Tiểu luận Nghiên cứu thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành

MỤC LỤC

 

I Khái quát về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự 1

1. Khái niệm thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự 1

2 Ý nghĩa của Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. 1

II Quy định của pháp luật về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự 2

1/ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra. 2

1.1/ Thẩm quyền khởi tố của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân: 2

1.2/ Thẩm quyền khởi tố của Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân. 4

1.3/ Thẩm quyền khởi tố của Cơ quan điều tra thuộc VKSNDTC 6

2/ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát. 7

3/ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Toà án. 8

4/ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. 9

III Hướng hoàn thiện pháp luật về Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. 12

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

 

 

doc17 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 1134 | Lượt tải: 15download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Nghiên cứu thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hại đặc biệt lớn cho xã hội mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 . Tội phạm phức tạp là tội phạm có nhiều tính tiết phải xác minh hoặc do nhân thân vị thế xã hội của người thực hiện hành vi phạm tội có những điểm khác biệt so với trường hợp bình thường do vụ án có liên quan đến nhiều nghành, nhiều cấp địa phương. Ví dụ: ngày 22/1/2010, cơ quan cảnh sát điều tra, Bộ Công an đã khởi tố vụ án về tội “môi giới hối lộ và đưa hối lộ”; sau đó đã khởi tố bị can đối với Trần Văn Quế (tức Minh "đầu bò"), Phạm Văn Long, Hoàng Thị Lộc về tội môi giới hối lộ và đưa hối lộ Trích bài “Điều tra cáo buộc một công an nhận hối lộ 15 tỷ đồng” báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh ngày 11/03/2011 + Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp tỉnh khởi tố vụ án hình sự về các tội khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh, hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện nhưng xét tấy cần trực tiếp điều tra. Ví dụ: Ngày 15-6-2010, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” Trích bài “Điều tra làm rõ và truy tố vụ án hơn 1.879m3 gỗ “vô chủ”” báo Bình Phước online ngày 27/04/2011 + Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện khởi tố vụ án hình sự về các tội khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, trừ các tội thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT thuộc VKSNDTC và cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân. Ví dụ: Chiều 25-2, lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân Nha Trang xác nhận Cảnh sát điều tra Công an TP Nha Trang vừa ra quyết định khởi tố vụ án “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ” xảy ra ngày 24-4-2010 tại xã Vĩnh Phương, Nha Trang Trích bài “Khởi tố vụ án cảnh sát giao thông gây thương tích” báo Tuổi trẻ Online ngày 25/02/2011 . Đây là điểm mới trong quy định của BLTTHS 2003 và PLTCĐTHS 2004 so với quy định trong các văn bản pháp luật trước đây. Trước đây theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 PLTCĐTHS 1989, thẩm quyền điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra công an cấp huyện, chỉ được điều tra, xét xử đối với tội phạm mà BLHS quy định hình phạt từ 7 năm tù trở xuống. Hiện nay, theo quy định tại Điều 170 của BLTTHS 2003, TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử đối ới những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng có mức cao nhất khung hình phạt từ 15 năm tù trở xuống. Do vậy, PLTCĐTHS 2004 quy định CQĐT cấp huyện có thẩm quyền khởt tố, điều tra tương ứng với thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện. - Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự về các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phạm phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh và các tội phạm theo quy định tại các Điều: 180, 181, 221, 222, 223, 230, 231, 232, 236, 263, 264, 274 và 275 của BLHS. Ví dụ: ngày 28-4-2011, Cơ quan An ninh điều tra- Công an tỉnh Gia Lai đã tiến hành lệnh bắt, khám xét và tạm giam Nguyễn Công Chính về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết” theo điều 87 Bộ Luật Hình sự. Trích bài Bắt và tạm giam Nguyễn Công Chính về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết” báo baomoi.com ngày 29/04/2011 - Bộ luật BLTTHS 1988 chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền của cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân nên trong thực tiễn đã dẫn đến việc tranh chấp về thẩm quyền. Bộ luật BLTTHS 2003 đã khắc phục những hạn chế này bằng việc quy định rõ thẩm quyền trong nội bộ CQĐT các cấp, các nghành nhằm hạn chế bớt việc vi phạm thẩm quyền, giúp cho việc giải quyết vụ án nhanh chóng. 1.2/ Thẩm quyền khởi tố của Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân. Nghiên cứu các quy định của pháp luật TTHS về thẩm quyền khởi tố của các CQĐT trong Quân đội nhân dân thì thấy rằng có một số điểm khác biệt so với quy định về thẩm quyền khởi tố của CQĐT trong các nghành khác, đó là đối tượng phạm tội thuộc thẩm quyền khởi tố của CQĐT trong Quân đội nhân dân gồm: + Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, dẫn quân, tự vệ phối thuộc chiến đấu trong quân đội … + Những người không thuộc các đối tượng trên mà phạm tội liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội. Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự., và cũng là thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của cơ quan điều tra hình sự các cấp tương đương với thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cùng cấp đó. Việc phân cấp các CQĐT trong Quân đội nhân dân, theo quy định tại Điều 15 PLTCĐTHS 2004 thì: 1. Cơ quan điều tra hình sự khu vực điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII đến Chương XXIII của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự khu vực, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương. 2. Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại khoản 1 Điều này khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự quân khu và tương đương hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự khu vực nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. Ví dụ: Sáng 7/5, Đại tá Phan Đức Nhâm - Chính ủy Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Gia Lai đã xác nhận tin về việc cơ quan điều tra hình sự Quân khu V vừa khởi tố bắt giam Thiếu tá Dương Văn Nghiệp -Trợ lý Quân lực- Bộ Chỉ huy Biên phòng Gia Lai. Đại tá Nhâm cho biết Nghiệp bị khởi tố về tội: “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, bị tạm giam 4 tháng kể từ ngày 26/4/2007. Trích bài “Khởi tố bắt giam thiếu tá trọ lý quân lực Bộ chỉ huy Biên phòng Gia Lai” trên báo tin247.com ngày 09/05/2007 3. Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. Cơ quan An ninh điều tra trong Quân đội nhân dân khởi tố những tội phạm được quy định tại các Chương XI và Chương XXIV của BLHS. Khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự các cấp, cụ thể: 1. Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm trên khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự quân khu và tương đương. 2. Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. 1.3/ Thẩm quyền khởi tố của Cơ quan điều tra thuộc VKSNDTC Theo quy định của Điều 18 PLTCĐTHS 2004, CQĐT thuộc VKSNDTC có thẩm quyền khởi tố một số loại tọi xâm phạm hoạt động tư pháp. Hoạt động của các cơ quan tư pháp có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động chung của Bộ máy nhà nước. Những hành vi phạm tội xảy ra trong hoạt động tư pháp một mặt xâm hại đến úy tín cũng như việc thự hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này, mặt khác xâm phạm tới khách thể mà luật hình sự bảo vệ. Không phải tất cả các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp đều thuộc thẩm quyền khởi tố vụ án của CQĐT của VKSNDTC mà chỉ có một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người thực hiện tội phạm là cán bộ thuộc cơ quan tư pháp mới thuộc thẩm quyền khởi tố của CQĐT của VKSNDTC. Tương tự nhưu các CQĐT trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, CQĐT của VKSNDTC cũng có thẩm quyền khởi tố căn cứ vào thẩm quyền xét xử của Tòa án. Theo đó: Cơ quan điều tra của VKSNDTC có thẩm quyền khởi tố vụ án về một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND. Ví dụ: Ngày 23.12, cơ quan điều tra hình sự viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với 2 người của vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế - chức vụ về hành vi nhận hối lộ. Cơ quan điều tra của VKS quân sự Trung ương có thẩm quyền khởi tố những trường hợp thuộc thẩm quyền khởi tố của CQĐT của VKSNDTC, khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Trước đây, Điều 18 PLTCĐTHS 1989 quy định CQĐT của VKSND có thẩm quyền khởi tố đối với các chủ thể thực hiện tội phạm có thể là cán bộ tư pháp hoặc những người khác. Quy định này đã được sửa đổi, Điều 18 PLTCĐTHS 2004 quy định thẩm quyền khởi tố của CQĐT thuộc VKSNDTC hẹp hơn, đó là chỉ khởi tố vụ án hình sự về một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp với điều kiện người phạm tội là cán bộ trong cơ quan tư pháp mà không phải bất kỳ ai. Quy định như vậy nhằm bảo đảm cho việc khởi tố vụ án hình sự được kịp thời, chính xác khách quan tạo điều kiện cho VKS có thời gian tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát tư pháp. Nhận xét về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra. Thẩm quyền khởi tố vụ án chủ yếu được trao cho các cơ quan điều tra. Đây là lực lượng chính bảo vệ xã hội, lực lượng tiếp nhận và giải quyết các vấn đề an ninh trật tự, xã hội, quyền lợi của nhân dân. Pháp luật quy định thẩm quyền khởi tố vụ án rất rộng cho chủ thể này là phù hợp với công việc, nhiệm vụ của nhóm chủ thể này. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn nhiều trường hợp việc khởi tố vụ án hình sự không đúng thẩm quyền của mình, ví dụ như: Ngày 07/04/2011, cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã công bố các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam ông Trần Văn Mười - Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Trích bài “Khởi tố vụ án, bắt tạm giam Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự” báo Công an nhân dân ngày 08/04/2011 . Ông Mười bị bắt với tội danh "lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ". Theo điều 12 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự thì cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an không có thẩm quyền điều tra Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy định tại Điều 281 BLHS. 2/ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát được quy định tại Khoản 2 Điều 36, Khoản 1 Điều 104, Khoản 1 Điều 112 BLTTHS 2003, ngoài ra thẩm quyền khởi tố vụ án của VKS còn được quy định tại Khoản 1 Điều 13 luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Khởi tố là một trong các nhiệm vụ của nghành kiểm sát nhân dân. Thông qua đó, VKS thực hiện một cách có hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự nhằm đảm bảo cho mọi tội phạm được pháp hiện, tránh tình trạng oan sai đối với người vô tội. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 104 BLTTHS 2003 và Khoản 1 Điều 109, VKS có quyền khởi tố vụ án hình sự trong hai trường hợp: Khi kiểm sát khởi tố vụ án mà có căn cứ để huỷ quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT, Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Đây là trường hợp mà quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan này không đúng với quy định về căn cứ không khởi tố vụ án hình sự tại Điều 107 BLTTHS 2003. Việc quy định thẩm quyền khởi tố như vậy là hoàn toàn hợp lí, phù hợp với chức năng kiểm sát. Khi hội đồng xét xử yêu cầu VKS khởi tố vụ án. Trong khi xét xử vụ án, nếu phát hiện ra người phạm tội mới, đồng phạm mới mà nếu tách riêng ra thành vụ án mới không làm ảnh hưởng tới sự khách quan, sự thật của vụ án đang giải quyết thì Tòa án có thể yêu cầu VKS khởi tố vụ án, khi xem xét yêu cầu của Tòa án có căn cứ pháp luật thì VKS sẽ ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra vụ án. Theo quy định tại Điều 87 BLTTHS 1988, khi xác định được dấu hiệu tội phạm thì CQĐT, VKS ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Với quy định này thì phạm vi khởi tố của CQĐT, VKS là như nhau. Điều đó dẫn đến tình trang việc khởi tố vụ án bị chồng chéo, làm giảm hiệu quả của công tác thực hành quền công tố và kiểm sát tư pháp của VKS. Khắc phục tình trạng này, BLTTHS 2003 đã thu hẹp phạm vi khởi tố vụ án hình sự của VKS nhằm đảm bảo cho VKS tập trung vào thực hiện chức năng chính của mình là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Nhận xét về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát. Theo Khoản 1 Điều 103 thì: “Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền” “Cơ quan điều tra phải kiểm tra, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan Nhà nước; nếu xác định có dấu hiệu tội phạm xảy ra thì quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 của BLTTHS thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự”. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều trường hợp CQĐT không ra văn bản quyết định nào, gây khó khăn cho công tác kiểm sát. Vì thế cần mở rộng thẩm quyền của VKS trong trường hợp này. Điều 112 BLTTHS 2003 có quy định: “Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;…”. Quy định như trên không thống nhất với quy định tại Điều 104 vì VKS chỉ được khởi tố vụ án trong hai trường hợp đã được quy định cụ thể, quy định như trên là không rõ ràng nếu hiểu như BLTTHS 1988 thì VKS có thẩm quyền khởi tố tất cả các vụ án như CQĐT. 3/ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Toà án. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Toà án chỉ thuộc về Hội đồng xét xử. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 104 BLTTHS 2003 thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử mang tính lựa chọn. Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được người phạm tội mới cần phải điều tra. Tội phạm mới là hành vi phạm tội mới được phát hiện và chưa vị khởi tố vụ án hình sự. Người phạm tội mới là người phạm tội chưa bị phát hiện hoặc cũng có thể là đồng phạm trong vụ án dã vị khởi tố. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu có căn cứ cho rằng bị cáo có đồng phạm khác thì thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo Điều 179 BLTTHS 2003. Tại phiên tòa xét xử nếu xác định bị cáo có đồng phạm thì Hội đồng xét xử ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung. Khi phát hiện tội phạm mới hoặc người phạm tội mới tại phiên tào thì không phải mọi trường hợp Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ án. Nếu tội phạm mới hoặc người phạm tội mới có liên quan đến vụ án đang xét xử, không thể tách ra thành vụ án độc lập thì giải quyết trong cùng một vụ án để đảm bảo sự thật khách quan toàn diện và đầy đủ thì Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Như vậy, những tội phạm mới hoặc người phạm tội mới mà Hội đồng xét xử quyết định khởi tố phải là những tội, những người không liên quan đến vụ án đang xét xử hoặc có liên quan nhưng có thể tách ra giải quyết một cách độc lập. Nhận xét về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án. Thẩm quyền khởi tố của Tòa án được quy định từ khi có BLTTHS 1988 tại Đoạn 2 Điều 87: “Tòa án ra quyết định khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện tội phạm hoặc người phạm tội mới cần điều tra” tuy nhiên trong quá trình áp dụng thì rất ít trường hợp Tòa án (Hội đồng xét xử) ra quyết định này, điều đó cũng phần nào phản ánh tính không khả thi của quy định này. 4/ Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Theo quy định tại Đoạn 1 Điều 104 BLTTHS 2003 và các Điều 19, 20, 21, 22 của PLTCĐTHS 2004 thì các cơ quan khác có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự gồm: đơn vị bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. Đây là những cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau nhưng do tính chất đặc thù trong lĩnh vực quản lý và địa bàn hoạt động ở những nơi biên giới, hải đảo… Vì vậy, pháp luật quy định cho các cơ quan này cũng có thẩm quyền khởi tố một số vụ án hình sự là hết sức đúng đắn, cần thiết nhằm phát hiện và xử lý kịp thời, nhanh chóng, chính xác tội phạm, người phạm tội. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển. Các cơ quan nói trên không phải là CQĐT chuyên trách nên pháp luật TTHS quy định thẩm quyền khởi tố trong phạm vi hạn chế phụ thuộc vào lĩnh vực quản lý của từng cơ quan. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của những cơ quan này được xác định theo sự việc và trường hợp pháp hiện tội phạm cụ thể: “Bộ đội biên phòng khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Chương XI và các điều 119, 120, 153, 154, 172, 180, 181, 188, 192, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 236, 263, 264, 273, 274 và 275 của Bộ luật hình sự xảy ra trong khu vực biên giới trên đất liền, bờ biển, hải đảo và trên các vùng biển do Bộ đội biên phòng quản lý” Điều 1 Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, năm 2009 mà “Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng thì ra quyết định khởi tố vụ án”; “Đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án” và “chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án”. Cơ quan Hải quan khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà pháp hiện tội phạm quy định tại Điều 153 và Điều 154 BLHS xảy ra trong khu vực quản lý của Hải quan thì Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu có quyền: “Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng thì ra quyết định khởi tố vụ án” “Đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án” và “chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án”. Cơ quan Kiểm lâm khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện hành vi phạm tội quy phạm tại các Điều 175, 189, 190, 191, 240, 272 của BLHS. Ví dụ: Ngày 6-4-2011, Hạt kiểm lâm huyện Lạc Dương đã khởi tố vụ án hình sự về tội hủy hoại tại tiểu khu 123, khu vực To Poh, xã Đạ Chais thuộc lâm phần do Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim và Công ty TNHH Khánh Giang quản lý Trích bài “Vụ hủy hoại thông tại Lạc Dương, Lâm Đồng, báo tuoitre.vn ngày 0/04/2011 . Các đơn vị thuộc lực lượng Cảnh sát biển khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Chương XI và các điều 153, 154, 172, 183, 188, 194, 195, 196, 212, 213, 221, 223, 230, 231, 232, 236, 238, 273 và 274 của Bộ luật hình sự xảy ra trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do lực lượng Cảnh sát biển quản lý. Điều 2 Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, năm 2009 Ngoài ra, đối với Bộ đội biên phòng và lực lượng Cảnh sát biển, PLTCĐTHS 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2009 còn quy định thẩm quyền khởi tố theo lãnh thổ. Bộ đội biên phòng khởi tố vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố của mình xảy ra ở khu vực biên giới trên đất liền, bờ biển, hải đảo và trên các vùng biển do Bộ đội biên phòng quản lý. Lực lượng Cảnh sát biển khởi tố vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố của mình xảy ra trên các vùng biển, thềm lục địa của Việt Nam do lực lượng Cảnh sát biển quản lý. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được PLTCĐTHS 2004 quy định rõ tai các điều 23, 24, 25 cụ thể như sau: + Các cơ quan khác của lực lượng Cảnh sát trong Công an nhân dân khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền Điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra quy định tại Điều 11 PLTCĐTHS 2004 thì có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Theo Điều 3 Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự 2004 ban hành năm 2009 thì thẩm quyền này đã được mở rộng hơn bao gồm các chủ thể có thẩm quyền: Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Cục Cảnh sát giao thông đường thuỷ, Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp … Các cơ quan khác của lực lượng an ninh trong Công an nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu của tội phạm thì Cục trưởng cục an ninh, Trưởng các phòng an ninh của Công an cấp tỉnh ra quyết định khởi tố vụ án. Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn hoặc tương đương trở lên trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT trong Quân đọi đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì có quyền khởi tố vụ án hình sự. Việc quy định của pháp luật như trên một mặt giúp cho việc phát hiện tội phạm được nhanh chóng, chính xác, không bỏ lọt tội phạm, mặt khác thể hiện sự phối hợp trong hoạt đọng đấu tranh phòng chống tội phạm giữa các CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều ra vì mục đích phát hiện kịp thời, chính xác tội phạm, người phạm tội. Nhận xét về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Việc quy định thẩm quyền khởi tố cho những chủ thể này là hợp lí với nhiệm vụ của các chủ thể này. Về chuyên môn, nghiệp vụ thì các chủ thể này đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. III Hướng hoàn thiện pháp luật về Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Sửa đổi, bổ sung quy định của BLTTHS 2003 theo hướng bỏ thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử. Trong thực tiễn, quy định về quyền khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử không được thực hiện bởi những lý do sau: + Hội đồng xét xử không có đủ điều kiện kiểm tra, xác minh các thông tin về tội phạm. Để khởi tố vụ án hình sự cần phải có quá trình kiểm tra, xác minh các tình tết có liên quan đến sự việc phát hiện tội phạm, có thể là những tình tiết phức tạp, có liên quan đến nhiều người, phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm khác nhau, thậm chí còn phải tiến hành một số hoạt động điều tra có tính chất phức tạp trước khi khởi tố vụ án hình sự. Như vậy, Hội đồng xét xử không thể có đủ điều kiện để đảm bảo thực hiện việc này. Hơn nữa, chức năng chính của Tòa án nói chung và Hội đồng xét xử nói riêng là xét xử, vì vậy tại phiên tòa các thông tin về tội phạm và người phạm tọi mới cũng chỉ có thể được phản ánh qua lời khai của người tham gia tố tụng, từ việc xem xét, đánh giá những tài liệu có trong hồ sơ mà các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được trước đó cung cấp và đã biết nhưng chưa đủ căn cứ để xác định dấu hiệu tội phạm nên đã không khởi tố vụ án hình sự. Như vậy, sẽ là khó chính xác nếu chưa kiểm tra, xác minh lại những thông tin này bằng các hoạt động ngoài phiên tòa mà đã ra quyết định khởi tố vụ án. + Mục tiêu của khởi tố vụ án hình sự là bảo đảm được yêu cầu phải nhanh chóng, kịp thời tiến hành các hoạt động tố tụng sau khi khởi tố vụ án hình sự. Nếu trong trường hợp các cơ quan khác không phải Hội đồng xét xử khởi tố vụ án thì hoạt động điều tra được tiến hành ngay sau khi khởi tố vụ án hình sự cho dù quyết định đó có phải gửi cho VKS để kiểm sát việc khởi tố vụ án. Ngay cả khi chưa xác định được thẩm quyền điều tra thì cơ quan nào phát hiện tội phạm cũng được tiến hành ngay những hoạt động điều tra cần thiết để kịp thời thu thập chứng cứ của vụ án. Nhưng trong trường hợp là Hội đồng xét xử khởi tố thì Hội đồng xét xử không có khả năng tiến hành hoạt động điều tra. Do vậy, quyết định phải được gửi cho VKS xem xét ra quyết định việc điều tra. Trong trường hợp xét thấy quyết định trên không có căn cứ thì VKS kháng nghị lên Tòa án cấp trên. Thực hiện thủ tục trên mất nhiều thời gian cũng như tạo khó khăn cho việc điều tra thu thập chứng cứ. Vì vậy nên bỏ quy định về thầm quyền khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử vì thực tế quy định này không có tính khả thi. Với chức năng duy nhất là xét xử, cần tạo điều kiện đẻ Hội đồng xét xử tập trung hoàn thành tốt chức năng bằng việc bỏ quy định về thẩm

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBài tập lớn học kì TTHS câu 7 thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự.doc