Tiểu luận Một số giải pháp về công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ- HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ CÔNG NGHIỆP HOÁ- HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG THÔN 4

I. Tính tất yếu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá 4

1. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá 4

2. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn 5

II. Một số nhận định về tình hình nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay 5

1. Nông nghiệp đã phát triển nhanh về sản lượng, đặc biệt là sản lượng lương thực nhưng chất lượng còn thấp, khả năng cạnh tranh còn yếu kém 6

2. Hình thành các khu vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tập trung 6

3. Nông nghiệp nước ta đã bước đầu được thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, cơ khí hoá, điện khí hoá, áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ nhưng cơ sở hạ tầng còn thấp, lao động thủ công vẫn còn phổ bién, trình độ khoa học công nghệ còn thấp 7

4. Công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản có bước tiến bộ đáng kể nhưng còn nhỏ bé và ở trình độ thấp 8

5. Ngành nghề nông thôn đang phát triển nhanh chóng, đóng góp quan trọng trong việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập ở nông thôn nhưng công nghệ kỹ thuật và chất lượng sản phẩm còn thấp 9

6. Thu nhập và đời sống của tuyệt đại đa số nông dân đã được cải thiện rõ rệt nhưng nhìn chung vẫn còn thấp, bấp bênh, tình trạng thiếu việc làm, nghèo đói, du canh, du cư, di dân tự do đặt ra những khó khăn cần khắc phục 9

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG THÔN 11

I. Hiện trạng nông thôn Việt nam bước vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá 11

II. Những thuận lợi của nông thôn Việt nam trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá 11

III. Những khó khăn và thách thức 12

IV. Nguyên nhân của những thực trạng 12

CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 14

I. Quan điểm và mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn 14

1. Quan điểm 14

2. Mục tiêu 14

II. Bước đi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn 15

1. Giai đoạn từ nay đến năm 2010 15

2. Giai đoạn 2010-2020 15

III. Một số phương hướng về phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn 15

1. Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng, xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất trên quy mô lớn và từng bước hiện đại hoá 15

2. Thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp 17

3. Phát triển công nghiệp, dịch vụ nông thôn 18

4. Một số nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn trong những năm trước mắt 20

KẾT LUẬN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

 

 

doc25 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 30/08/2013 | Lượt xem: 3360 | Lượt tải: 29download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Một số giải pháp về công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ầu tư chiều sâu, nhập thiết bị công nghệmới để tinh chế và nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng nhìn chung công nghiệp chế biến gỗ ở nước ta còn ở trình độ thấp, sản xuất chủ yếu ở qui mô nhỏ, phân tán, sản phẩm chủ yếu là gỗ xẻ và đồ mộc các loại từ gỗ nguyên chiếm tới 68,5% trong khi đồ mỹ nghệ là 3%. Tuy nhiên việc kết hợp sử dụng công nhân với tay nghề cao đã làm hàng lâm sản chế biến ở nước ta có khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường ở một số mặt hàng như thị trường đồ gỗ ngoài trời ở EU. 4.3. Chế biến thuỷ hải sản Công nghiệp chế biến thuỷ hải sản ở nước ta chủ yếu vẫn chỉ là làm sạch, bảo quản và đóng hộp. Công nghệ chưa cao và còn thủ công. Tuy nhiên ngành thuỷ sản vẫn là ngành sản xuất mũi nhọn với mức tăng trưởng cao, giải quyết nhiều công ăn việc làm. Năm 1999 giá trị xuất khẩu thuỷ sản đạt 979 triệu USD, tăng 57,6% so với năm 1995. 5. Ngành nghề nông thôn đang phát triển nhanh chóng, đóng góp quan trọng trong việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập ở nông thôn, nhưng công nghệ kỹ thuật và chất lượng sản phẩm thấp . Hiện nay ở nông thôn nước ta có nhiều cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, chế tạo, sửa chữa cơ khí, rèn, đúc, xây dựng, dệt, may, thêu ren, làm gốm sứ…Trong cả nước có khoảng 1450 làng nghề với 450 000 hộ, thu hút khoảng 1,2 triệu lao động tham gia. Tuy nhiên, do sức ép của dư luận cũ hình thành từ thời ngự trị của chế độ quản lý bao cấp, rất nhiều hộ gia đình giàu đã không dám thuê mướn công nhân, họ sử dụng chủ yếu lao động gia đình. Vấn đề đặt ra là công tác tư tưởng, công tác thông tin tuyên truyền bằng một phức hợp các phương tiện cần phải xếp ở một vị trí thích đáng. Làm được việc đó dư luận xã hội mới có tác động mạnh mẽ hơn, thúc đẩy nhanh tiến trình đổi mới nói chung và phát triển sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp nói riêng. Trình độ văn hoá và tay nghề của người lao động ở gia đình nói chung là thấp. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn của các cơ sở, hộ nông thôn còn rất thấp, chủ yếu là vốn tự có nên sản phẩm họ làm ra chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước, mặt hàng đơn điệu, chất lượng thấp, mẫu mã, bao bì kém. Cho đến nay, Việt nam vẫn là nước nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp. Các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn phát triển đã thúc đẩy quá ttình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Đến năm 1990 cơ cấu kinh tế nông thôn nông lâm ngư nghiệp 80%, công nghiệp 9,8%, dịch vụ 10,2%. Đến năm 1999 cơ cấu kinh tế nông thôn tương tự là: 70,2%-16,1%-13,7%. 6. Thu nhập và đời sống của tuyệt đại đa số nông dân đã được cải thiện rõ rệt nhưng nhìn chung vẫn còn thấp, bấp bênh, tình trạng thiếu việc làm, nghèo đói, du canh, du cư, di dân tự do đặt ra nhiều khó khăn cần khắc phục. Qua 15 năm đổi mới đời sống của phần đông nhân dân ta đã được cải thiện rõ rệt. Điều kiện sinh hoạt, vui chơi, giải trí được nâng lên. Tỷ lệ hộ đói nghèo năm 2000 chỉ còn là 10-11%. Bình quân thu nhập của người dân năm 2000 khoảng gần 350.000 đồng. Tuy nhiên đời sống của phần lớn dân cư nông thôn vẫn bị chi phối bởi thiên tai và sự lên xuống thất thường của giá cả thị trường. Đời sống của bà con nhân dân ở vùng núi, vùng sâu,vùng xa còn rất khó khăn. Do thu nhập của người nông dân chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp nên thu nhập của họ còn thấp, bấp bênh và chênh lệch ngày càng xa so với thành thị. Điều này thể hiện ở chỗ thu nhập giưã các hộ thuần nông và các hộ ngành nghề ở nông thôn nước ta đang có sự chênh lệch rất lớn và thực tế là sau khi đưa vào chế biến công nghiệp, giá trị các sản phẩm nông nghiệp cao hơn rất nhiều. Mặc dù Nhà nước đã có nhiều cố gắng lớn và đã đạt được thành quả lớn, song cho tới nay tình trạng di dân tự do và di canh di cư vẫn còn khá phổ biến ở các dân tộc ít người, những hộ gia đình nghèo khó. Những vấn đề trên đã gây nên khó khăn cho địa phương có dân đến, dân đi trong việc quản lý tổ chức và bố trí lao động, ngành nghề sản xuất cho phù hợp. Nhìn về tổng thể, những năm qua nông thôn Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều vấn đề lớn và khó khăn cần phải giải quyết. Để khai thác và phát huy được những tiềm năng đồng thời giải quyết những khó khăn yếu kém đó thì con đường duy nhất là phải thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chương II. Thực trạng công nghiệp - hoá hiện đại hoá nông thôn. I. Hiện trạng nông thôn Việt Nam bước vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá. - Đời sống của người nông dân nước ta còn rất thấp cho nên nhiều người nông dân thiếu vốn để sản xuất. Đồng thời do hạn chế về trình độ học vấn, nhận thức nên người nông dân khó có điều kiện tiếp nhận nguồn lực sản xuất và công nghệ mới. - Trong tình trạng nước ta dân số ngày càng đông, đất canh tác dần bị thu hẹp, các ngành nghề khác chưa phát triển lắm, cho nên ở nông thôn diễn ra tình trạng dư thừa nhiều sức lao động. Việc làm thường không đem lại thu nhập đảm bảo cuộc sống gia đình. - Thể chế, chính sách của nhà nước không bình đẳng so với thành thị khiến người dân ở nông thôn khó thoát khỏi cái nghèo. Cụ thể đối với công nghệ nông thôn chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng của nông nghiệp trong việc phát triển kinh tế xã hội. - Hạ tầng cơ sở cho sản xuất ở nông thôn như đường xá, cầu, hệ thống đIện, nước; văn hoá, giáo dục… còn thiếu và yếu kém. II. Những thuận lợi của nông thôn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá. - Sản lượng lương thực tăng liên tục, đây chính là thành tựu nổi bật nhất và có ý nghĩa chiến lược của nước ta trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá. Trên đất nước ta về cơ bản không còn nạn đói, dự trữ quốc gia và xuất khẩu lương thực cũng tăng lên đáng kể. - Tiềm lực của người nông dân được phát huy cả về nguồn lao động cũng như các phẩm chất cao quý. - Nền kinh tế nước ta đã và bắt đầu tiếp cận, hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế thương mại, nền khoa học công nghệ tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực với lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực, nguồn vốn, công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường phục sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; - Cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp và phục vụ nông nghiệp, nông thôn được tăng cường làm cho sản xuất đạt mức tăng trưởng khá cao và tương đối ổn định. - Hiện nay Đảng và Nhà nước đã coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, cố gắng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp xuống còn 50%. III. Những khó khăn và thách thức. - Cho đến nay Việt Nam vẫn là một trong vài chục nước nghèo nhất trên thế giới. Đặc biệt là ở nông thôn, trình độ phát triển kinh tế, năng suất lao động, hiệu quả kinh tế thấp. Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển hoá chậm, công nghiệp và dịch vụ chưa đủ sức thu hút được lực lượng lao động dư thừa trong nông thôn. Cơ sở vật chất kỹ thuật, nhất là cơ cấu hạ tầng còn mỏng và nhiều yếu kém, giao thông rất khó khăn về mùa mưa. - Môi trường nông thôn ngày càng xấu đi. Rừng núi nghèo, cạn kiệt, nguồn nước ngaỳ càng khan hiếm, đất đai bị bào mòn và suy thoái, tài nguyên sinh vật không được bảo tồn. Khả năng phòng chống và giảm nhẹ thiên tai còn nhiều hạn chế. - Sự phát triển sản xuất ở Việt nam lại diễn ra trong bối cảnh tỷ lệ tăng dân số cao 1,53% năm 2000 và tỷ lệ đói nghèo cao. Công tác giáo dục đào tạo, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, miền núi còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Tỷ lệ hộ nghèo tuy có giảm nhưng mức sống còn rất thấp. Căng thẳng xã hội về nguồn nhân lực dư thừa ngày càng trở nên nóng bỏng. - Sự chênh lệch ngày càng xa về mức sống vật chất và văn hoá giữa nông thôn và thành thị IV. Nguyên nhân của thực trạng - Nguyên nhân cơ bản của thành tựu đạt được đó là nhờ chính sách đổi mới tác động mạnh mẽ vào cuộc sống được đông đảo dân cư nông thôn hưởng ứng tích cực, đã thúc đẩy nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển vượt bậc. - Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được đưa vào thực tiễn sản xuất; kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển tạo đIều kiện cho phát triển kinh tế. - Việc cung cấp tín dụng cho hộ nông dân được mở rộng và mức vay đượ nâng lên, nhất là hình thức cho vay không phải thế chấp mở rộng đã giúp cho các hộ nghèo tiếp cận với nguồn vốn tín dụng, tạo điều kiện sản xuất phát triển. - Đặc biệt đó là sự quan tâm của các cấp Đảng bộ và chính quyền trong việc vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới vào nông nghiệp, nông thôn ở từng địa phương cụ thể cùng với sự nỗ lực cố gắng của dân cư nông thôn đã làm nên kỳ tích của nông nghiệp và nông thôn, tạo nền móng cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội. - Bên cạnh đó còn có các nguyên nhân làm cho nông nghiệp, nông thôn bị hạn chế trong việc sản xuất: Việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước còn chưa tốt, kém nghiêm túc. ở nhiều nơi, nhiều địa phương, sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành còn chưa nhanh nhậy, chủ động. Trong nhiều năm, chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chưa chú ý đúng mức tới việc bảo vệ môi trường. Trình độ dân trí thấp và nghèo đói đã làm cho dân cư nông thôn không hiểu biết được hết quyền lợi của mình và không có điều kiện vay vốn tín dụng. Chương III. Một số giảI pháp về công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. I. Quan đIểm và mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. 1. Quan điểm. - Công nghiệp hoá hiện đại, hoá nông nghiệp nông thôn phải tạo ra một nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh, đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng mạnh vào xuất khẩu. - Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, khai thác nguyên vật liệu tại chỗ, sử dụng nhiều lao động và yêu cầu ít vốn, chú trọng phát triển các cơ sở nhỏ và vừa kể cả qui mô hộ gia đình. - Công nghiệp nông thôn phải có trình độ công nghệ tiên tiến kết hợp với kỹ thuật truyền thống để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn phải gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế đô thị và các khu công nghiệp, trong đó các ngành công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động hiện đang tập trung ở đô thị nay được khuyến khích phát triển ở nông thôn. - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nông thôn phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên đất, nước, rừng. Đảm bảo những yêu cầu về bảo vệ , cải tạo môi trường. Chủ động phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, của sự biến động khí hậu bất lợi, tiếp tục giải quyết hậu quả chiến tranh để lại đối với môi trường. 2. Mục tiêu. Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp để tăng năng xuất lao động giải quyết việc làm. Mạng lưới giao thông nông thôn được mở rộng và nâng cấp. Hệ thống đê điều xung yếu được củng cố vững chắc, hệ thống thuỷ nông phát triển và phần lớn được kiên cố hoá. Hầu hết các xã được sử dụng điện, điện thoại và các dịch vụ bưu chính viễn thông cơ bản. Cố gắng nâng quĩ thời gian lao động ở nông thôn lên khoảng 80-85%, xoá đói giảm nghèo, nhanh chóng nâng cao thu nhập và đời sống dân cư nông thôn. Đưa nông thôn nước ta tiến lên văn minh hiện đại. Giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn khoảng 50%. II. Bước đI của công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. 1. Giai đoạn từ nay đến năm 2010. Đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta ra khỏi tình trạng lạc hậu, hiện đại hoá nông nghiệp trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu, hình thành các vùng chuyên canh tập trung, xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản ở nông thôn, chủ yếu là đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống cấp đIện, nước, thông tin liên lạc, áp dụng các thành tựu của cách mạng sinh học; phát triển công nghiệp ( chủ yếu là công nghiệp chế biến nông, lâm sản; dệt may; vật liệu xây dựng; thuỷ tinh; sành sứ…) ngành nghề thủ công và dịch vụ, giải quyết việc làm ở nông thôn. 2. Giai đoạn 2010-2020. Hiện đại hoá nông nghiệp bằng cơ giới hoá, điện khí hoá và áp dụng các thành tựu của cách mạng sinh học ở mức độ cao; hiện đại hoá cơ sở sản xuất công nghiệp cũng như các ngành nghề, dịch vụ để tăng nâng suất lao động, làm ra các sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. III. Một số phương hướng về phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn. 1. Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng, xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất trên qui mô lớn và từng bước hiện đại hoá. Dựa vào điều kiện của từng vùng, từng địa phương về khí hậu, đất đai… và các ngành truyền thống để thúc đẩy nhanh tiến độ áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật tạo ra các vùng chuyên canh sản xuất với qui mô lớn. Tạo ra một dây chuyền thông suốt từ khâu sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm. Từng bước phát triển các ngành nghề mới có khả năng; coi trọng các ngành sản xuất nông sản quí hiếm có lợi thế để phát huy tiềm lực đa dạng của nền nông nghiệp. Trong 10 năm tới phát huy từng vùng tập trung vào các định hướng: - Đồng bằng sông Hồng và các vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ: Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đưa nhiều lao động nông nghiệp sang các ngành công nghiệp , dịch vụ đi lập nghiệp ở nơi khác. Phát triển nông nghiệp hàng hoá đa dạng. Cùng với lương thực đưa vụ đông trở thành thế mạnh; hình thành các vùng chuyên canh cây ăn quả, thịt, hoa; mở rộng nuôi, trồng thuỷ sản. Phát triển mạnh công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các cụm, điểm công nghiệp, dịch vụ, làng nghề ở nông thôn. - Miền đông Nam bộ và các vùng trọng điểm phía nam: Phát triển mạnh cây công nghiệp (cao su, cà phê, điều, mía, bông…), cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, hình thành các vùng chuyên canh tập trung gắn với công nghiệp chế biến, tạo điều kiện thu hút thêm lao động từ đồng bằng sông Cửu Long. - Bắc trung bộ, duyên hải Trung bộ và các vùng kinh tế trọng điểm miềnTrung: Phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt; tăng nhanh cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, kết hợp với công nghiệp chế biến, đẩy mạnh trồng rừng. Có biện pháp hạn chế tác hại của thiên tai, lũ lụt, hạn hán nặng, kết hợp bố trí lại dân cư. Phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường toàn dải ven biển. -Trung du và miền núi Bắc bộ (tây bắc và đông bắc): Phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây đặc sản; chăn nuôi đại gia súc gắn liền với chế biến. Tạo rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà, rừng nguyên liệu công nghiệp, gỗ trụ mỏ. - Tây nguyên: Tây nguyên là nơi có lợi thế về phát triển nông, lâm nghiệp kết hợp với công nghệ chế biến thực phẩm. Phát triển nhanh theo hướng thâm canh là chính đối với các cây nông nghiệp gắn với thị trường xuất khẩu (cà phê, cao su, chè, bông…), chăn nuôi đại gia súc; trồng và bảo vệ rừng, cây dược liệu, cây đặc sản và công chế biến nông, lâm sản. - Đồng bằng sông Cửu Long: Tiếp tục phát huy vai trò của vùng lúa và nông sản, thuỷ sản xuất khẩu trong cả nước; đẩy mạnh sản xuất và nâng cao chất lượng lương thực, rau quả, chăn nuôi, thuỷ sản hàng hoá. Phát triển công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ cho nông nghiệp; chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, dịch vụ. Cố gắng đến năm 2010 tổng sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng 40 triệu tấn. Giá trị gia tăng nông nghiệp (kể cả thuỷ sản, lâm sản) tăng bình quân hàng năm 4,0-4.5%. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 16-17%; tỷ trọng các ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng lên khoảng 25%. Thuỷ sản đạt sản lượng 3,0-3,5 triệu tấn (trong đó 1/3 là sản phẩm nuôi, trồng). Bảo vệ 10 triệu ha rừng tự nhiên, hoàn thành chương trình trồng 5 triệu hecta rừng. Kim ngạch xuất nhập khẩu nông, lâm, thuỷ sản đạt 9-10 tỷ USD, trong đó thuỷ sản khoảng 3,5 tỷ USD. 2. Thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp 2.1. Thuỷ lợi hoá Tiếp tục phát triển và hoàn thiện về cơ bản hệ thống thuỷ lợi ngăn mặn, giữ ngọt, kiểm soát lũ, đảm bảo tưới tiêu, an toàn, chủ động trong sản xuất nông nghiệp (kể cả cây công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản) và đời sống nông dân. Đối với những khu vực thường bị bão, lũ, cùng với các giải pháp hạn chế thiên tai, phải điều chỉnh qui hoạch sản xuất và dân cư thích nghi với điều kiện thiên nhiên. Nâng cao năng lực dự báo thời tiết và khả năng chủ động phòng chống thiên tai, hạn chế thiệt hại. Tới năm 2020 hoàn thành cơ bản việc xây dựng các công trình tưới tiêu nước cho các vùng trồng lúa, tưới nước và tiêu úng cho 2 triệu ha rau màu. 2.2. Phát triển giao thông nông thôn. Phát triển hệ thống đường giao thông chất lượng tốt tới các tụ điểm công nghiệp nông thôn và trong các vùng chuyên canh tập trung. Từng bước làm đường tới những xã chưa có đường ôtô tới trung tâm xã, nâng cấp hệ thống đường giao thông nông thôn, các tuyến quốc lộ nối với các vùng trong nước quốc tế; nâng cấp một số cảng biển, sân bay để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thông, vận chuyển. 2.3 Cơ giới hoá. Thực hiện cơ giới hoá là một nhiệm vụ nặng nhọc, khẩn trương, sử dụng các loại máy móc thiết bị có công suất thích hợp để tạo năng suất lao động cao. Tới năm 2010, phấn đấu đạt tỷ lệ cơ giới hoá khâu làm đất ít nhất là 70%, tuốt lúa 80%, cơ giới hoá khâu tưới tiêu nước 70%; áp dụng trên diện rộng máy thu hoạch lúa, ngô, mía… máy móc làm vườn. 2.4. Điện khí hoá và thông tin liên lạc. Phát triển mạng lưới cung cấp điện ở nông thôn để đạt tới năm 2010 toàn bộ dân cư nông thôn có điện, đảm bảo đáp ứng yêu cầu về điện của các nghành sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn. Khai thác có hiệu quả các hồ chứa nước chống lũ và làm thuỷ điện ở vùng Bắc trung bộ, duyên hải Trung bộ, đặc biệt là vùng đất phía tây. Phát triển thuỷ điện lớn và vừa ở Tây nguyên. Xúc tiến nghiên cứu và xây dựng thuỷ điện ở Sơn la. Nhà nước tập trung đầu tư để nhanh chóng hoàn thành phủ sóng phát thanh truyền hình, phát triển mạng điện thoại, đa dạng hoá và hỗ trợ các hình thức đưa thông tin tới người dân, nhất là các thông tin về thị trường và công nghệ. 2.5. ứng dụng các thành quả của cách mạng sinh học áp dụng nhanh các thành tựu của cách mạng sinh học để tạo và nhân nhanh giống cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là áp dụng các thành tựu về giống có ưu thế lai. Đưa nhanh công nghệ mới vào sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, ứng dụng công nghệ sạch trong nuôi, trồng và chế biến rau quả, thực phẩm. Hạn chế sử dụng hoá chất độc hại trong nông nghiệp. Xây dựng một số khu vực công nghệ cao. Tăng cường đội ngũ, nâng cao năng lực phát huy tác dụng của cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. 3. Phát triển công nghiệp, dịch vụ nông thôn. Phát triển công nghiệp, dịch vụ nông thôn là một lối thoát cơ bản của nền nông nghiệp hiện đại hoá, là hướng chủ yếu và lâu dài để tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, đô thị hoá nông thôn, rút ngăn khoảng cách về mức sống giữa nông thôn và thành thị trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hoá đất nước. 3.1. Công nghiệp hoá chế biến nông lâm thuỷ sản. - Chế biến nông sản Công nghiệp chế biến nông sản tập trung vào những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, có thế mạnh cạnh tranh trên thế giới, đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn cho đất nước như gạo, cà phê, cao su, chè, hạt điều, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng không thấp hơn 12%. Chuyển một phần doanh nghiệp chế biến nông sản từ thành phố về nông thôn. Tới năm 2010 phải đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3,5 tỷ USD, năm 2020 trên 6 tỷ USD. - Chế biến lâm sản. Cần phát triển ngành công nghiệp chế biến lâm sản của nước ta để tới năm 2020 đạt ngang tầm vói các nước ASEAN và sau đó là các nước châu á khác. Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích làm các mặt hàng thủ công, mỹ nghệ, sử dụng ít nguyên liệu, nhiều lao động, đạt giá trị cao. Mục tiêu tới năm 2010 đạt 100000 m3 sản phẩm/năm; duy trì và phát triển các cơ sở chế biến lâm đặc sản như nhựa thông, quế, hồi… - Chế biến thuỷ sản Tiếp tục tăng cường trang bị nâng cao chất lượng sản phẩm của các cơ sở hiện có, đồng thời mở cửa rộng công suất chế biến để tới năm 2010 đạt giá trị xuất khẩu 1,8 tỷ USD, năm 2020 đạt 2,5 tỷ USD. 3.2. Phát triển các ngành công nghiệp không dùng nguyên liệu là sản phẩm nông lâm ngư nghiệp. Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp ở nông thôn không sử dụng nguyên liệu là sản phẩm của nông, lâm, ngư nghiệp nhưng sử dụng nhiều lao động và vật liệu tại chỗ như: dệt may mặc, sành sứ, thuỷ tinh. Kim ngạch xuất khẩu từ các ngành này có thể đạt tới trên 10 tỷ USD vào năm 2010, 20 tỷ USD vào năm 2020. 3.3. Phát triển các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp quy mô hộ gia đình. Nhà nước có chính sách hỗ trợ tích cực để khôi phục các làng nghề, khuyến khích các hộ gia đình bỏ vốn đầu tư vào các loại ngành nghề đa dạng khác bao gồm: chế biến nông, lâm thuỷ sản, sản xuất gốm, sứ. Tới năm 2010 đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 0,5 tỷ USD, tới năm 2020 đạt 1 tỷ USD. 4. Một số nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn trong những năm trước mắt. 4.1. Phương hướng chung Việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở mỗi vùng trước hết phải do dân cư các vùng đó chủ động thực hiện theo định hướng của Nhà nước. Nhà nước có thể hỗ trợ, nhưng không làm thay, và cũng chỉ hỗ trợ trên cơ sở năng lực nội sinh của mỗi vùng. Các địa phương dù là trọng điểm, cũng không thể trông chờ vào nguồn tài trợ của Nhà nước. Hơn nữa, các khoản hỗ trợ của Nhà nước cũng phải được tính toán, quyết định trên cơ sở hiệu quả cụ thể, rõ ràng, cuối cùng của mỗi dự án. Cần tránh biến công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn thành một phong trào, nơi nào, địa phương nào cũng phải làm để khỏi thua kém nơi khác, địa phương khác. Mặt khác, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn không chỉ là sự nghiệp của riêng dân cư nông thôn mà mỗi ngành đều có trách nhiệm nhận thức rõ sự cần thiết của nó để có các chương trình hành động cụ thể thích hợp. Chương trình phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn của mỗi đơn vị phải phù hợp với khả năng của từng ngành, đơn vị, phải phục vụ nhu cầu cụ thể của nông nghiệp và nông thôn, đồng thời cố gắng có những địa chỉ áp dụng cụ thể. Nhà nước với chức năng điều phối các hoạt động của toàn xã hội, cần tăng cường hơn nữa các hoạt động riêng rẽ của các ngành, các địa phương, biến các chương trình, mục tiêu riêng rẽ thành chương trình, mục tiêu liên ngành, đồng bộ, hướng tới những kết quả thiết thực cuối cùng, có khả năng giải quyết vấn đề một cách bền vững, tránh sự mất cân đối không cần thiết. 4.2. Một số nội dung cơ bản. Sự thành công công ngiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn ở nước ta phụ thuộc rất lớn vaò vấn đề xác định đúng đắn nội dung và hướng đi cho nông nghiệp trong giai đoạn trước mắt. Trên quan điểm đó, để phát triển nông nghiệp và nông thôn cần phải giải quyết tốt một số vấn đề cơ bản sau: - Thứ nhất, từng bước thực hiện cơ khí hoá, tự động hoá, hoá học hoá, tin học hoá trong các ngành chế biến nông, lâm, thuỷ sản. Đưa điện vào nông nghiệp, nông thôn, ưu tiên phục vụ thuỷ lợi hoá và chế biến nông, lâm, hải sản. Tận dụng các điều kiện thiên nhiên như sức nước để phát triển thuỷ lợi nhỏ phục vụ sản xuất và đời sống ở nông thôn, đặc biệt ở vùng cao và vùng sâu, đẩy mạnh cơ giới hoá các khâu gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch. Cơ giới hoá và đa dạng hoá phương tiện và các thành phần kinh tế tham gia khâu vận tải để chuyên chở hàng hoá và hành khách nhằm mở rộng giao lưu kinh tế ở các vùng nông thôn. Tận dụng phân hữu cơ từ nhiều nguồn, sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu bệnh với quy trình kỹ thuật phù hợp với từng loại cây trồng để đạt được năng suất, chất lượng, hiệu quả cao nhất. Thực tế đã cho thấy, một nền sản xuất độc canh đơn điệu sản xuất thủ công là chủ yếu, năng suất thấp thì không thể đưa nông dân nước ta ra khởi tình trạng lạc hậu đói nghèo. Chỉ có phát triển nông nghiệp toàn diện và đi lên hiện đại để đạt năng suất cao, chất lượng tốt, chủng lọai phong phú mới cải thiện đời sống dân cư nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn tiến lên đỉnh cao. Trên quan điểm đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, nơi nào, địa phương nào sớm tìm hướng đi toàn diện cho nông nghiệp và lợi dụng được thế mạnh của mình để dần phá thế độc canh cây lúa, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất và chuyển hướng sang sản xuất hàng hoá, đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ nông sản phẩm… thì nơi đó, nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển, đưa lại thu nhập cao, đời sống bà con nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn thay đổi.Và ngược lại, nơi nào vẫn ở tình trạng độc canh cây lúa thì ở đó đời sống của người dân vẫn còn cực khổ. Nông nghiệp không thể tự đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ; muốn phát triển nhanh công nghiệp phải có sự tác động mạnh mẽ của công nghiệp và dịch vụ. Công nghiệp chế biến và các hoạt động dịch vụ trên địa bàn nông thôn được tổ chức tốt sẽ tạo đIều kiện thuận lợi cho trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thuỷ, hải s

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docT121.doc
Tài liệu liên quan