xuất nhập khẩu của VN. Trong khi đó, nguồn ngoại tệ ở VN không ngừng tăng nhanh, đặc biệt là USD vì trong quá trình phát triển, ngoại tệ từ kiều hối, đầu tư từ nước ngoài, viện trợ, thu từ xuất khẩu... không ngừng ồ ạt đổ về, buộc VN phải đứng trước tình trạng “đô-la hóa” ngày càng trầm trọng. Tất nhiên, chẳng có quốc gia nào lại muốn có đồng tiền thứ hai cũng được dùng như đồng nội tệ của mình. Vì thế, Ngân hàng Nhà nước VN đã đặt ra mục tiêu, đến năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ “đô-la hoá” xuống dưới 15%. Hơn nữa, các chính phủ đều không muốn có tình trạng “đô-la hoá” trong nền tài chính tiền tệ vì không muốn đánh mất ưu quyền tiền tệ. 2.2.5 ‘Đôla hóa’ cũng làm cho thị trường ngoại hối Việt Nam hoạt động kém hiệu quả Các quan hệ vay - trả bằng ngoại tệ sẽ lấn át các quan hệ mua bán ngoại tệ. “Đô-la hoá” làm giảm khả năng chuyển đổi của đồng nội tệ, tạo điều kiện cho buôn lậu phát triển, ảnh hưởng tiêu cực tới sản xuất trong nước. Nhà nước không những thất thu về thuế mà còn mất cả nguồn thu từ việc phát hành đồng nội tệ. Về dài hạn, “đô-la hoá” có những tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế bền vững do nó làm giảm chất lượng hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ, giảm hiệu quả của chính sách tỷ giá, tạo ra nguy cơ mất an toàn hệ thống ngân hàng. Một nền kinh tế bị “đô-la hoá” cao càng dễ bị tổn thương và nhạy cảm hơn với những thay đổi liên quan đến đồng ngoại tệ phụ thuộc trên thế giới, cũng như các cú sốc kinh tế như sự dao động của giá dầu, thép… ngành xuất khẩu sẽ chịu tác động trực tiếp trước tiên. Chẳng hạn, giá cà phê giảm mạnh, xuất khẩu cũng giảm, kéo theo nền kinh tế phát triển chậm lại. ►Tóm lại tình trạng ‘Đôla hóa’ quá mức như ở Việt Nam hiện nay đã gây ra cho chúng ta khá nhiều điều bất lợi: - Ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô. Trong một nền kinh tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn, việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ sẽ bị mất tính độc lập mà chịu nhiều ảnh hưởng bởi diễn biến kinh tế quốc tế, nhất là khi xẩy ra các cuộc khủng hoảng kinh tế. - Làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ : • Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán, do đó dẫn đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu thong kém chính xác và kịp thời. • Làm cho đồng nội tệ nhậy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do đó những cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế thông qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả. • Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá. Đô la hoá có thể thực thi chính sách tỷ giá. Đô la hoá có thể làm cho cầu tiền trong nước không ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đô la Mỹ, làm cho cầu của đồng đô la Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá. Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền, thì quốc gia bị đô la hoá sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu thông qua việc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái. • Ở trong các nước đô la hoá không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn định. Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát. Khi người dân giữ một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác (hoạt động đầu cơ tỷ giá). Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng. Trường hợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến động làm cho người dân đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ này đã được ngân hàng cho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn, khi đó ngân hàng nhà nước của nước bị đô la hoá cũng không thể hỗ trợ được vì không có chức năng phát hành đô la Mỹ. - Chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước Mỹ. Trong trường hợp đô la hoá chính thức, chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất của đồng tiền khi đó sẽ do nước Mỹ quyết định. Trong khi các nước đang phát triển và một nước phát triển như Mỹ không có chu kỳ tăng trưởng kinh tế giống nhau, sự khác biệt về chu kỳ tăng trưởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế khác nhau đòi hỏi phải có những chính sách tiền tệ khác nhau. - Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng của các ngân hàng. Trong các nước đang phát triển chưa bị đô la hoá hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, song công chúng vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại các ngân hàng. Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với các khoản tiền này. Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chứ không thể áp dụng được đối với đô la Mỹ. Đối với vác nước đô la hoá hoàn toàn, khu vực ngân hàng sẽ trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng thương mại bị phá sản và sẽ phải đóng cửa khi chức năng người cho vay cuối cùng của ngân hàng trung ương đã bị mất. Kết Luận: Như vậy, việc sử dụng đồng đô la như thế nào cho có hiệu quả là một vấn đề vô cùng phức tạp. Mặc dù những cách ngân hàng đã sử dụng đồng đô la cũng có một mặt tích cực nào đấy, nhưng cần phải có cách lựa chọn đúng đắn hơn là thực hiện những giải pháp kiềm chế và đẩy lùi tình trạng đô la hoá, tiến tới thực hiện trong nước chỉ có một đồng tiền duy nhất được lưu hành là đồng tiền Việt Nam. Trong thực tế, chúng ta thấy rõ một số nền kinh tế thành công không bị đô la hoá, như tại Trung Quốc, các ngân hàng không được phép quyết định lãi suất tiền gửi bằng đô la.Thông thường đô la hoá diễn ra khi đồng tiền của một nước bị đánh giá là yếu kém, và đồng đô la được coi là phương tiện dự trữ có giá trị. Tuy nhiên, không phải bất cứ quốc gia nào có đồng tiền yếu đều bị đô la hoá trực tiếp. Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế tương tự Việt Nam như ở Trung Quốc, Thái Lan, Braxin... không cho phép thanh toán các loại hàng hoá dễ dàng bằng đồng đô la. Chính việc cho phép sử dụng gần như hợp pháp hoá đồng USD tại Việt Nam để mua các loại hàng hoá như bất động sản, mặt hàng điện tử, xe cộ, phí khách sạn... đã làm tăng quá trình đô la hoá. Như trên đã phân tích, nếu tình hình không sớm được kiềm chế và đẩy lùi, có khả năng sẽ dẫn đến tình trạng khủng hoảng tài chính vào một thời điểm nào đấy, thật là vô cùng nguy hiểm. Ch­¬ng 3 : Nh÷ng Gi¶i Ph¸p Chèng ‘§«la Hãa’ ë ViÖt Nam 3.1. Nguyên nhân tình trạng dollar hóa ở Việt Nam Từ thực trạng của hiện tượng ‘Đôla Hóa’ tại Việt Nam trong những năm gần đây (tỷ lệ đôla trên 20%) ta có thể rút ra vài nguyên nhân của hiện tượng kinh tế trên như sau: ●Nguyên nhân mang tính lịch sử, đó là sự mất lòng tin vào đồng nội tệ của người dân do những cuộc khủng hoảng tiền tệ sau năm 1985 và những năm 1997-1998. Thêm vào đó là hiện tượng lạm phát phi mã trong những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 càng làm làm cho đồng nội tệ mất giá nhanh và tạo cho những người giữ tiền cảm thấy quá rủi ro khi giữ một khối lượng đồng nội tệ lớn. Hơn thế nữa, sau một thời gian ổn định, chỉ số giá đang ngày càng gia tăng khiến mọi người thêm ngần ngại hơn trong việc chuyển từ ngoại tệ sang VNĐ. Người ta thích dùng USĐ không chỉ vì tính ổn định mà còn vì sự gọn nhẹ và tiện dụng của nó. ●Một nguyên nhân khác đó là nguồn ngoại tệ tiền mặt ở nước ta không ngừng tăng nhanh, đặc biệt là USĐ bởi vì nước ta có rất nhiều kênh để huy động ngoại tệ: Nguồn kiêu hối ngày càng có xu hường tăng mạnh với mức tăng bình quân 10%/năm và tới năm 2010 dự tính sẽ lên tới 5 tỷ USD Lượng ngoại tệ chi tiêu ở Việt Nam của khách du lịch nước ngoài  cũng tăng nhanh cùng với lượng du khách đến Việt Nam. Tiền lương và thu nhập của người Việt Nam làm việc trong các dự án liên doanh, dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài, dự án quốc tế, cơ quan nước ngoài tại Việt Nam... được trả bằng ngoại tệ. Số lượng người nước ngoài đến Việt Nam làm việc, sinh sống, làm ăn, học tập v.v... ngày càng gia tăng, chi tiêu ngoại tệ tiền mặt rất lớn, nhất là tiền thuê nhà của các hộ gia đình người Việt Nam và chi trả các dịch vụ khác. Tiền viện trợ không hoàn lại, tiền của các tổ chức tài chính vi mô, tổ chức từ thiện quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài v.v... Bên cạnh đó là nguồn vốn tài trợ của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, Chính phủ các nước. Hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bao gồm cả đầu tư trực tiêp và đầu tư gián tiếp. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ngày một gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Ngoại tệ từ các hoạt động buôn lậu và một số nguồn ngoại tệ qua các hoạt động kinh tế ngầm khác mà chính phủ Việt Nam chưa thể quản lý. Do đóVới lượng tiền mặt ngoại tệ lớn như vậy đang ồ ạt đổ về, buộc Việt Nam phải đứng trước tình trạng đô la hóa nền kinh tế ngày càng trầm trọng. 3.2.Một số giải pháp giải quyết tình trạng dollar hóa ở Việt Nam Đô la hoá là tình trạng khó tránh khỏi đối với các nước có xuất phát điểm thấp, đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và đẩy mạnh hội nhập quốc tế như Việt Nam. Tâm lý lo ngại về lạm phát, về sự mất giá của đồng nội tệ, thói quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch... không thể một sớm, một chiều xoá bỏ hay giảm triệt để được.Do đó chúng em xin nêu ra một vài biện pháp sau nhằm xoá bỏ đô la hoá trong nền kinh tế - xã hội nước ta phải được thực hiện từng bước, từng khâu thích ứng với từng giai đoạn đổi mới, phát triển của đất nước; phải bằng nhiều giải pháp vừa kinh tế, vừa hành chính kết hợp với giáo dục pháp luật, điều chỉnh tâm lý xã hội trong lộ trình thực thi nhiều cơ chế kinh tế nghiệp vụ ngân hàng cụ thể nối tiếp nhau, để nâng vị thế của đồng tiền Việt Nam trong các chức năng thuộc tính của tiền tệ.Đôla hóa cũng là vấn đề mang tính hai mặt của nó,do đó để giữ được những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của đô la hoá, có thể thực hiện một số giải pháp sau đây: 3.2.1 Tạo môi trường đầu tư trong nước có khả năng hấp thụ được số vốn ngoại tệ hiện có trong dân bằng nhiều biện pháp. • Thúc đẩy phát triển môi trường kinh tế vĩ mô, tạo môi trường cạnh tranh thực sự giữa các thành phần kinh tế trong cả sản xuất, thương mại, dịch vụ và kể cả lĩnh vực tài chính, ngân hàng. • Mở rộng các dự án đầu tư của Chính phủ: dầu khí, cầu đường, điện lực... khuyến khích sự tham gia đầu tư của các thành phần kinh tế. • Phát triển các công cụ tài chính như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, đa dạng hoá các danh mục đầu tư trong nước. Thay cho dự kiến phát hành trái phiếu ngoạ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docKhái quát chung về quá trình Dollar hóa, thực trạng dollar hóa trong nền kinh tế Việt Nam và một số giải pháp.doc
Tài liệu liên quan