Tiểu luận Những tư tưởng Nho giáo và vận dụng vào quản lý nền Kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay

MỤC LỤC

 

Lời nói đầu 0

I . Nội dung cơ bản tư tưởng Nho giáo 1

1. Hoàn cảnh ra đời trường phái triết học Nho giáo. 1

2. Những tư tưởng Nho giáo cơ bản. 2

2.1 Về đạo đức. 2

2.2 Về chính trị. 3

2.3 Về nhận thức luận. 7

II. Vận dụng tư tưởng Nho giáo vào quản lý nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. 9

1. Thực trạng quản lý nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. 9

2. Vận dụng tư tưởng Nho giáo vào quản lý nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. 10

Kết luận 18

Danh mục tài liệu tham khảo 20

 

 

doc22 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 08/09/2013 | Lượt xem: 5080 | Lượt tải: 125download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Những tư tưởng Nho giáo và vận dụng vào quản lý nền Kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
một xã hội lý tưởng. Do đó, Khổng Tử đã chủ trương trị nước bằng phương pháp “ Nhân trị” và đề cao giáo hoá con người. Théo sách lược Nhân trị thì hai yếu tố nhân ái và tôn kính là nền tảng của chính trị. Vì vậy, Khổng Tử quan tâm đên việc hướng dẫn giai cấp lãnh đạo quốc gia tu thân để biết thương dân và trị nước một cách anh minh. Muốn được quốc thái dân an, lãnh tụ quốc tụ quốc gia phải thi hành đạo Nhân, luôn luôn sử xự như bậc quân tử. Khi tham chánh, nhà lãnh đạo phải có “ Chính danh”. Chủ nghĩa Chính danh biểu hiện của sách lược Nhân trị. Vào thời kỳ đen tối của Khổng Tử, người dân Trung Hoa đã chịu đựng quá nhiều đau khổ bởi chính trị tàn bạo được bao bọc bởi lớp đạo đức giả. Do đó, Khổng Tử đưa ra thuyết Chính danh với hoài bão chấm dứt những điều xấu của vua chúa. Thuyết Chính danh cho rằng, khi nhà lãnh đạo đã xưng danh thì phải làm theo đúng như vậy, đồng thời nhà lãnh tụ phải có chính danh thì mới kêu gọi được sự đáp ứng của mọi người, nếu không có chính danh hoặc mất đi Chính danh thì khó mà được lòng dân. Khi tham gia chính sự nhà lãnh đạo phải biết dùng người tài giỏi, biết khoan hồng bỏ qua các lỗi lầm sai sót nhưng không đáng kể, phải bạo vệ dân, vì vậy phải cận thận trong việc suy xét khả năng tài đức của quan thần và bỏ qua sự dèm pha những lời ca tụng của mọi người. Theo Khổng Tử, để quốc gia trật tự, quốc hoá dân an thì nhân dân phải đặt thiên tử vào vai trò lãnh đạo tối cao, đó là người có đức có tài, là người được trao trọn quyền hành quốc gia và phải thấu hiều được nghệ thuật Nhân trị. Đồng thời nhà trị quốc phải cố gắng giữ đất nước ổn định nhằm tạo điều kiện cho nhân dân an cư lập nghiệp góp phần xây dựng quốc gia giàu mạnh. Khi nhà lãnh đạo quản lý mọi việc anh minh công bằng thì dân sẽ học theo. Vì thế, lãnh đạo quốc gia phải quang minh, lập chính đạo để dân biết tôn trọng điều Nhân, yêu dân như con thì dân sẽ hết sức làm điều thiện để người trên hài lòng. Do chú trọng vào nguyên tắc Nhân trị nên Khổng Từ kịch liệt phản đối mọi sự đấu tranh, dù là đấu tranh của quần chúng nghèo khổ dứng lên giành chính quyền và do đó ông cho rằng chủ chương pháp chế chỉ là hạ sách trong trị quốc. Quốc gia của Khổng Tử không có luật pháp và hình phạt, những bậc lãnh đạo trước hết phải áp dụng phương pháp Nhân trị để quản lý quốc sự thì mới mong có thanh bình. Theo ông, việc sử dụng luật pháp chỉ làm nhân dân sợ nên không làm cho họ kính nể, tuân phục một cách tự nhiên, ngược lại nếu dùng phương pháp Nhân trị sẽ được dân phục mà theo. Tư tưởng chính trị của Khổng Tử xoay quanh các nhà lãnh đạo có đức có tài, thương dân và hiểu được đạo của trời đất một lòng phục vụ chế độ. - Tư tưởng “ lấy dân làm gốc” của Mạnh tử : Dựa trên học thuyết “ tính thiện” tiếp tục tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử đã kịch liệt phê phán phương pháp trị nước của các trường phái triết học Mặc gia và Pháp gia. Trên cơ sở nhân nghĩa và chủ trương Nhân chính, Mạnh Tử đã đề xuất một quan điểm hết sức độc đáo, đó là quan điểm dân bản. Theo Mạnh Tử, dân là cái quý nhất quý hơn cả vua chúa và xã tắc vì ông cho rằng dân là gốc của nước, có dân mới có nước, có nước mới có vua. Chủ trương dân là gốc, là quý của Mạnh Tử đòi hỏi giai cấp lãnh đạo phải chú tâm chăm lo cho dân được ấm no hạnh phúc, biết được cái lo của dân, cái vui của dân. Mạnh Tử chủ trương đức trị hơn là pháp trị và cho rằng vua phải thi hành cai trị nhân đứcđối với dân, giảm hình phạt, bớt thuế khiến nhân dân siêng vào làm việc. Muốn đời sống nhân dân được sung túc, nền kinh tế của đất nước phồn vinh, vua chúa phải thực hiện các chính sách công bằng thích hợp về việc phân chia ranh giới ruộng đất, khuyến khích các nhà trồng dâu nuôi tằm. Trong việc chính trị, ngoài chủ trương lấy nhân nghĩa làm gốc, coi dân là quý, thực hiện cải cách kinh tế, thi hành chế độ điền địa và thuế khoá công bằng, Mạnh Tử còn chủ trương phải giáo hoá dân, đó là nhiệm vụ rất trọng yếu của phép trị nước. Để giáo hoá dân, cần lập nên các trường từ làng xã đến kinh đô để dạy dân về tri thức, đạo lý, phong tục…, do đó phải biết vỗ về nhân dân, tu chính lòng tín ngưỡng và đức tin của nhân dân, giúp đỡ che chở cho nhân dân. Lãnh đạo quốc gia muốn xây dựng đất nước hùng cường phải biết dùng đức để cảm hoá nhân dân, quý mến kẻ có đức, tôn trọng người có đức có học. Xuất phát từ đạo Nhân chính, với lòng thương dân, tận mắt chứng kiến cảnh chiến tranh tàn sát, khốc liệt giữa các nước chư hầu diễn ra liên miên trong thời kỳ Chiến Quốc, Mạnh tử tỏ thái độ căm ghét chiến tranh và cực liệt phản đối các quốc chiến tranh xâm lược, thôn tính lẫn nhau giữa các tập đoàn quý tộc đương thời vì như thế sẽ hại dân, làm xã hội mất ổn định, nhân dân không tập trung vào việc ruộng vườn. Mạnh Tử là nhà triết học đầu tiên đã xây dựng học thuyết về vai trò của dân trong đời sống chính trị - xã hội . Theo ông nhà cầm quyền phải thực hiện đường lối Nhân Chính mà cái gốc của nó là lấy dân làm gốc, là quý trọng hàng đầu. Trong hệ thống triết học Mạnh Tử, với quan điểm dân bản và những biện pháp cải cách kinh tế, xã hội thiết thực, thực sự đã có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội đương thời. Đó là tinh hoa trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học Trung Quốc. Có thể nói, Mạnh Tử là con tim luôn hướng về nhân loại, nhưng khối óc lại hướng về giai cấp mà ông đại diện. - Tư tưởng “Lễ trị” của Tuân Tử : Tuân Tử là nhà triết học cùng thời với Mạnh Tử, cũng có nguồn tư tưởng Khổng Tử nhưng ông theo lập trường duy vật trong phảt triển những tư tưởng của Khổng Tử. Trong tư tưởng chính trị của mình, ông đưa ra quan điểm “ Lễ trị”. “Lễ” hiểu theo nghĩa rộng là những quy chế, nghi thức, kỷ cương của cuộc sống trong cộng đồng xã hội và lối cư sử hàng ngày. Với nghĩa này, lễ là cơ sở của xã hội có tổ chức bảo đảm cho sự phân định trên dưới rõ ràng, không bị sáo trộn đồng thời ngăn ngừa những hành vi và tình cảm cá nhân thái quá”. Lễ chính là cung cụ chính trị, là vũ khí của phương pháp trị nước, trị dân lâu đời của Nho giáo. Lễ có thể đưa tất cả các hoạt động vào nề nếp, có thể ngăn chặn mọi lỗi khi sắp xảy ra. Vì vậy, những điều quy định về lễ rất sớm, nhiều và tỷ mỷ hơn những điềuvề pháp luật với đối tượng đông đảo là nhân dân lao động, lớp trẻ và phụ nữ, Đạo Nho cho là đối tượng dễ sai khiến nhất thì những quy định về lễ lại càng rườm rà, phiền phức và cay nghiệt. Theo Tuân Tử, nhà lãnh đạo phải lấy đạo dức và lễ trị để quản giáo chứ không dùng bạo lực để khống chế nhân dân. Vai trò của “Lễ” vô cùng quan trọng trong mỗi quốc gia. Ông cho rằng, người không có lễ thì không sinh, việc mà không có lễ thì không nên, quốc gia không có lễ thì không yên. Lễ là kỷ cương của nhân loại nên mọi người phải học lễ, do đó con người phải được giáo dục để học lễ, để biết kính thờ cha mẹ, trung với vua và với anh em, bạn bè phải đối xử với nhau phải đạo. Không học lễ, không hiểu lễ thì chẳng khác gì loài cầm thú. Tuân Tử cũng không dùng pháp trị, ông chủ trương nhân nghĩa và lễ làm căn bản cho sách lược trị quốc và theo ông phương pháp này có thể giữ cho quốc thái dân an. Do đó ông đòi hỏi nhân dân và trung thần phải tôn kính người lãnh đạo, dân và quan thần phải làm đẹp cho nhà lãnh đạo, vì đó là cái đẹp, cái gốc thiên hạ. Làm vua khi giao tiếp với quần thần phải có lễ, tức là phải biết tôn trọng kẻ dưới, phải coi những người giúp việc như chân tay. Ngược lại, làm bề tôi phải tận trung, phải biết làm hết phận sự của mình, phải biết can gián những việc làm sai trái của vua, không được hùa theo vua khi vua lỗi lầm. Để làm được điều đó, mỗi cá nhân phải biết rèn luyện nghĩa khí, trái với đạo lý thì tránh, biết xấu hổ khi làm những điều trái với lương tâm, chỉ có như vây mới xứng đáng là bậc quân tử. Tuân Tử không coi trọng sách lược Pháp trị mà ngược lại rất trọng lễ, nhưng sự cách biệt giữa lễ và pháp luật rất khiêm nhường và đôi lúc lại không rõ ràng. Chính sự cách biệt thiếu rõ ràng giữa lễ với pháp luật về tính ác bẩm sinh của Tuân Tử đã mở đường cho đệ tử Hàn Mạc Phi đưa ra chủ trương pháp chế nhằm kìm hãm tính ác của con người. 2.3 Về nhận thức luận. Từ kinh nghiệm của mình, Khổng Tử đã tổng kết được nhiều quy luật nhận thức, nhưng chủ yếu là thực tiễn giáo dục và phương pháp học hỏi. Để đạt tới “đạo nhân” Nho giáo rất quan tâm đến giáo dục. Nho giáo đề cao con người, lấy con người làm trung tâm và mục tiêu nhận thức. Nho giáo rất coi trọng giáo dục con người. Do không tôn trọng cơ sở kinh tế kỹ thuật của xã hội nên giáo dục của Nho giáo chủ yếu hướng vào rèn luyện đạo đức của con người. Nhưng tư tưởng về giáo dục về thái độ và phương pháp học tập của Khổng Tử chính là bộ phận giàu sức sống nhất trong tư tưởng Nho giáo. Ý nghĩa của giáo dục: Theo Khổng Tử, giáo dục để cải tạo nhân tính. Muốn dẫn nhân loại trở về tính gần nhau, tức là chỗ “thiện bản nhiên” thì phải để công vào giáo dục, vì giáo dục có thể hoá ác thành thiện. Tu sửa đạo làm người là mục đích tối cao của giáo dục trong việc cải tạo nhân tính của Khổng Tử. ông không coi giáo dục để mở mang tri thức, giải thích vũ trụ mà ông chú trọng đến việc hình thành nhân cách đầy đủ, lấy giáo dục để mở mang dân trí, nhân, dũng, cốt dạy người ta thành con người đạo lý. Xã hội lý tưởng mà Khổng Tử chủ trương xây dựng đó là xã hội thanh bình, thịnh trị, mọi người sống nhân đức theo trật tự lễ nghĩa. Để xây dựng một xã hội như vậy theo Khổng Tử là phải giáo dục và đào tạo ra một mẫu người lý tưởng, có đủ đức, tài, trí và lực, văn và chất, một lòng trung thành phục vụ chế độ. Có thể nói, đào tạo con người lý tưởng cho xã hội là vấn đề cốt lõi trong học thuyết chính trị, đạo đức, xã hội của Khổng Tử. Mẫu người ấy là bậc quân tử mà xã hội phong kiến hết sức đề cao. Mẫu người lý tưởng đó có vai trò gánh vác xã hội không phải là nhân dân lao động- những người bậc dưới mà là những “đấng trượng phu” có đủ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, hiểu đạo, vui với đạo và thuận với đạo. Mục đích của giáo dục : trước hết là học để ứng dụng có ích cho đời, cho xã hội chứ không phải để làm quan sang, bổng lộc. Thứ hai, học để hoàn thiện nhân cách và học để tìm tòi điều lý. Từ đó để tạo ra con người có đủ nhân, lễ, nghĩa, trí, tín - những chuẩn mực của chế độ phong kiến bằng văn chương và lục nghệ Khổng Tử cho rằng nếu con ngươì không được học tập giáo dục thì sẽ trở thành ngu muội, phóng đáng, cường bạo và xa rời đạo lý. Để đào tạo ra những con người lý tưởng, Khổng Tử đã đề xuất phương pháp giáo dục khá chặt chẽ, với kiến giải sâu sắc. Nho giáo cho rằng mọi cá nhân phải biết không ngừng học tập nâng cao trình độ hiểu biết. Lần đầu tiên trong lịch sử ông mở trường dạy học một cách không cầu lợi nhằm góp phần làm cho sự nghiệp giáo dục mở mang tri thức xuống đến dân chúng ở phạm vi và trình độ nhất định. Gồm các phương pháp: - Coi trọng giáo dục theo lịch trình đúng với điều kiện tâm sinh lý. Cách giáo dục ấy nhằm nuôi cho tình cảm nảy nở rồi đưa vào khuôn phép, điều hoà sự xung đột ở tâm. - Coi trọng mối quan hệ giữa các khuôn giáo dục. Phương pháp gắn học với hành, lời nói kết hợp việc làm, phản đối nói suông và học suông. ông nói. Không những thế, Khổng Tử còn đòi hỏi người học phải luôn kết hợp việc học với việc tự đào sâu suy nghĩ, đồng thời người học phải không tự mãn, không tự phụ và không tự ti, giấu dốt. Chỉ có không giấu dốt, con người mới có khả năng loại bỏ những mối nguy hại do sự ngu dẫn dến. Trong học tập Nho giáo đòi hỏi phải học cho rộng, hỏi cho cùng, nghĩ cho kỹ, biện cho rành, làm cho siêng. Cái gì đã học thì thôi, nhưng một khi đã học mà chưa hiểu thì phải chưa thôi. Ngoài ra, đẻ học thành người có đức có tài, người học phải luôn có thái độ cầu tiến, vượt lên, có thái độ khách quan trong học tập, không được cố chấp, tự phụ chủ quan, đồng thời người học phải khiêm tốn cẩn trọng. II. Vận dụng tư tưởng Nho giáo vào quản lý nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. 1. Thực trạng quản lý nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Do hậu quả nặng nề của cơ chế cũ, của nhiều năm chiến tranh, của nền kinh tế kém phát triển..., nền kinh tế nước ta đã tụt hậu nghiêm trọng so với khu vực và thế giới. Trong bối cảnh đó, kinh tế thị trường là điều kiện quan trọng đưa nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng, phục hồi sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, bắt kịp bước tiến của thời đại. Trên cơ sở đó, đời sống của nhân dân được cải thiện và nâng cao. Thực tiễn những năm gần đây cho ta thấy, đất nước ta chuyển sang cơ chế thị trường là phù hợp với quy luật khách quan, hợp với lòng dân, đáp ứng yêu cầu cuộc sống. Những năm đầu của công cuộc đổi mới, khi chúng ta từng bước tiến hành chuyển đổi nền kinh tế tập chung quan liêu bao cấp sang thực hiện cơ chế thị trường thật ra chỉ là những thăm dò, mò mẫm thử nghiệm và rút kinh nghiệm là chính. Sự thiếu vắng hệ thống luật pháp hoàn chỉnh và đồng bộ đã làm cho nền kinh tế, các quan hệ đạo đức và các quan hệ kinh tế- xã hội bị sai lệch. Chúng ta biết rằng, giai đoạn chuyển đổi trong mọi cơ thể kể cả cơ thể xã hội là giai đoạn rất dễ nhạy cảm, rễ bị tổn thương. Sự nhạy cảm đó có thể dẫn đến các khả năng và trạng thái khác nhau trong sự tiếp nhận những tác động từ bên ngoài. Nền kinh tế Việt Nam đang ở trong giai đoạn chuyển đổi cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó. Sự chuyển đổi trong kinh tế không thể không có ảnh hưởng, không thể không để lại các dấu ấn trong các mặt khác nhau của đời sống xã hội, đời sống tinh thần của từng người và của cả cộng đồng. Tính chất chuyển đổi này gây ra nhiều biến động trong nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực đạo đức, trở nên hết sức gay gắt và đáng lo ngại do thiếu hệ thống pháp luật hoặc pháp luật không đồng bộ. Do vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với Đảng và Nhà nước ta cũng như toàn thể nhân dân ta là làm sao vừa phát triển được kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa giữ gìn được các giá trị truyền thống của dân tộc, vừa xây dựng được các quan hệ và phẩm chất đạo đức mới phù hợp với thời đại mới của sự phát triển kinh tế – xã hội. 2. Vận dụng tư tưởng Nho giáo vào quản lý nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. - Về tư tưởng đạo đức. Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Sự chuyển đổi trong kinh tế không thể không có ảnh hưởng, không thể không để lại những dấu ấn trong các mặt khác nhau của đời sống xã hội, của đời sống tinh thần của từng người và cả cộng đồng. “ Chính tính chất chuyển đổi này, hay theo một nghĩa nào đó cũng có thể nói là tình trạng tranh tối tranh sáng, đang cùng với tình trạng thiếu pháp luật hoặc chưa hoàn chỉnh của luật pháp, của công cụ quản lý và điều tiết nhà nước làm cho các biến động trong nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực đạo đức trở nên hết sức gay gắt và đáng lo ngại”(1) . Hiện nay, trong cơ chế thị trường chúng ta thấy có nhiều hiện tượng đáng báo động về nguy cơ đổ vỡ các giá trị truyền thống trước thế lực đồng tiền : Đó là hiện tượng một số người có chức có quyền tham gia vào các đường dây buôn lậu, nhận hối lộ, ỷ thế lực mà chèn ép nhân dân. Trong các doanh nghiệp, do mục tiêu theo đuổi lợi nhuận nên nhiều các nhân vì lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích xã hội như làm hàng giả, sử dụng những (1) Nguyễn Trọng Chuẩn. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và những biến động trong lĩnh vực đạo đức. Tạp chí triết học số 9(127), tháng 12-2001, trang17 chất độc hại làm nguy hại sức khoẻ con người, ô nhiễm môi trường sống và các hành vi lừa đảo trong kinh doanh. Trong xã hội nhiều tệ nạn xấu xuất hiện làm đổ vỡ các giá trị truyền thống lâu đời của dân tộc ta như nạn trộm cắp, cờ bạc , nghiện hút, mại dâm. Khi đời sống con người được nâng cao, ở con người dễ nảy sinh tâm trạng hưởng thụ, tham lam, làm giàu bằng nhiều thủ đoạn. Kinh tế thị trường đi liền với cuộc sống hối hả chạy đua, người giàu mải miết làm ăn, tiền bạc dư thừa nhưng thời gian giành cho gia đình, con cái lại rất ít làm cho giáo dục gia đình bị suy giảm, phó thác cho Nhà nước, nhiều hiện tượng con cái bất hiếu với cha mẹ xuất hiện. Để quản lý nền kinh tế thị trường hiện nay, chúng ta phải kế thừa những tư tưởng đạo đức Nho giáo. Khổng Tử khuyên người ta không nên lo là mình sẽ không có địa vị gì, không nên lo là người đời không biết đến mình, mà chỉ lo là mình có năng lực gì để gánh vác việc đời với xã tắc và xem mình liệu có tài đức gì để đặt vào địa vị ấy. Lời khuyên này vẫn có giá trị trong thời đại chúng ta hiện nay. “Một người lãnh đạo chân chính thì ắt hẳn không thể thiếu được mục đích chân chính, không thể thiếu được sự hiểu biết thực sự, một học vấn cao, một sự tu thân, sửa mình kiên trì”(2). Nói cách khác, nhà chính trị, nhà quản lý thì phải lấy học vấn làm cơ sở, làm nền tảng song không thể thiếu được cái đức. Do đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam phải luôn đặt chữ đức nên hàng đầu, cần nghiêm khác chống lại các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, luôn chăm lo tới đời sống nhân dân, lắng nghe ý kiến của dân. Chúng ta ai cũng biết, trong nền kinh tế thị trường khoảng cách giữa cái tốt và cái xấu giữa cái thiện và cái ác rất mong manh. Nếu thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức văn hoá và lương tâm thì con người khó mà giữ được cái khoảng cách mong manh ấy. Cho nên, kinh tế thị trường đòi hỏi con người không những phải năng động, sáng tạo có trình độ học vấn, có tài mà phải trung thành, tận tuỵ với công việc, tôn trọng kỷ cương, tuân thủ pháp luật. (2) Nguyễn Trọng Chuẩn. Khai Thác các giá trị của truyền thống nho học phục vụ sự phát triển của đất nước trong điều kiện toàn cầu hoá. Tạp chí triết học số 04(131), 2002, trang31. Trong gia đình cha mẹ cần giành nhiều thời gian để giáo dục con cái, dạy con cái biết kính trên nhường dưới, tôn trọng cha mẹ. Chúng ta biết tài năng phải luôn đi đôi với đạo đức, vì đạo đức là nền tảng nhân cách làm cho nhân cách làm cho tài năng của doanh nghiệp được nhân lên. Thực tế chứng tỏ rằng, sự thành đạt trong kinh doanh chỉ có thể đến với ai có tâm, có đức, có tài. Chỉ cần thiếu một trong các mặt đó thì không thể hoặc rất khó thành công. Vì vậy, những các nhân, những doanh nghiệp đứng vững trong cơ chế thị trường từ trước đến nay, ngoài khả năng trí tuệ ra, họ luôn luôn tôn trọng khách hàng, lấy chữ tín lên hàng đầu. Nói cách khác, bất cứ một ai muốn thành công trong kinh doanh đều cần phải biết điều chỉnh hành vi của mình và lúc đó con người mới làm chủ được đồng tiền “đứng cao hơn đồng tiền, nhìn xa hơn đồng tiền, thấy được những thứ khác ngoài đồng tiền ngoài lợi nhuận” (3). Khi những giá trị chân chính được tôn trọng, được giữ gìn thì chúng sẽ trở thành nhân tố cơ bản không những thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, mà còn thúc đẩy sự phát triển của xã hội nói chung. “Đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận rằng, tri thức về sản xuất, cùng với đạo đức, thiện tâm, chữ tín phải trở thành bản lĩnh, cốt cách văn hoá của nhà kinh doanh. Nói đúng hơn trong cơ chế thị trường vẫn cần cái “tâm” của nhà doanh nghiệp. Nó được coi như cái phanh bên trong của mỗi con người, giúp người ta không làm những gì có hại cho người khác, nhất là khách hàng của mình” (4) Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh tuy khắc nghiệt và mang tính sống còn, nhưng không phải cạnh tranh để loại trừ nhau bằng mọi thủ đoạn, mà là cạnh tranh để vươn lên bằng tài năng, bằng hiệu quả và góp phần vào sự phồn vinh của xã hội. Đồng thời, khi tham gia thị trường mà chủ thể luôn có ý thức tôn trọng mình và tôn trọng người khác, luôn giữ chữ tín với khách hàng, họ sẽ được tồn tại và phát triển. Nghĩa là, dưới áp lực của cạnh tranh, con người trong cơ chế thị trường luôn phải tự thể hiện, tự khẳng định, phải vươn lên mình để khẳng định mình, làm cho cạnh tranh vừa thôi thúc con người hướng thiện, vừa thoả mãn những nhu cầu về vật chất của con người đồng thời làm tăng thêm lòng kính trọng lẫn nhau trong cuộc sống. (3) Lê Ngọc Trà. Văn hoá của doanh nhân. Thời báo kinh tế Sài Gòn, số 26, 2001 (4) Lê Thị Tuyết Ba. Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường. Tạp chí triết học số 5,2002, trang 27. Làm như vậy các giá trị đạo đức chân chính vẫn được chân trọng, bảo tồn và nâng cao, tạo điều kiện để ngăn chặn, đề phòng nguy cơ tàn phá các giá trị đạo đức. Chúng ta biết rằng, con người Việt Nam vốn coi trọng đạo lý, lấy nhân nghĩa trung hiếu làm chuẩn mực cho các hành vi ứng xử của mình sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc hình thành phong cách quản lý Việt Nam. Tính cộng đồng và ý thức trách nhiệm trước cộng đồng được phát huy sẽ hỗ trợ không chỉ cho việc truyền bá kinh nghiệm nghề nghiệp, tạo dựng và phát triển sản xuất, hỗ trợ nhau tìm kiếm công ăn việc làm. Bên cạnh đó con người Việt Nam còn có tính giản dị, tiết kiệm, có trách nhiệm với gia đình và các thế hệ tiếp theo. Nét đẹp đó không những là cơ sở tốt cho việc tích luỹ đầu tư mở rộng, đổi mới công nghệ không những cho cá nhân, doanh nghiệp mà cho cả nền kinh tế của xã hội. Như vậy cả sự thiếu luật pháp lẫn luật pháp không đồng bộ và những kẽ hở pháp luật trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa mới bước đầu hình thành của chúng ta là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội, suy thoái về đạo đức và lối sống. Mặt khác, những tệ nạn xã hội và tình trạng suy thoái về đạo đức phát sinh trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay còn do sự thiếu vắng hoặc không đồng bộ của các loại hay các yếu tố thị trường. Sự không đồng bộ hay thiếu vắng của các loại thị trường như thị trường lao động, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường bất động sản được đảm bảo bằng pháp luật và Nhà nước bảo vệ đã là một cơ hội rất tốt cho bọn lợi dụng vị thế, quyền lợi, chức vụ để nhận hối lộ, lừa đảo dân lành, để tham nhũng. Do vậy khi đã có pháp luật và khi đã có đầy đủ các loại thị trường được luật pháp bảo vệ thì những kẽ hở sẽ giảm bớt đi. Sự chạy theo đồng tiền bất chính cũng không còn cơ hội. Khi công nhân và người lao động chân chính được pháp luật bảo vệ, biết luật phát và hành động trong khuôn khổ luật pháp thì bản thân họ sẽ góp phần ngăn chặn những tệ nạn trong xã hội. Đồng thời để xây dựng được một cách vững chắc các mối quan hệ đạo đức và phẩm chất đạo đức lành mạnh trong tình hình cụ thể hiện nay thì việc kết hợp các bộ phận mạnh của pháp luật với việc giáo dục đạo đức là điều không thể tránh. Nếu buông lỏng một trong hai mặt đó thì chắc chắn cái giá phải trả là không rẻ. Như vậy trong điều kiện kinh tế thị trường, để cả con người và xã hội hướng tới giá trị chân, thiện, mỹ thì phải có sự quan tâm đặc biệt đối với vấn đề định hướng đạo đức. Đã đến lúc chúng ta phải xây dựng một môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh trong đó tri thức và những giá trị chân, thiện, mỹ thì cần phải có sự quan tâm đặc biệt đối với vấn đề định hướng đạo đức. Đã đến lúc chúng ta phải chú trọng xây dựng một môi trường kinh doanh trong sạch lành mạnh trong đó tri thức về những giá trị, những phẩm chất đạo đức xã hội những giá trị nhân văn, nhân bản phải vừa đóng vai trò động lực, vừa phải là mục tiêu trong sự phát triển. Có như vậy, mới đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa cái lợi, cái thiện, cái đẹp – sự phát triển cân đối, toàn diện của kinh tế và xã hội trong nền kinh tế thị trường. - Về chính trị . + Trong thời đại chúng ta, kinh tế thị trường tuy đã có những biến đổi và mặc dù đã trở thành nên văn minh hơn nhiều so với vài ba thế kỷ trước, song không phải vì vậy mà mặt trái không mất đi. Trong xã hội xuất hiện những nhà lãnh đạo có chức có quyền và ỷ vào chức quyền làm những điều vi phạm pháp luật. Theo điều tra thì số người làm ra đồng tiền chân chính bằng mồ hội, sức lực tài năng thực sự và trí tuệ của mình chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể trong số những con người sa vào con đường tệ nạn. Đại bộ phận đó là những kẻ có điều kiện tiêu tiền chùa do họ có chức vụ trong quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước. Đúng như đại hội IX của Đảng ta đã nhận định rằng, tình trạng tham những, suy thoái về “ đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong những tổ chức kinh tế là nguy cơ lớn de doạ sự sống còn của Đảng ta” (5) Sách lược Khổng Tử chỉ ra rằng, một nhà lãnh đạo có danh thì phải làm đúng như vậy “ một nhà quản lý, nhà lãnh đạo không thể chỉ có cái danh, không thể dùng bằng giả để khoe khoang và giữ ghế như tình trạng khá nhức nhối đang diễn ra”, tức là nhà lãnh đạo phải lấy học vấn làm cơ sở nhưng khổng thể thiếu được cái đức. (5) Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Hà Nội, 2001, trang 76. Quan điểm này của Khổng Tử trước đây dùng cho các vua chúa quan lại, nhưng ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, quan điểm này được dùng cho các nhà quản lý kinh tế. Do vậy, Đảng và Nhà nước ta cần luôn chăm lo tới đời sống nhân dân, mọi chính sách của đất nước phải hướng vào việc đảm bảo cuộc sống âm no của nhân dân, làm cho nhân dân luôn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng tạo điều kiện nhân dân yên tâm lao động sản xuất. Đồng thời, chúng ta cần dùng các biện pháp tuyên truyền giáo dục nhân dân phải luôn tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng. Đồng thời các nhà lãnh đạo phải chủ trương phân phối thu nhập công bằng, phân phối lại thông q

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNhững tư tưởng Nho giáo và vận dụng vào quản lý nền Kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay.doc
Tài liệu liên quan