Tiểu luận Luận chứng vai trò của tri thức

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU

1. Khái niệm và cấu trúc của tri thức. 1

a) Khái niệm về tri thức 1

b) Cấu trúc của tri thức 2

2. Vai trò của tri thức trong hoạt động xã hội. Xã hội tri thức 4

a) Vai trò của tri thức trong hoạt động xã hội. 4

b) Xã hội tri thức 5

3. Vai trò của tri thức trong hoạt động kinh tế 6

4. Vai trò của tri thức đối với con người. Quản trị tri thức 9

a) Vai trò của tri thức đối với con người và sự hình thành trí thức. 9

b) Quản trị tri thức 10

KẾT LUẬN 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

 

 

doc14 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/08/2013 | Lượt xem: 11929 | Lượt tải: 49download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Luận chứng vai trò của tri thức, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rất lâu đời. Ở thời đại nào cũng thế và ở đâu cũng vậy, tri thức trở thành một “tài nguyên” không thể thiếu của con người, như Franxi Bêcon đã khẳng định: “Tri thức là sức mạnh”. Trong xã hội hiện đại, thuật ngữ “tri thức” lại càng được nhắc đến nhiều hơn. Chúng ta có nền kinh tế tri thức, xã hội tri thức, giáo dục tri thức rồi quản trị tri thức, công nghệ tri thức… Có thể nói rằng, hàng loạt lĩnh vực đã được tri thức hoá. Tri thức là công cụ, là điều kiện tiên quyết cho một xã hội văn minh, tiên tiến của loài người. Trong bối cảnh hiện tại, sự bùng nổ của công nghệ và khoa học mang lại một nguồn thông tin khổng lồ,đòi hỏi chúng ta phải biết chọn lọc, xử lý để biến nó thành tri thức cho riêng mình. Nhận thấy rõ sự cần thiết này, em đã lựa chọn đề tài “Luận chứng vai trò của tri thức”. Bài viết sử dụng các tư liệu có sẵn dựa trên hiểu biết của bản thân, vì thế còn nhiều sai sót. Rát mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy, cô và các bạn trong lớp. Em xin chân thành cảm ơn. Khái niệm và cấu trúc của tri thức. Khái niệm về tri thức Tri thức được hình thành nên từ những nhận thức, tư duy của con người về thế giớ khách quan, về thực tiễn của cuộc sống. Tuy khái niệm tri thức đã có từ lâu trong lịch sử loài người nhưng những nghiên cứu mang tính khoa học – tríêt học về tri thức chỉ thực sự bắt đầu từ phát biểu Platon – một triết gia Hy Lạp cổ đại sống vào khoảng 427-347 TCN. Theo ông, tri thức là cái có trước các sự vật cảm biết mà không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận biết các sự vật đó. Trên cơ sở lí luận nhận thức này, Platon phân loại tri thức thành tri thức hoàn toàn đúng đắn, tin cậy và tri thức mờ nhạt. Tuy nhận thức của ông còn hạn chế và khuynh hướng duy tâm xong nó cũng đã khẳng định được sự tồn tại và vai trò của tri thức. Những triết gia sau Platon đã tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu về khái niệm và bản chất của tri thức. Những người có quan điểm tiến bộ hơn như Immanuel Kant đã trình bày quan điểm của ông về tri thức một cách chính xác hơn. Lịch sử hình thành khái niệm “tri thức” đã trải qua một quá trình lâu dài nhưng đến nay vẫn còn là một đề tài đang được nghiên cứu và gây nhiều tranh luận. Xét trên phương tiện ngôn ngữ học, tri thức là một khái niệm rõ ràng, dễ hiểu: “Tri thức là những gì bạn đã đọc”. Còn xét trên phương diện triết học, tri thức mang nghĩa phổ quát hơn, dùng dể diễn tả nguồn gốc, sự phát triển và các mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng. Ta có thể định nghĩa: “Tri thức là kết quả của các quá trình nhận thức của con người về đối tượng dược nhận thức, làm tái hiện tư tưởng con người, những thuộc tính, những mối quan hệ, những quy luật vận động, phát triển của đối tượng và được diễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên hay hệ thống kí hiệu khác.” Như vậy, tri thức bao gồm tất cả những thông tin,số liệu, khả năng, sức sáng tạo,kĩ năng, quan niệm về giá trị và những sản phẩm mang tính tương tự xã hội khác. Tri thức đóng vai trò rất lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người. Cấu trúc của tri thức Tri thức là lĩnh vực rất rộng, có thể xem xét ở nhiều cấp độ, khía cạnh khác nhau. Tri thức là một tập hợp các kĩ năng và năng lực vì thế mỗi loại tri thức khác nhau lại có cách thức hình thành và những đặc trưng khác nhau. Xét về cấp độ phức tạp của thông tin,cấu trúc của tri thức bao gồm: – Tri thức đời thường: được hình thành do hoạt động hàng ngày của các cá nhân và mang tính chất cảm tính, trực tiếp,bề ngoài và rời rạc. Nêu đây là những tri thức đúng đắn, nó mang tính phổ biến và được xem gần giông như “thông tin”. Loại tri thức này trả lời cho câu hỏi “biết – cái gì?” (Know – What?). Những ví dụ cụ thể về dạng tri thức này như: Dân số Việt Nam tính đến năm 2007 la bao nhiêu?, Ai là người đầu tiên lên mặt trăng?, hay Là sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân thì phải tuân theo nội quy, quy chế gì?... Những tri thức đời thường này dựa trên lẽ phải và ỹ thức thông thường,là cơ sở định hướng quan trọng cho các hành vi hàng ngày của con người. – Tri thức khoa học : Khi những tri thức đời thường rời rạc được liên kết nhau và có sự tư duy, tổng hợp của con người thi tri thức phát triển ở mức độ cao hơn,trở thành tri thức khoa học. Tri thức khoa học trình bày nguyên lí và các quy luật vận động trong tự nhiên,trong xã hội và trong tư duy của con người. Nó bao gồm tri thức kinh nghiệm – thể hiện trình độ thấp và tri thức lí luận – thể hiện trình độ cao của tri thức khoa học. Giữa hai trình độ tri thức này có mối liên hệ mật thiết với nhau, làm tiền đề, cơ sở cho nhau cùng phát triển và từ đấy phản ánh một cách ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thế giớ vật chất ddang vận động không ngừng. - Tri thức kinh nghiệm: chủ yếu thu nhận qua quan sát và thí nghiệm. Từ những hiểu biết được tích lũy trong cuộc sống hàng ngày, con người so sanhd, đối chiếu, xem xét các sự vật và hiên tượng,từ đấy nhận thức và cải tạo thực tiễn, hình thành nên tri thức kinh nghiệm. Đây là những hình dung thực tế về sự vật, hiện tượng, biết cách ứng xử trong các hiên tượng tự nhiên và trong các quan hệ xã hội. Theo thời gian và bằng kinh nghiệm sống, số lượng và chất lượng tri thức kinh nghiệm ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, chứa đựng những mặt đúng đắn nhưng còn riêng biệt, chưa thể đi sâu vào bản chất. Nó mới chỉ là một hình thức,một trình độ của nhận thức nên chưa nắm được một cách đầy đủ, toàn diện cái tất yếu, cái bản chất bên trong của sự vật hịên tượng. Như Ph.Ănghen trong cuốn biện chứng của tự nhiên đã nhận xét: “Sự quan sát theo kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” ( C.Mác và Ph.Ănghen, 1978-1995, tập 20, trang 718) - Tri thức lí luận : Để nắm bắt được bản chất sâu xa của sự vật, hiên tượng thì nhận thức của con người tất yếu phải chuyển lên trình độ tri thức lí luận. Nó tồn tại trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật, giả thuyết, lý thuyết, học thuyết khoa học. Lí luận hình thành từ kinh nghiệm nhưng nó không xuất hiện một cách trực tiếp, tụ phát và không phải mọi lí luận đều xuất phat từ kinh nghiệm “Lí luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội, được tích lũy lại trong quá trình lịch sử” (Hồ Chí Minh, 1995-1996, tập 8, trang 497). – Tri thức công nghệ: Khi đã có một vốn tri thức khoa học đầy đủ, tư duy con người phat triển cao hơn thì hinh thành tri thức công nghệ. Dạng tri thức này quan tâm đến các kĩ năng hay khả năng làm việc và cách xử lí tình huống một cách lin hoạt, nạy bén, trả lời cho câu hỏi “Biết – Như thế nào?” (Know – how?). Đây cũng có thể coi la “bí quyết” của từng người cụ thể. Nó đem đến một nhà lãnh đạo tài ba với những chiến lược sắc bén, một công ty phát triển với những bí quyết riêng hay một nhà khoa học với những phát minh sáng chế nổi tiếng… – Tri thức chuyên gia ( tri thức kĩ năng xã hội ): khi sự phức tạp của tri thức công nghệ tăng lên, đòi hỏi một nền tri thức toàn diện- tổng hợp hơn thì xuất hiện tri thức chuyên gia. Dạng tri thức này hình thành khi xã hội đã phát triển đến cao độ với một nền kinh tế hiện đại đạt đến sự phân công lao động rõ rệt. Nó liên quan đến việc tổng hợp nhiều loại kỹ năng khác nhau, bao gồm cả kĩ năng xã hội, trả lời câu hỏi “Biết – Ai?” ( Know – Who?). Sự hình thành dạng tri thức chuyên gia làm tăng khả năng tiếp cận và sư dụng tri thức của con người, mang lại hiệu quả công việc cao hơn, gắn kết tri thức nhân loại. Việc phân tích cấu trúc của tri thức ở trên cho phép chúng ta thấy được mức độ phát triển cũng như đặc trưng của từng cấp độ tri thức và sự đan xen, nối tiếp giữa chúng. Từ đó, ta có thể xem xét vai trò to lớn của tri thức trên mọi lĩnh vực của đời sống một cách cụ thể, rõ ràng và toàn diện hơn. 2. Vai trò của tri thức trong hoạt động xã hội. Xã hội tri thức a) Vai trò của tri thức trong hoạt động xã hội. Trong những năm gần đây, với sự tác động mạnh mẽ của khoa học công nghệ mà đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin truyền thông, thế giới đang ngày càng biến chuyển, dần dần hướng tới một xã hội nơi mà thông tin và tri thức được xem là nguồn lực chủ yếu. tri thức đang ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong hoạt động xã hội, là tiền đề quan trọng để hình thành nên xã hội tri thức – một xã hội đổi mới văn minh và là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay. Chúng ta đều nhận thấy rằng, tri thức đóng một vai trò hết sức quan trong góp phần tạo nên mọi thành tựu tiến bộ trong lịch sử hình thành và phát triển của văn minh nhân loại.Mặc dù những câu hỏi mang tính triết học xung quanh phạm trù tri thức vẫn không ngừng được tranh luận và chưa được câu trả lời thích đáng nhưng trong mọi lĩnh vực hoạt động khoa học, kinh tế, chính trị, văn hóa, …, tri thức vẫn luôn được tìm kiếm, phát triển và ngày càng có tác động to lớn đến sự phát triển của xã hội loài người.Chúng ta có thể bắt gặp ở bất cứ nơi đâu, bằng bất cứ phương tiện nào, những con người xung quanh ta đang hoạt động tri thức, mong muốn tìm kiếm và sở hữu tri thức. Đấy có thể là một cậu bé đang tập viết, tập đánh vần; có thể là một bác sỹ đang tìm kiếm phương thức chữa bệnh mới; có thể là một nhà kinh tế trẻ đang tìm cách làm giàu hay có thể là một cậu sinh viên mãi mê với những cuốn Bách khoa tri thức phổ thông hay giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin, Toán cao cấp, … Tất cả mọi người, tuy hoàn cảnh địa vị khác nhau nhưng họ đang cùng có chung một hoạt động, đấy là hoạt động tri thức. Và vì thế, tri thức không còn là vấn đề riêng của mỗi cá nhân mà đã trở thành vấn đề chung của mọi xã hội. Xã hội càng phát triển, công cụ tìm kiếm, lưu giữ và tuyên truyền tri thức càng trở nên tiên tiến , hiên đại. Ban đầu chỉ là những mảnh đât sét, những thanh trúc, những tờ giấy… rồi đến những quyển sách, cái máy phát thanh, truyền hình… Bước phát triển cao nhất của nên công nghệ thông tin hiện đại mang đến loại công cụ thay thế con người trong các hoạt đông trí óc, đó là máy tính điện tử. Từ hàng chục năm nay, cùng với khả năng lưu trữ, xử lí thông tin nhanh chóng và khả năng tính toán khoa học, các hệ thông máy tính được ứng dụng để hình thành nên cơ sở dữ liệu điện tử thuộc nhiều nghành khác nhau, trên mọi lĩnh vực và phương diện, từ đấy tạo nên hạ tầng thông tin quốc gia, nền móng của sự phát triển thông tin ở nhiều nước. Sự phong phú về thông tin, dữ liệu cùng khả năng khai thác nhanh chóng dễ dàng tri thức điện tử đã trở thành nguồn tri thức mở. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý là sự phong phú về thông tin chưa hẳn đã mang lại sự đầy đủ và chính xác về tri thức John Naisbett đã từng cảnh cáo : “Chúng ta chìm ngập trong dữ liệu mà vẫn đói tri thức”. Vì vậy, con người cần biết chọn lọc và sử lí thông tin một cách có hiệu quả, biến nó trở thành tri thức của riêng mình. Sự giàu có về thông tin trở thành sự giàu có về tri thức sẽ mang lại một xã hội văn minh với trình độ phát triển cao. b) Xã hội tri thức Từ xưa đến nay, dù ở trong bất cứ xã hội nào thì tri thức của loài người cũng là một nguồn lực đóng góp cho sự phát triển. Nhưng trước đây, tri thức thường vẫn là một tài sản nằm trong tay một số tầng lớp tri thức và của những người có học vấn trong xã hội. Chỉ đến thời đại thông tin, với các phương tiện truyền thông hiện đại, loài người mới có cơ hội thực hiện mục đích nhân văn cao cả của mình: chia sẻ tri thức cho mọi người để cùng phát triển. Khi ấy chúng ta mới có được một xã hội tri thức đích thực. Sự bùng nổ của thông tin đem đến cho chúng ta một xã hội thông tin đa chiều, đa phương diện. Nhưng, đấy chưa phải là một xã hội tri thức bền vững. Một xã hội tri thức được gọi là bền vững khi nó bảo tồn và thúc đẩy các quyền con người và quyền công dân; khi việc truy cập tri thức không bị cản trở và có khả năng bao quát rộng lớn; khi tri thức của nó làm thành cơ sở cho những phương tiện bảo tồn một cách hiệu quả môi trường thiên nhiên của chúng ta; khi việc truy cập tri thức và thông tin đang cung cấp cho mọi người dân trên thế giới cơ hội được tự phát triển trong đời sống cá nhân, đời sống nghề nghiệp và đời sống công cộng của họ; khi sự phát triển ở miền Bắc không còn làm tổn hại đến miền Nam và khi sự phát huy tiềm năng của nam giới không còn làm tổn hại đến tiềm năng của nữ giới. Vấn đề này không chỉ còn là vấn đề riêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Năm 2005, UNESCO đã ra bản Báo cáo Thế giới với tên gọi chính thức: “Hướng tới các xã hội tri thức”. Điều này càng khẳng định hơn nữa sự cần thiết phải xây dựng một xã hội tri thức bền vững. Xã hội thông tin mà trong đó chúng ta đang sống mới chỉ chú ý đến những ích lợi kinh tế và đến yếu tố thị trường, chưa quan tâm đầy đủ đến nhân quyền, dân quyền và đến đạo đức học sinh thái. Một xã hội mà trong đó chế độ sở hữu trí tuệ đang biến tri thức thành một nguồn lực hiếm thì không phải là một xã hội bền vững. Để khắc phục những khiếm khuyết của xã hội thông tin cần những giải pháp cụ thể, đó là thiết lập một xã hội học hành, giáo dục suốt đời cho tất cả, bảo tồn đa dạng tri thức..., trên cơ sở của nguyên tắc tối cao là thực hiện quyền truy cập thông tin và tri thức phổ biến cho tất cả mọi người. Đề cập tới những vấn đề bức xúc cụ thể như mâu thuẫn giữa việc khuyến khích sáng tạo với quyền phổ biến về chia sẻ tri thức, liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, cần phải có sự dung hoà giữa việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với việc thúc đẩy lĩnh vực tri thức công cộng. Về nguyên tắc thì tri thức vẫn phải là tài sản chung của toàn nhân loại; mọi người đều có quyền tiếp cận tri thức. Nhưng việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng chính là để khuyến khích sáng tạo, khuyến khích việc tạo ra tri thức mới. Tuy nhiên, những sản phẩm trí tuệ được đặt dưới sự bảo hộ vẫn được các cá nhân tiếp cận và khai thác cho công việc sáng tạo của riêng mình, cũng như được khai thác ngoài mục đích thương mại và không nhằm mục đích khai thác lợi nhuận đối với sản phẩm đó. Trong giao lưu tri thức, chúng ta không nên tuyệt đối hoá vấn đề bản quyền để làm cản trở quá trình truyền bá tri thức. Chỉ có như vậy, các sản phẩm tri thức trên thế giới mới tiếp xúc được với nhau để không ngừng tạo ra tri thức mới. 3. Vai trò của tri thức trong hoạt động kinh tế Nền kỉnh tế tri thức là nền kinh tế trong đó quá trình thu nhận truyền bá, sử dụng, khai thác, sáng tạo tri thức trở thành thành phần chủ đạo trong quá trình tạo ra của cải. Kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm cơ bản khác biệt so với các nền kinh tế trước đó: -Tri thức khoa học - công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là cơ sỏ chủ yếu và phát triển rất mạnh -Nguồn vốn quan trọng nhất,quý nhất là tri thức, nguồn vốn trí tuệ. -Sáng tạo và đổi mới thướng xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc đảy sụ phát triển. -Nền kinh tế mang tính học tập. -Nền kinh tế lấy thị trường toàn cầu là môi trường hoạt động chính. -Nền kinh tế phát triển bền vững do được nuôi dưỡng bằng nguồn năng lượng vô tận và năng động là tri thức. Thực tiễn hai thập niên qua đã khẳng định,dưới tác động của cách mạng khoa học –công nghệ và toàn cầu hoá, kinh tế tri thức đang hình thành ở nhiều nước phát triển và sẽ trở thành một xu thế quốc tế lớn trong một,hai thập niên tới. Sự xuất hiện của các hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên tri thức. Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế lấy sản xuất và kinh doanh tri thức làm nội dung chủ yếu.Tương lai của bất cứ doanh nghiệp nào cũng không chỉ phụ thuộc vào việc sử dụng tiền bạc, nguyên vật liệu, nguồn nhân lực và máy móc thiết bị… mà còn phụ thuộc vào việc xử lý và sử dụng những thông tin nội bộ và thông tin từ môi trường kinh doanh. Cách tốt nhất để tăng năng suất là tìm hiểu kiến thức chuyên môn mà hãng có được,sử dụng vì mục đích thương mại và những kiến thức này cần được phát triển không ngừng. Giá trị của những công ty công nghệ cao như các công ty sản xuất phần mềm và các công ty công nghệ sinh học không chỉ nằm trong những tài sản vật chất hữu hình, mà còn nằm trong những tài sản vô hình,như tri thức và các bằng sáng chế.Để trở thành một công ty được dẫn dắt bởi tri thức, các công ty phải biết nhận ra những thay đổi của tỉ trọng vốn trí tuệ trong tổng giá trị kinh doanh.Vốn trí tuệ của công ty, tri thức, bí quyết và phương pháp đội ngũ nhân viên và công nhân cũng như khả năng của công ty để liên tục hoàn thiện phương pháp sản xuất là một nguồn lợi thế cạnh tranh. Hiện có các bằng chứng đáng lưu ý chỉ ra phần giá trị vô hình của các công ty công nghệ cao và dịch vụ đã vượt xa phần giá trị hữu hình của các tài sản vật thể của các công ty đó,như các toà nhà hay thiết bị.Ví dụ như các tài sản vật thể của công ty Microsoft chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng giá trị được vốn hoá trên thị truờng của công ty này phần lớn là vốn trí tuệ . Sau hai mươi năm thành lập, số nhân viên công ty tăng 6 nghìn lần, thu nhập tăng 370 nghìn lần, 1/10 số nhân viên trở thành triệu phú. Nguồn vốn con người là một thành tố giá trị cơ bản trong một công ty dựa vào tri thức. Vốn tri thức –vai trò của nó trong kinh tế tri thức Vốn tri thức là tri thức được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích sinh lợi (tăng thêm giá trị). Vốn tri thức là một yếu tố nổi bật nhất trong hàm sản xuất. Trong văn minh nông nghiệp thì sức lao động, đất đai và vốn là những yếu tố của sản xuất công nghiệp, vốn, đất đai và nhất là sức lao động trở thành hàng hoá với tư cách là những yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội, góp phần chuyển xã hội phong kiến thành xã hội tư bản trong lịch sử. Còn trong kinh tế tri thức, yếu tố của sự phát triển nền kinh tế - xã hội không chỉ bao gồm vốn tiền tệ, đất đai và dựa trên lao động giản đơn mà chủ yếu dựa trên lao động trí tuệ gắn với tri thức. Như vốn tri thức trở thành yếu tố thứ nhất trong hàm sản xuất thay vì yếu tố sức lao động vốn tiền tệ và đất đai. Vốn tri thức thực sự trở thành nguồn gốc động lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Nước Mỹ nói riêng và các nước thuộc tổ chức OECD nói chung nhiều năm qua tăng trưởng ổn định với tốc độ cao là nhờ có sự phát triển của các ngành kinh tế dựa trên tri thức như các ngành công nghệ thông tin, viễn thông, vũ trụ, đầu tư, ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bảo hiểm…Đồng thời chuyển đầu tư vốn tri thức từ các ngành truyền thống sang các ngành có hàm lượng tri thức cao.ở các nước có nền kinh tế đang phát triển, đầu tư càng nhiều vốn tri thức thì mang lại giá trị gia tăng cang lớn, tỷ suất lợi nhuận càng cao. Vốn tri thức trong kinh tế tri thức đóng vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Vốn tri thức ở đây bao gồm các công nhân tri thức, các nhà quản lý có trình độ cao, các công nghệ mới. Vốn tri thức đóng vai trò to lớn trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển. Sự xuất hiện kinh tế tri thức vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các nước kém và đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia kém và đang phát triển phải nhanh chóng tiếp cận với kinh tế tri thức, thông qua tri thức hoá các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đặc biệt sớm hình thành các công nghệ cao để nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước đuổi kịp các nước phát triển. 4. Vai trò của tri thức đối với con người. Quản trị tri thức a) Vai trò của tri thức đối với con người và sự hình thành trí thức. Từ xa xưa, tri thức thường được coi như của riêng của các bậc thức giả, tri thức là dấu hiệu của đời sống tinh thần, đạo đức, trí tuệ của một người; tri thức là để cho mình, để chứng tỏ phẩm giá của mình, tức là để sống, để khẳng định sự tồn tại của mình. Ngày nay, giá trị của tri thức lại được đề cao hơn nữa. Tri thức đem lại cho con người những sự hiểu biết, kiến thức. Người có tri thức là có khả năng tư duy lý luận, khả năng phân tích tiếp cận vấn đề một cách sát thực, đúng đắn. Và lẽ dĩ nhiên, con người không chỉ tìm kiềm tri thức để tăng cường hiểu biết về tự nhiên, xã hội và cuộc sống mà còn sử dụng các tri thức có được để tạo nên các kỹ thuật, công nghệ và giải pháp nhằm không ngừng cải thiện cuộc sống của mình. Nếu như trong nhiều thế kỷ qua, khoa học luôn hướng tới việc phát hiện những tri thức có giá trị phổ biến dưới dạng các nguyên lý, qui luật, định lý,...thì ngày nay, chúng ta cũng càng ngày càng thấy rõ rằng trong cuộc sống thường nhật, trong việc quản lý, kinh doanh, làm ăn hàng ngày chúng ta cũng rất cần có thêm những tri thức, có thể có ý nghĩa phổ biến hẹp hơn, có mức độ chính xác thấp hơn, có đời sống ngắn hơn,...nhưng lại đáp ứng trực tiếp hơn các yêu cầu giải quyết công việc của con người. Mà, việc tìm kiếm những tri thức này cũng không hề đơn giản! Một trong những nguồn nguyên liệu quan trọng để từ đó khai phá, tinh luyện thành tri thức chính là các hệ thống thông tin, các cơ sở dữ liệu phong phú mà công cuộc tin học hoá đã và đang tiếp tục tích luỹ được. Khai phá dữ liệu và phát hiện tri thức, một hướng nghiên cứu mới đang phát triển mạnh hiện nay, chính là để tìm các giải pháp cho công việc quan trọng đó. Vai trò to lớn của tri thức trong hoạt động của con người góp phần hình thành nên một tầng lớp mới trong xã hội – tầng lớp trí thức. Theo nghĩa rộng, ta có thể coi tất cả những người sống bằng nghề gắn với thông tin, tri thức, khoa học đều là trí thức. Các học giả, các nhà tư tưởng, các chuyên gia, các nghệ sĩ sáng tạo, những người lao động trí óc… là những người trí thức. Khi xã hội phát triển, trình đọ của con người ngày một cao thì vai trò của trí thức lại được khẳng định hơn nữa. Ở các nước phát triển, trí thức là giai cấp lớn nhất về số lượng và thực sự họ không chỉ có ảnh hưởng lớn đến diễn tiến chính trị mà thực ra họ là những người lãnh đạo xã hội, hơn thế nữa họ là những người thực sự tạo ra phần lớn nhất của cải xã hội. Đấy là sự thực. Và như thế trách nhiệm trên vai giai cấp trí thức là hết sức to lớn. b) Quản trị tri thức Sự phát triển của công nghệ thông tin mang lại thời đại số, cuộc sống với nguồn thông tin khổng lồ. Điều này rất dễ dẫn đến sự quá tải thông tin và hiện tượng nhiễu thông tin. Vấn đề đặt ra là cần có một phương pháp cụ thể để lượng thông tin khổng lồ ấy được sử dụng một cách có ý nghĩa và hữu ích, từ đó hình thành khái niệm “quản trị tri thức”. Quản trị tri thức được hiểu là một hệ thống quá trình nhận dạng, tiếp nhận và chuyển tải những thông tin, tri thức mà con người có thể sử dụng để sáng tạo, cạnh tranh và hoàn thiện hơn. Nó có những ưu điểm như: - Tính tiết kiệm và hiệu quả: các quá trình được tiến hành có hiệu quả hơn, khỏi cần phải xây dựng lại phương cách tiến hành khi có một nhiệm vụ mới. - Thay đổi và đổi mới: tổ chức có thể xác định được và đáp ứng được những thay đổi, đồng thời tự bản thân mình thay đổi. - Quản trị tri thức cho phép các tổ chức rút ngắn thời gian hoạt động của một chu trình và làm ngắn lại các quá trình nhờ khắc phục được những chậm trễ do phải xây dựng lại các giải pháp. Ở Việt Nam, quản trị tri thức mới được tìm hiểu trong thời gian gần đây và Tâm Việt Group đã bắt đầu dự án đầu tiên về nghiên cứu và triển khai quản trị tri thức ở các công ty Việt Nam vào tháng 12 năm 2007. KẾT LUẬN Qua những lập luận và phân tích ở trên, chúng ta đã phần nào hiểu rõ hơn lý luận về tri thức cũng như vai trò, tác dụng to lớn của nó trên mọi mặt đời sống xã hội. Liên hệ với Việt Nam trong thời kì toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề phát triển tri thức và trí thức lại trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Theo bản thân em, chúng ta cần có những giải pháp cụ thể như: - Phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, coi trọng công tác giáo dục và đào tạo,khẩn trương đổi mới giáo dục và đào tạo, Thay thế quan niệm”đào tạo theo nhu cầu của người học” bằng”đào tạo theo nhu cầu xã hội”. - Để doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với nền kinh tế tri thức cần có những biện pháp đồng bộ về chính sách của Nhà nước (như hỗ trợ nghiên cứu phát triển,xây dựng hệ thông thông tin,phát triển giáo dục…)và các động thái tích cực,chủ động của từng doanh nghiệp - Phát triển nguồn tài nguyên nhân lực cho các chiến lược công nghệ thông tin quốc gia bằng cách đẩy mạnh và mở rộng các hình thức học, học liên tục và học suốt đời; - Cải tiến quản lý sự phát triển công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý các tổ chức vì sự phát triển quốc gia; - Phát triển các mạng thông tin và kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia, và thực hiện các biện pháp để mở rộng khả năng truy cập của mọi người đến các mạng đó… Xu hướng xây dựng và phát triển tri thức là xu hướng tất yếu của lịch sử, không riêng gì CNTB. Vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh" Việt Nam không thể đi ngược xu hướng đó. Nước ta đã nắm bắt được rất nhiều cơ hội và từ đó có thể phát triển nền tri thức, theo kịp nền kinh tế của các nước phát triển. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những khó khăn mà chúng ta phải vượt qua. Nước ta phải vận dụng những điều kiện thuận lợi để đẩy lùi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiến vào thời kỳ công nhiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tăng cường mở rộng các mối quan hệ ngoại giao, tìm hiểu kinh nghiệm của các nước tiên tiến. Và một điều quan trọng nữa là phải chăm lo đến cải cách giáo dục về con người và vật chất nước nhà. TÀI LIỆU THAM

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLuận chứng vai trò của tri thức.DOC
Tài liệu liên quan