Tiểu luận Mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

MỤC LỤC

 

Đề cương chi tiết

A. Đặt vấn đề: .2

B. Nội dung: . .3

1. Cơ sở lý luận mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã hội . .3

1.1 Chính sách kinh tế và cơ sở hạ tầng .3

1.2 Chính sách xã hội và kiến trúc thượng tầng .3

1.3 Mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội .4

2 .Cơ sở thực tiễn về mỗi quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay .5

2.1 Thực trạng chính sách kinh tế và chính sách xã hội Việt Nam hiện nay .5

2.2 Sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong các thời kỳ đổi mới 8

3. Giải pháp .10

C.Kết luận .12

D. Danh mục tài liệu tham khảo .12

Mục lục

 

docx13 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/08/2013 | Lượt xem: 3137 | Lượt tải: 23download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n nay 2.2 Sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong các thời kỳ đổi mới 3. Giải pháp C.Kết luận D. Danh mục tài liệu tham khảo ĐẶT VẤN ĐỀ Đại hội IX của Đảng đã đề ra mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001 - 2010 là "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại...". Để thực hiện mục tiêu trên, việc đổi mới, cải cách chính sách kinh tế, chính sách xã hội một cách đồng bộ, phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn là hết sức cần thiết. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách kinh tế và chính sách xã hội sẽ tạo điều kiện phát huy nội lực, gắn kết toàn dân, tạo động lực và nguồn sức mạnh để phát triển đất nước nhanh, hiệu quả và bền vững. Chính sách xã hội không thể thoát ly khỏi chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô. Song đi vào những chính sách xã hội cụ thể lại thường phát sinh những mâu thuẫn, đặc biệt là trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành cơ chế thị trường ở nước ta, và việc nước ta gia nhập tổ chức quốc tế WTO ngày 07/11/2006 vừa qua. Bởi vậy, nhiệm vụ của chúng ta là phải xác định cho được điểm tới hạn, ở đó sự kết hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội là tối ưu nhất, có tác động tích cực thúc đây sự phát triển và tiến bộ xã hội. Vấn đề đặt ra là phải xác định rõ mỗi quan hệ giữa chính sách phát triển kinh tế và chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới hiện nay. Đây cũng chính là lí do tôi lựa chọn đề tài: “Mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” làm tiểu luận triết học. Mục đích nghiên cứu của đề tài là: nghiên cứu những mối quan hệ biện chứng giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để phát huy trong công cuộc đổi mới hiên nay. Trên cơ sở lý luận, phân tích thực trạng mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội của Việt Nam để đánh giá tìm ra những hướng để vận dụng nó nó. Kết cấu của tiểu luận bao gồm: A. Đặt vấn đề: B. Nội dung: C.Kết luận C. Danh mục tài liệu tham khảo B. NỘI DUNG Cơ sở lý luận mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã hội. Chính sách kinh tế và cơ sở hạ tầng: Chính sách kinh tế là những chủ trương và biện pháp kinh tế mà Nhà nước áp dụng trong một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử nhằm đạt được những yêu cầu và những mục tiêu kinh tế, chính trị nhất định. Chính sách kinh tế được xây dựng trên cơ sở những phân tích, dự báo về các nguồn lực, các tiềm năng của đất nước và những xu hướng phát triển của xã hội. Chính sách kinh tế của một quốc gia được biểu hiện thông qua cơ sở hạ tầng của quốc gia đó. Cơ sở hạ tầng được hiểu theo quan niệm triết học như sau: Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định. Cơ sở hạ tầng của một xã hội bao gồm những quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của một xã hội tương lai. Quan hệ sản xuất thống trị giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác. Nó quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế xã hội. Qua đó cho thấy cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể được đặc trưng bởi quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội đó. Chính sách xã hội và kiến trúc thượng tầng Chính sách xã hội là bộ phận cấu thành chính sách chung của Nhà nước trong việc quản lý và giải quyết các vấn đề xã hội. Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt cuộc sống của các thành viên trong xã hội, từ điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa đến quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp và quan hệ xã hội. Chính sách xã hội của một quốc gia được biểu hiện thông qua hệ thống kiến trúc thượng tầng của quốc gia đó. Kiến trúc thượng tầng được hiểu theo quan niệm triết học như sau: Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội…được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định. Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng, nhưng chúng có liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành trên cơ sở hạ tầng. Có những yếu tố quan hệ trực tiếp đến cơ sở hạ tầng như chính trị, pháp luật. Có những yếu tố như triết học, tôn giáo, nghệ thuật chỉ quan hệ gián tiếp với cơ sở hạ tầng. Trong xã hội có giai cấp thì kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp. Đó là cuộc đấu tranh về mặt chính trị, tư tưởng của các giai cấp đối kháng, đặc trưng là sự thống trị về mặt chính trị, tư tưởng của giai cấp thống trị. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt cấu thành của hình thái kinh tế - xã hội, chúng thống nhất biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó, cơ sở hạ tấng quyết định kiến trúc thượng tầng, song kiến trúc thượng tầng cũng có tác động của tích cực trở lại cơ sở hạ tầng. Như vậy, thông qua mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và chính sách xã hội: Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt của đời sống xã hội, chúng thống nhất biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng. Điều này thể hiện ở những điểm sau: - Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với nó. Tính chất của kiến trúc thượng tầng do tính chất của cơ sở hạ tầng quyết định. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã hội. Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo… đều phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với cơ sở hạ tầng nhưng không phải là sự phù hợp giản đơn. Toàn bộ kiến trúc thượng tầng đều có tính độc lập tương đối trong quá trình vận động phát triển và tác động một cách mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng. Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Nếu kiến trúc thượng tầng tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm phát triển xã hội. Chính sách kinh tế, chính sách xã hội có bản chất là cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng nên cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Do đó, đây là hai phạm trù riêng rẽ nhưng không tách rời nhau, có mối quan hệ tương hỗ và thống nhất. Sự đồng bộ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội là điều kiện cần và đủ để bình ổn và phát triển của mỗi quốc gia. Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội và ngược lại, sự ổn định, công bằng và tiến bộ của xã hội đạt được thông qua các chính sách xã hội lại tạo ra những động lực mạnh mẽ để thực hiện các mục tiêu kinh tế, nhằm làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội còn giúp chúng ta có cơ sở để tìm ra giới hạn giữa hai loại chính sách này. Song đây là vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn. Điều quan trọng là phân tích để đánh giá đúng những tác động tích cực hoặc hậu quả tiêu cực của các chính sách, từ đó có thể đề ra các biện pháp kiểm soát, khống chế hoặc thúc đẩy. Chính sách kinh tế và chính sách xã hội là một thể thống nhất biện chứng, nương tựa vào nhau, ràng buộc lẫn nhau. Sự kết hợp tối ưu giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội có tác động thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội. Nguyên tắc chung cho sự kết hợp đó là: chính sách kinh tế phải tạo được động lực trong xã hội, bảo đảm cho xã hội ổn định; đến lượt nó, chính sách xã hội phải thúc đẩy nền kinh tế phát triển vừa phải phù hợp với điều kiện kinh tế cho phép, vừa đặt ra những thách thức mới, hướng tới sự phát triển bền vững. 2. Cơ sở thực tiễn về mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta hôm nay. 2.1 Thực trạng chính sách kinh tế và chính sách xã hội Việt Nam hiện nay: Ở Việt Nam, chính sách kinh tế của Nhà nước là xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động, phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có với cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ hợp lý, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chính sách kinh tế và chính sách xã hội là những công cụ điều tiết và quản lý vĩ mô của Nhà nước, có tác động đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Thông qua các chính sách kinh tế, chính sách xã hội. Nhà nước có thể thực hiện được các chức năng chủ yếu của mình như: - Nâng cao hiệu quả của nền kinh tế - Bảo đảm công bằng xã hội - Giữ ổn định kinh tế - xã hội Kinh nghiệm từ nhiều nước cho thấy, sự phát triển kinh tế cũng đồng thời kéo theo một loạt các vấn đề về xã hội, như nạn thất nghiệp, sự phân hóa giàu nghèo, mất cân bằng sinh thái, các chứng bệnh nan y và cả sự thay đổi về các giá trị đạo đức, giá trị tinh thần... Theo quan điểm hiện đại, mục tiêu phát triển bền vững không chỉ dựa trên những thành quả của phát triển kinh tế mà còn bao hàm cả các chỉ tiêu về phát triển giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, các chỉ tiêu về phát triển con người, phát triển khoa học, công nghệ và chỉ tiêu về bảo vệ môi trường... Chính vì vậy, bên cạnh các chính sách kinh tế, chính sách xã hội đóng vai trò như một cán cân điều tiết, đem lại đời sống tốt đẹp, sự công bằng, dân chủ cho mỗi thành viên trong xã hội. Thực tiễn ở Việt Nam từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay cho thấy, thông qua đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính sách xã hội đã đạt nhiều thành tựu tích cực. Nền kinh tế đã có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế; tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, văn hóa - xã hội không ngừng tiến bộ, khả năng độc lập, tự chủ tăng lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, còn tồn tại nhiều bất cập, điển hình là: - Nền kinh tế kém hiệu quả và sức cạnh tranh còn yếu. Tích lũy nội bộ và sức mua trong nước còn thấp. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý. Đầu tư của Nhà nước còn thất thoát và lãng phí. Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài thiếu ổn định, quan hệ sản xuất có mặt chưa phù hợp, hạn chế việc giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. - Giáo dục, đào tạo còn yếu về chất lượng, cơ cấu đào tạo chưa phù hợp, có nhiều bất hợp lý trong dạy, học và thi cử... Khoa học và công nghệ chưa thật sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Cơ sở vật chất của các ngành y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thông tin, thể thao còn hạn chế. Việc đổi mới cơ chế quản lý và thực hiện xã hội hóa trong các lĩnh vực này triển khai chậm. - Đời sống của đại bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng núi, vùng sâu và vùng thường xuyên bị thiên tai. Số lao động chưa có việc làm và không có việc làm còn lớn. Nhiều tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi, nạn ma túy, mại dâm, lây nhiễm HIV/AIDS có chiều hướng lan rộng. Tai nạn giao thông ngày càng tăng. Môi trường sống bị ô nhiễm nhiều. Những yếu kém, bất cập nói trên có phần do điều kiện khách quan, nhưng chủ yếu là do những khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, mà trước hết là sự thiếu ăn khớp, thiếu hài hòa, đồng bộ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong hệ thống công cụ quản lý thống nhất của Nhà nước. Để hướng tới việc tạo lập một nước Việt Nam thịnh vượng, công bằng, dân chủ, văn minh, Đại hội IX của Đảng đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho thời kỳ 2001 - 2010 bằng việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Những mục tiêu kinh tế - xã hội của cả thời kỳ này là: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước Việt Nam trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng và thực hiện quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh. Rõ ràng, khi nghiên cứu để đưa ra chính sách kinh tế- xã hội hợp lý, chúng ta phải xem xét tính chất độc lập tương đối, những đặc trưng khác biệt của nó để tập trung chú ý, giải quyết thoả đáng các yêu cầu của thực tế trong hoạch định chính sách. Mặt khác phải khai thác tính thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội để đạt được mục tiêu phát triển chung. 2.2 Sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong các thời kỳ đổi mới Qua gần 20 năm đổi mới, nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân trong việc hiện thực hoá đường lối đó, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang từng bước được xây dựng. Nền dân chủ XHCN với Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đã được thiết định trên những đường nét cơ bản. Nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, sự thống nhất trong đa dạng đã hình thành. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ngày càng được củng cố, thực sự trở thành một động lực quan trọng của đổi mới đất nước. Nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân với lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại ngày càng đủ mạnh để bảo vệ Tổ quốc và cuộc sống yên lành của nhân dân. Nền ngoại giao độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá với tinh thần Việt Nam sắn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, không ngừng mở rộng các quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế đã phát huy vai trò to lớn của mình trong đổi mới đất nước. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh, đủ sức gánh vác được sứ mệnh lịch sử mà dân tộc ta giao phó. Những thành tựu đó đã làm cho sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng lên nhiều, vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Những bài học được rút ra từ 20 năm đổi mới giúp chúng ta hoàn thiện hơn nữa đường lối, chủ trương, chính sách và cách thức triển khai trong tổ chức thực tiễn sẽ góp phần đẩy mạnh hơn sự phát triển của đất nước. Đặc biệt, việc tham gia WTO là bước hội nhập kinh tế quốc tế ở tầm cao nhất về cấp đối tác sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho sự phát triển... Đó là những yếu tố quan trọng để chúng ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2010 và cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Song, bên cạnh những thành tựu, tiến bộ đã đạt được sau gần 20 năm đổi mới, vẫn còn những yếu kém, khuyết điểm làm gay gắt những mâu thuẫn của quá trình phát triển. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. Khó khăn này sẽ tăng lên rất lớn, đặc biệt là đối với doanh nghiệp, khi AFTA có hiệu lực đầy đủ đối với nước ta và nước ta chính thức gia nhập WTO. Nhiều nguồn lực và tiềm năng trong nước để phát triển kinh tế chưa được huy động và sử dụng tốt. Thất thoát, lãng phí trong quản lý kinh tế, đặc biệt trong quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý doanh nghiệp Nhà nước còn rất nghiêm trọng. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cải cách hành chính trong hệ thống chính quyền chưa đạt yêu cầu đề ra. Nhiều nơi còn vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, việc thực hiện luật pháp, kỷ cương không nghiêm. Nhiều vấn đề xã hội bức xúc chậm hoặc chưa giải quyết tốt. Điều đó đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội để đạt được mục tiêu đề ra. Sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội được biểu hiện ở một số điểm cơ bản sau đây: - Chính sách kinh tế và chính sách xã hội đều hướng vào mục tiêu trung tâm là phát triển con người, phát huy nhân tố con người, đảm bảo công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Mục tiêu phát triển là tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng lại phải đảm bảo công bằng xã hội. - Mối quan hệ hữu cơ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội ở đây biểu hiện: nếu có chính sách phát triển kinh tế đúng đắn sẽ tạo điều kiện, tiền để vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội, ngược lại giải quyết tốt các vấn đề xã hội, ngược lại giải quyết tốt các vấn đề xã hội bằng những chính sách phù hợp sẽ tạo ra cái nền ổn định xã hội để phát triển kinh tế. Như vậy, mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, để không chệch hướng xã hội chủ nghĩa, bao giờ cũng phải xác lập quan hệ hợp lý giữa chúng. - Việc nghiên cứu sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội giúp chúng ta có cơ sở để tìm ra quan hệ hợp lý giữa chúng. Chúng ta chủ yếu xem xét, phân tích những dấu hiệu, những yếu tố tác động tích cực của các chính sách đó, để từ đó nhà nước áp dụng các biện pháp kiểm soát, khống chế chúng về mặt tính chất, quy mô và cường độ, không cho nó vượt quá điểm “tới hạn”, trở thành những “điểm nóng”, gây nên những hậu quả xấu hoặc nguy hiểm về mặt xã hội. Như vậy, ở đây có hai vấn đề đặt ra: Một là, khi hoạch định chính sách kinh tế phải tính đến hậu quả về mặt xã hội. Hai là, một số chính sách xã hội được xây dựng không tính đến khả năng của nền kinh tế không quan tâm đến lợi ích kinh tế thì sẽ trở thành yếu tố cản trở tăng trưởng kinh tế. 3. Giải pháp Các chính sách kinh tế tập trung vào những nhiệm vụ trọng yếu: - Tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp và công dân đầu tư và phát triển sản xuấ t kinh doanh. - Tập trung sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật, đổi mới công tác chỉ đạo thực hiện để bảo đảm các thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh lành mạnh, thực sự là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. - Tiếp tục chính sách mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển, tích cực chuẩn bị các điều kiện về kinh tế, thể chế, cán bộ... để thực hiện thành công quá trình hội nhập trên cơ sở phát huy nội lực, bảo đảm độc lập, tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi. Các chính sách xã hội cần được thực hiện đồng thời và tập trung vào những nhiệm vụ: đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài; chú trọng sử dụng và phát huy tiềm năng tri thức của người Việt Nam ở nước ngoài; đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với giáo dục và đào tạo, thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển giáo dục ở tất cả các bậc học; có các chính sách thích hợp tạo công bằng về cơ hội và bình đẳng về trách nhiệm cho mọi công dân, mọi doanh nghiệp và nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên các chính sách kinh tế và các chính sách xã hội không giải quyết một cách riêng rẽ mà chúng phải được thực hiện đồng thời và song song cùng nhau như: Kết hợp ngay trong mục tiêu và phương hướng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Kết hợp trong quy hoạch tổng thể, trong kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế- xã hội năm năm. Kết hợp trong việc xây dựng và thể chế hoá luật pháp hoá các chính sách xã hội. Kết hợp trong kế hoạch và cân đối ngân sách hàng năm. Trong đó, xác định rõ tỷ lệ và quy mô đầu tư cho chính sách xã hội, có lựa chọng các vấn đề ưu tiên. Kết hợp trong việc lồng ghép các chương trình dự ấn kinh tế với các chương trình, dự án xã hội. Chẳng hạn chương trình phát triển và khai thác các vùng, chương trình phát triển và khai thác các vùng, chương trình kinh tế- xã hội miền núi, chương trình phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn… Mục tiêu phát triển hiệu quả và bền vững đã trở thành kim chỉ nam cho việc hoạch định, điều chỉnh và tổ chức thực thi các chính sách kinh tế, chính sách xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Những giải pháp điều chỉnh chính sách kinh tế, chính sách xã hội cần tập trung là: Thứ nhất, nắm vững những quan điểm chủ yếu về bổ sung, điều chỉnh các chính sách kinh tế, chính sách xã hội. Đó là quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử, quan điểm gắn lý luận với thực tiễn, quan điểm hệ thống đồng bộ, quan điểm nhân văn. Thứ hai, điều chỉnh các chính sách đã ban hành nay không còn phù hợp do sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra liên tục. Đặc biệt là sự tụt hậu của chính sách xã hội so với những diễn biến quá nhanh của kinh tế thị trường, đã làm cho những nguy cơ tiềm ẩn của cơ chế kinh tế bùng phát bất lợi. Thứ ba, xây dựng mới các chính sách kinh tế và chính sách xã hội cho phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là chính sách đối với người lao động trong các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Thứ tư, tăng cường chức năng quản lý nhà nước trong việc thực hiện chính sách kinh tế, chính sách xã hội. Các chính sách kinh tế, chính sách xã hội cần hướng vào việc thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm nâng cao phúc lợi xã hội, bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện công bằng, dân chủ. Xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, xác định đúng hình thức, phương pháp quản lý của các cơ quan này trong việc thực hiện các chính sách. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý những hành vi vi phạm các chính sách. Thứ năm, khắc phục những nhận thức lệch lạc về cách thức giải quyết hai loại chính sách kinh tế và chính sách xã hội. C. KẾT LUẬN Tóm lại, chính sách xã hội và chính sách kinh tế là một thể thống nhất. Sự thống nhất đó được xã định ở quan hệ hợp lý giữa chúng, mà ở đó sự kết hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội là tối ưu nhất, có tác động tích tích cực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội. Tức là sự kết hợp đó dựa trên nguyên tắc đơn giản là: Chính sách kinh tế phải tìm được động lực trong xã hội và đảm bảo ổn định xã hội, ngược lại chính sách xã hội phải thúc đẩy kinh tế phát triển và phù hợp với điều kiện kinh tế cho phép. Như trên đã phân tích, chính sách xã hội khi xây dựng phải được xem xét trong mối quan hệ với hàng loạt chính sách khác như chính sách kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, đối ngoại… ở nhiều cấp độ khác nhau: Vĩ mô (trung ương), vùng, địa phương và cơ sở. Trong bản thân hệ thống hệ thống chính sách xã hội cũng phải tính đến các mối quan hệ đan xen giữa chúng như chính sách việc làm, chính sách dân số, chính sacsh đảm bảo xã hội, chính sách đối với phụ nữ, tri thức, chính sách đối với giai cấp công nhân, chính sách dân tộc, tôn giáo... Mặt khác, khi xây dựng chính sách kinh tế phải tính đến hậu quả về mặt xã hội. Nếu chính sách kinh tế phải trả giá quá đắt về mặt xã hội thì chúng tai phải xem xét lại. Mặt khác một số chính sách xã hội được xây dựng không tính đến khả năng của nền kinh hoặc không quan tâm đến lợi ích kinh tế thì sẽ trở thành yếu tố cản trở tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở những giải pháp đã phân tích thì sự kết hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội nông thôn phải đảm bảo nguyên lý sau: một chính sách kinh tế phải tìm được động lực xã hội và góp phần đảm bảo ổn định xã hội, một chính sach xã hội phải góp phần thúc đầy kinh tế nông thôn phát triển và phù hợp với điều kiện kinh tế cho phép. D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Triết học (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết Học) NXB Lý Luận Chính trị Hà Nội-2006 2. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiên đại hội đại biểu toàn quốc VI, VII, VIII, IX, X 3. Tạp chí Cộng sản tháng 11/2003 và số 106 năm 2005 4. Thông tin chính tị số 4 (27) năm 2005 5. Web site báo điện tử: Chungta.com.vn; tạp chí cộng sản, báo nhân dân. MỤC LỤC Đề cương chi tiết Đặt vấn đề:……………………………………………………………………...2 Nội dung:…………………………………………………………………….….3 1. Cơ sở lý luận mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã hội………………………………………………………………………

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxMối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.docx
Tài liệu liên quan