Tiểu luận Ô nhiễm đất và sa mạc hóa

MỤC LỤC

 

 

Trang

Phần mở đầu 1

Phần nội dung 2

I Ô nhiễm môi trường đất 2

1 Khái niệm chung về môi trường đất 2

2 Phân loại ô nhiễm môi trường đất 4

3 Hậu quả và thực trạng ô nhiễm môi trường đất 14

4 Biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường đất 15

II Sa mạc hoá 17

1 Khái niệm về sa mạc hoá 17

2 Hậu quả và thực trạng của sa mạc hoá 19

3 Biện pháp khắc phục và đế phòng sa mạc hoá 26

Phần kết luận 28

Danh mục sách tham khảo 29

 

doc31 trang | Chia sẻ: netpro | Ngày: 22/04/2013 | Lượt xem: 530 | Lượt tải: 16download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Ô nhiễm đất và sa mạc hóa, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
79 lên tới 364 loài. Trong số 25 loài sâu hại nông nghiệp chủ yếu ở các nông trường California Mỹ thì có 17 loài đã có khả năng kháng đối với một hoặc vài loại thuốc, mỗi năm, số sâu hại kháng thuốc này làm thiệt hại mấy chục triệu đôla cho nông nghiệp vùng này. Tàn tích rừng: Tàn tích rừng sau khi thu hoạch gỗ hoặc phát quang rừng, phần bỏ đi gọi là “slash”. Tàn tích này sau khi nằm lại trong môi trường đất sẽ phân hủy tạo mùn cho đất. Nếu điều kiện phân giải tạo mùn ít thì khả năng chuyển hóa thành những dạng khó tiêu và gây chua nhiều hơn. Điều này thể hiện ở rừng thông và rừng savan. Nếu tàn tích rừng bị vùi lấp trong điều kiện yếm khí lâu ngày sẽ tạo ra các đầm lầy than bùn hoặc than bùn phèn. Điều đó có nghĩa là tạo ra một môi trường đất acid. Chất thải của súc vật Những chuồng trại chăn nuôi gia súc nếu thu gom, xử lý không đảm bảo kỹ thuật và vệ sinh môi trường thì sẽ là hiểm họa cho môi trường sinh thái, trong đó có môi trường đất. Vì chúng sẽ làm môi trường sinh thái đất mất khả năng tự làm sạch của nó. Lúc này sự ô nhiễm môi trường đất trở nên trầm trọng. Các cơ quan hoạt động môi trường đất bị tê liệt. Chất thải, vi trùng từ đó mà lan ra khắp nơi trong nứơc ngầm, trong nước suối hay bay vào không khí. Các loại côn trùng như bọ hung, bọ xít cũng có cơ hội phát triển và gây hại. Các loại nhặng và ấu trùng của nó được môi trường đất tạo cơ hội, phát triển nhanh chống và gây hại tại đây. 2.2 Ô nhiễm môi trường sinh thái đất do chất thải công nghiệp Các chất thải công nghiệp dưới dạng chất thải rắn, lỏng và khí đều có ảnh hưởng đến môi trường sinh thái đất. Các loại khí thải công nghiệp và giao thông Một số loại khói bụi có hại ngưng tụ cũng là nguyên nhân của ô nhiễm đất. CO: khi tiếp xúc môi trường sinh thái đất, CO có thể hòa vào không khí đất, làm hại động vật trong đất. Một phần CO được hấp thụ trong keo đất, phần còn lại tạo oxi hóa thành CO2 nhờ vi sinh vật: 2CO2 + O2 ==> 2CO2 + E Một phần khác CO sẽ tác dụng với OH hoặc với O2, O3 và N2O trong không khí đất để trở thành CO2. Tuy nhiên sự có mặt không nhiều của nó trong môi trường sinh thái đất cũng làm tổn thất lớn đến sức sống của động vật. Ví dụ, các vùng đất gần các nhà máy sản xuất hoá chất Photpho, Flo, luyện kim dễ bị ô nhiễm vì khói bụi, hàm lượng flo chứa trong khoáng chất photpho sử dụng ở các nhà máy phân hoá học thường là 2 – 4%, nếu khí thải không được xử lý thích đáng, có thể làm cho một vùng hàng ngàn km2 đất xung quanh bị ô nhiễm flo nặng. Ở gần các xưởng luyện kim,  vì trong khí thải có chứa lượng lớn các chất chì, cadimi, crom, đồng... nên vùng đất xung quanh sẽ bị ô nhiễm bởi những chất này. Đất ở 2 bên đường, thường có hàm lượng chì tương đối cao là sản phẩm của khí thải động cơ. Mưa acid Các chất khí độc hại trong không khí như ôxit lưu huỳnh, các hợp chất nitơ... kết tụ hoặc hình thành mưa axit rơi xuống đất làm ô nhiễm đất. Những trận mưa acid đã làm tê liệt các họat động sinh thái môi trường đất, trước hết làm phản ứng môi trường giảm xuống đột ngột ở tầng mặt, sau đó là một loạt hoạt động hóa sinh học và vi sinh vật bị ngừng trệ. Những acid H2SO4, HNO3, HNO2 gọi là các “acid ngưng tụ”, các acid này xuất hiện trong các giọt sương mù, nước đá. Ví dụ HNO3 hình thành từ phản ứng của hơi NOx với hơi nước trong không khí : 2N2O + O2 => 4NO 2NO + O2 => 2NO2 2NO2 + H2O => HNO2 + HNO3 Khi đó trong giọt mưa pH đã giảm xuống 2 hoặc thấp hơn. Những giọt mưa này rơi vào đất sẽ ô nhiễm và gây hại môi trường đất. Ô nhiễm môi trường sinh thái đất do công nghiệp chế biến thực phẩm và sinh hoạt Chất thải loại này bao gồm các quá trình công nghiệp chế biến rau quả, thịt cá, đông lạnh mà sản phẩm là phần hữu cơ chiếm ưu thế. Nó có hai dạng : Dạng chất thải rắn : phần lớn thành phần chúng chứa nhiều N, P, K nếu được chế biến tốt sẽ là dạng phân bó. Nhưng nếu đem chôn hoặc vứt bừa bãi thì quá trình lên men làm ô nhiểm môi trường đất nhanh chống xuất hiện. Tác động của chất thải rắn lên môi trường đất: quá trình bị giữ lại trong đất và ngấm qua những lớp đất bề mặt của nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp làm cho sự tăng trưởng và hoạt động của vi khuẩn trong đất kém đi, tức là làm giảm quá trình phân hủy các chất hữu cơ thành dinh dưỡng cho cây trồng, trực tiếp làm giảm năng suất canh tác và gián tiếp làm cho đất bị thái hoá và bạc màu. Ảnh hưởng của nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp đến đất đai là rất nghiêm trọng, mang tính chất lâu dài và rất khó khắc phục nếu nó ngấm theo mạch ngang. Chính vì vậy, để hạn chế và ngăn ngừa khả năng gây ô nhiễm đất, chúng ta phải áp dụng các biện pháp an toàn trong công tác chôn lấp rác, chủ yếu là lót nền và xây dựng thành chắn bằng các vật liệu chống thấm để ngăn chặn khả năng thấm theo chiều ngang của nước rò rỉ; đồng thời phải lắp đặt các hệ thống thu gom và xử lý nước rò rỉ. Dạng nước thải hữu cơ: các dạng này sẽ làm tăng thêm BOD trong môi trường sinh thái đất. Những đo đạc cho biết có khi lên đến 10000 ppm; trong lúc đó ngưỡng của BOD trong dung dịch là 20 ppm. Đồng thời đối với nó là hàng loạt các vi sinh vật gây thối nồng nặc xuất hiện làm hại môi trường sinh thái. Ô nhiễm đất vì nước thải Nguyên nhân là không biết cách lợi dụng một cách khoa học các loại nước thải để tưới cho cây trồng. Sử dụng hợp lý nguồn nước thải tưới đồng ruộng sẽ tận dụng được lượng Nitơ, Photpho, Kaki... trong nước, có lợi cho cây trồng. Nhưng nếu như nước ô nhiễm chưa qua xử lý cần thiết, tưới bừa bãi, thì có thể đưa các chất có hại trong nguồn nước vào đất gây ô nhiễm. Việc lợi dụng nước thải để tưới ruộng gây ô nhiễm đất, ảnh hưởng tới người và gia súc có ở mọi quốc gia. Sự kiện “Cadimi” xảy ra ở Nhật Bản năm 1955 là một ví dụ. Nông dân ở vùng núi Phú Sĩ một thời gian dài đã sử dụng nước thải của một nhà máy luyện kẽm gần đó để tưới ruộng, Cadimi chứa trong nước thải tích luỹ dần trong lúa gạo ở khu vực này. Hậu quả là những người nông dân bị chứng đau nhức các khớp xương, 34 người chết, 280 người tàn phế. Theo một điều tra nông thôn Nhật Bản, năm 1970, diện tích đất ô nhiễm do nước ở Nhật là 190.000 ha, làm thiệt hại 22 tỷ Yên. Trong những năm 70, nông dân Ấn Độ cũng sử dụng tràn lan các nước thải thành thị chưa qua xử lý để tưới ruộng, khiến cho khả năng sản xuất của đất giảm, gây hại tới sức khoẻ nông dân. Theo một báo cáo, tỷ lệ nhiễm các bệnh về đường ruột ở người do nông phẩm ở những khu vực này cao hơn gấp 3 lần những nơi khác. Tác hại của gley hóa đến môi trường sinh thái đất Mất đạm do khử nitrat thành N2 bay đi. Tạo phản ứng môi trường chua hơn vì nhóm axit hữu cơ và phân giải yếm khí. Sản sinh chất độc H2S là ngộ độc rễ thực vật nhất là rễ lúa, giết chết động vật và một số vi sinh háo khí trong môi trường đất. Quá trình giải phóng các chất khí CH4, NO2, NO, CO2 đã đóng góp vào 15% hiệu ứng nhà kính. 2.3 Ô nhiễm môi trường sinh thái đất do chất thải đô thị Người ta có thể xử lý rác bằng chế biến phân hữu cơ, chôn hoặc đốt, nhưng bằng cách gì như hiện nay thì môi trường sinh thái đất cũng sẽ bị ảnh hưởng. Sự tạo thành khí CH4 trong điều kiện yếm khí sẽ gây thêm chất độc cho môi trường sinh thái đất và sau đó nếu không sử dụng gas này, nó sẽ bốc lên và tăng hiệu ứng nhà kính. Sự phân giải cũng gây ô nhiễm như các sản phẩm trung gian hoặc vi khuẩn gây hại cho đất và nước ngầm nếu chôn rác không đúng kỹ thuật. Ô nhiễm môi trường đất từ các bãi rác và hầm cầu tự hoại Ở thành phố lớn vấn đề xử lý các bãi rác là một khó khăn không nhỏ. Ở đây ta xét về bãi rác gây cho môi trường đất: Mùi hôi thối gây cho không khí đất ngột ngạt ảnh hưởng đến động vật trong đất. Các chất độc sinh ra và trong quá trình lên men khuếch tán và thấm vào đất, nằm lại ở trong đó. Nước rỉ ra từ các bãi rác và hầm cầu là ô nhiễm trầm trọng về mặt sinh học. Các chất thải kim loại nặng từ các bãi rác thấm vào đất. 2.4 Ô nhiểm đất do thiên nhiên và do các tác nhân sinh học Ô nhiễm phèn: Phèn tồn tại trong đất chứa nhiều độc chất Al3+, Fe3+, SO42- phèn cũng có thể do nước phèn từ nơi khác gây nhiễm phèn cho môi trường sinh thái đất. Quá trình thứ nhất gọi là quá trình phèn hóa, quá trình thứ hai gọi là quá trình nhiễm phèn. Dù nguyên nhân nào thì trong dung dịch đất lượng độc chất Al3+, Fe2+, SO42-, cũng rất cao và pH môi trường xuống thấp, khả năng trao đổi và khả năng đệm của môi trường đất bị phá vỡ nên khả năng tự làm sạch của đất bị giảm sút; từ đó môi trường đất bị ô nhiểm nặng, động vật, thực vật, vi sinh vật bị tiêu diệt hàng loạt. Nếu ô nhiễm nhiều phèn nhôm thì tình độc càng mạnh và nhanh hơn phèn sắt, tính đa dạng sinh học của môi trường không còn nữa. Ô nhiễm mặn: Do nước biển, trong nuớc biển chứa chủ yếu là muối NaCl, nó bị tràn vào do vỡ đập hay sóng thần hay do mạch nước ngầm theo mao dẫn lên lớp mặt làm ô nhiễm môi trường đất. Gây hại chủ yếu ở nồng độ muối vượt quá 1% sẽ gây chết cho cây cối và các ion Na+ và Cl- quá cao. Môi trường đất được xem là ô nhiểm mặn khi nồng độ tổng số muối tan > 0.3%, trong đó muối Cl- > 0.15% và Na+ có hàm lượng trên meq/ gr, sau giờ bị ngập nước mặn hoặc bị bốc mặn lên mặt. Nồng độ cao của muối gây hạn sinh lý cho thực vật và tiêu diệt vi sinh vật cùng động vật trong môi trường đất. Ô nhiễm môi trường đất đầm lầy và tăng hiệu ứng nhà kính: Các đầm lầy là nơi tập trung một kim lọai nặng Fe, Al, Cd, Hg, Cd, Zn … Những vùng có kênh rạch thành phố đổ vào không có một cây nào mọc được chính vì ô nhiểm kim lọai nặng và quá nhiều hơi độc. Quá trình phân giải yếm khí không hoàn toàn chất hữu cơ sinh ra CO2, CH4, NOx và hơi nuớc. Các chất khí này từ môi trường sinh thái đất bay vào không khí tăng thêm lượng CO2, CH4 và hơi nước. Đó là những chất gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên. Mối hiểm họa toàn cầu. Các nhà khoa học đã chứng minh tất cả các khí ô nhiểm môi truờng đất và nông nghiệp đã đóng góp vào 15% hiệu ứng nhà kính. Ô nhiễm do phóng xạ: Nguyên nhân của ô nhiễm phóng xạ trong đất là do các chất phóng xạ có sẵn trong thành phần địa chất, chất thải phóng xạ từ các nhà máy điện hoặc chất thải phóng xạ từ các trung tâm nghiên cứu khoa học. Có hai loại chất thải phóng xạ: Phóng xạ tự nhiên gồm có Uranium, Radi, Teri… có sẵn trong lòng đất. Trong điều kiện môi trường thuận lợi, các nguyên tố này phân rã và tạo ra phóng xạ với nồng độ cao và gây hại môi trường đất. Sự tác hại này thường xảy ra ở những vùng mỏ phóng xạ nơi tập trung một lượng phóng xạ khá cao. Phóng xạ nhân tạo: do các thảm họa từ các nhà máy điện hạt nhân, các vụ thử hạt nhân… gây hại cho môi trường. Chúng thấm xuống nước ngầm, đất tiếp xúc với nước sinh hoạt và gây hại cho con người và môi trường trong nhiều năm liền. 2.5 Ô nhiễm môi trường đất do dầu Tác hại của dầu lên môi trường đất: Biểu hiện các mặt sau đây: Khi trên bề mặt có một lớp dầu bao phủ, dù rất mỏng, chỉ 0.2 – 0.5 mm, cũng đủ làm cho môi trường đất “ngạt thở”, thiếu không khí vì các quá trình trao đổi khí bị cắt đứt. Kết quả là các vi sinh vật (vi sinh vật, động thực vật) đều bị thiếu oxi, dẫn đến chết. Lớp dầu này cũng ngăn quá trình trao đổi năng lượng mặt trời của môi trường đất. Khi dầu đã thấm vào trong đất, chúng là một chất ghét nước, nên chúng đẩy tất cả nước ra ngoài, làm cho môi trường đất hầu như không còn nước. Mặt khác, chúng cũng chiếm chỗ hết tất cả các lỗ hỏng kể cả phi mao quản và mao quản, đẩy hết không khí ra ngoài. Như vậy, môi trường đất giảm thiểu lượng không khí và, gây nguy hại cho hệ sinh thái. Khi dầu xâm nhập vào đất, chúng làm thay đổi kết cấu, đặc tính lý học và hóa học của đất. Chúng biến các hạt keo thành “trơ”; không có khả năng hấp phụ trao đổi nữa. Nó đã làm dung dịch đất bị phân “tướng” rõ: ưa dầu và ghét dầu, mất tính đệm, tính oxi hóa, độ dẫn điện và dẫn nhiệt thay đổi mạnh. Tính trương co, tính dính giảm thiểu. Dầu thấm qua đất đến mạch nước ngầm sẽ làm ô nhiễm, gây hại nguồn nước ngầm. Dầu là những hợp chất hữu cơ cao phân tử có đặc tính diệt sinh vật. Vì vậy, bất cứ ở đâu khi có dầu thấm vào môi trường đất, chúng đều tiêu diệt một cách trực tiếp hầu hết các thực vật, động vật nhất là vi sinh vật (trừ một số sinh vật ăn được dầu). Rõ ràng tác hại của dầu là rất lớn, có thể biến đất thành đất chết. Ảnh hưởng đến sự nảy mầm của cây trồng: dầu thô làm chậm và làm giảm tỷ lệ nảy mầm, nghĩa là trồng trọt trên đất ô nhiễm dầu mà không bón thêm chất dinh dưỡng sẽ làm cho tỷ lệ nảy mầm thấp hơn so với cây trồng trên đất không bị ô nhiễm. Ảnh hưởng của dầu đến sự phát triển của cây trồng: ô nhiễm dầu có sự tương quan chặt chẽ với tất cả những thông số phát triển của cây trồng. Sự khác nhau trong chiều cao của cây giữa vùng đất không bị ô nhiễm và đất bị ô nhiễm dầu (không bổ sung chất dinh dưỡng) khác nhau từ 24% - 33% so với đối chứng(chiều cao cực đại của cây được ghi nhận). Tác động của dầu đến môi trường đất: sự tác động của dầu lên môi trường đất chủ yếu bằng cách kiềm hãm quá trình vận chuyển, bay hơi và phân hủy sinh học diễn ra trong đất. Tác dụng của lực hấp dẫn kéo các chất lỏng theo chiều đi xuống (ngược với lực giữ lại các chất lỏng đó) nên sẽ xảy ra sự hấp thụ trên hạt khoáng hoặc nằm trong các lỗ hổng cấu trúc của đất. Hậu quả và thực trạng ô nhiễm môi trường đất: Hậu quả: Ô nhiễm và suy thoái môi trường đất gây ra rất nhiều tác hại. Trước hết, phải kể đến hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất bị mất do trầm tích và rửa trôi theo các dòng nước. Thông thường, hàm lượng các chất dinh dưỡng (N, P, K) trong trầm tích đất cao gấp 10 lần trong đất do các chất này bị hoà tan và trôi đi. Giá trị lượng dinh dưỡng bị mất đi có thể được tính thông qua lượng dinh dưỡng cần bổ sung vào. Khi đất xuống cấp, khả năng giữ nước của đất cũng sẽ bị yếu đi, tổn thất nước mưa tăng lên và do đó xói mòn cũng tăng theo. Người ta tính được rằng, khi lượng mưa thất thoát 20-50% tổng lượng mưa thì lượng đất bị xói mòn sẽ tăng lên 8-10%. Xói mòn đất còn làm cho các chất ưa nước dễ tan hơn, những phần màu mỡ dễ bị rửa trôi hơn. Như vậy, suy thoái và ô nhiễm môi trường đất có thể gây ra hàng loạt các tác hại cho môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội. 3.2 Tình trạng môi trường đất ở Việt Nam Theo bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường. 1994 thì môi trường của nước ta bị suy thoái và ô nhiễm trầm trọng. Trong đó có suy thoái và ô nhiễm về đất. Có hơn 13 triệu đất suy thoái, đất trồng đồi núi trọc. Đô ẩm cao, mưa nhiều, bão lớn nên các quá trình suy thoái diễn ra nhanh chóng, nhất là vùng đất dốc không có rừng che phủ. Các chất dinh dưỡng bị rữa trôi có thể đến 150 -170 tấn/ha/năm ở đất dốc 20 – 220. Ngoài ra hàm lượng khoáng vi lượng rất ít, pH giảm, lớp mặn bị kết vón, đá ong hóa dẫn tới khả năng mất canh tác. Ngoài việc đất mất canh tác, hay giảm độ phì nhiêu của đất, thì việc sử dụng không hợp lý đất và nước trên các lưu vực sẽ gây hiện tượng bồi lấp dòng sông, lòng hồ, cửa biển. Ở miền Trung gió đẩy các cồn cát duyên hải vào đất liền gây suy thoái đất trầm trọng. Ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ, hàng trăm hàng ngàn ha đất màu mỡ đã bị nhiễm mặn và nhiễm phèn. Đất còn bị xói lở các vùng dân cư ven sông, ven biển. Ngoài ra đất còn bị suy thoái hoặc ô nhiễm do khai thác nông nghiệp quá đáng, không bù đắp đủ số chất khoáng lấy đi qua nông sản. Việc dùng phân tươi để bón ruộng hay việc dùng các chất độc hại làm ô nhiễm đất Biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường đất: Chống ô nhiễm đất đang là vấn đề bức thiết đặt ra cho nhiều quốc gia. Một số biện pháp cơ bản hiện nay là: Khống chế các chất thải rắn, lỏng, khí. Mở rộng và phát triển công nghệ tuần hoàn kín hoặc xử lý chất thải để giảm hoặc loại bỏ các chất gây  ô nhiễm; Khi lợi dụng nước thải để tưới ruộng, cần nắm được thành phần chất ô nhiễm, hàm lượng và trang thái, khống chế số lượng nước tưới hoặc thực hiện xử lý chần thiết; Khống chế việc sử dụng nông dược hoá học, hạn chế sử dụng các thuốc có độc tính cao, khả năng tồn tại lớn, phát triển các loại thuốc nông nghiệp mới có hiệu quả cao, độc tính thấp, lượng tồn trữ ít. Bón phân hoá học một cách hợp lý. Tích cực áp dụng rộng rãi các kỹ thuật sinh học phòng trị sâu hại, lợi dụng các loài chim có ích, côn trùng có ích và một số vi sinh vật gây bệnh để chống lại các loại sâu hại, biện pháp này đang được rất nhiều nước trên thế giới sử dụng. Biện pháp khắc phục Khắc phục ô nhiễm dầu trong đất có nhiều cách, nhưng có thể có nhiều cách, nhưng có thể có các cách chủ yếu sau: Cày xới lên và xử lý tầng đất ô nhiễm để nó tiếp xúc với không khí cho bay hơi hay vì vi sinh vật phân hủy. Xử lý đất bằng hóa chất Trồng cây ưa dầu, có khả năng chịu đuợc nồng độ dầu. Thí nghiệm các cách khác nhau, chọn ra phương pháp thích hợp. Bốc lớp đất bị ô nhiễm (nếu mỏng) đưa đi xử lý. Tạo cho đất khả năng tự làm sạch, hoặc bằng tiếp xúc không khí hoặc vi sinh vật, hoặc bằng rửa trôi, chuyển hóa êm dịu. Sa mạc hoá: 1. Khái niệm về sa mạc hóa: 1.1 Định nghĩa sa mạc hoá: Sa mạc hóa là sản phẩm cuối cùng của sự thoái hóa tài nguyên môi trường (soil degradation) xảy ra ở vùng khô và bán khô. Đây là kết quả của sự thay đổi thời tiết, khí hậu và sự tác động của con người. Suốt những năm 1968 – 1973, nạn sa mạc hóa đã diễn ra chủ yếu do sự chăn thả quá mức. Sa mạc Sahara đang tiến dần vào vùng Sahel với tốc độ trung bình khoảng 50 km/ năm. 1.2 Nguyên nhân sa mạc hoá: Sa mạc hóa gần đây là kết quả của sự tác động qua lại giữa hạn hán (bao gồm cả các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, . . . ) và việc sử dụng tài nguyên môi trường không hợp lý (do áp lực của con người trong việc khai thác đất đai). 1.3 Cơ chế chung của sự sa mạc hoá: Mở rộng và tăng cường sử dụng đất trên những vùng đất khô cằn, làm nông nghiệp khi đất còn ẩm ướt (gồm cả chăn nuôi, trồng trọt, và khai thác rừng). Sự xói mòn do gió hoặc do nước. Sự thay đổi khí hậu, thời tiết. Sự chăn thả tăng lên trong những năm đất còn ẩm ướt làm cho mặt đất rắn chắc lại và số lượng thú nuôi tăng nhanh gây áp lực cho cây trồng lâu năm. Kết quả là mặt đất bị phô ra vào mùa khô và gió dễ dàng xói mòn bề mặt. Hoạt động canh tác trong những năm ẩm ướt làm tăng sự thoát hơi nước và tăng sự xói mòn do gió vào mùa khô. Trong những năm khô hạn sau đó, vấn đề xói mòn do gió làm cho khả năng tích lũy nước tầng mặt giảm xuống. Việc giảm số lượng các cây lâu năm cũng làm cho nước ngầm tụt xuống ngay cả mùa khô cũng như mùa khô. Nhìn chung, sa mạc hóa là một trong những quá trình mà tiềm năng sản xuất của đất khô hay bán khô bị giảm đi một cách đáng kể. 1.4 Các mức độ sa mạc hoá: Năng suất sản xuất giảm 10 – 25%: sa mạc hóa bắt đầu. Năng suất sản xuất giảm 25 – 50%: sa mạc hóa trung bình. Năng suất sản xuất > 50%: sa mạc hóa nghiêm trọng, trong những trường hợp này có sự xuất hiện các rãnh hay các ụ cát lớn. Sa mạc hóa và việc lạm dụng đất đai ở một số nơi (x 1000km2) Những vùng đất khô có thể bị sa mạc hóa DT sa mạc hóa nhẹ và trung bình DT sa mạc hóa mạnh và nhiều Tổng DT bị sa mạc hóa Châu Phi Châu Á Châu Úc Châu Âu Bắc Mĩ Nam Mĩ Tổng cộng 1286 1671,8 663,3 299,7 732,4 516,6 5169,2 245,3 326,7 86 94,6 72,2 72,8 897,6 74 43,7 1,6 4,9 7,1 6,3 137,6 319,3 370,4 87,6 99,5 79,3 79,1 1035,2 2. Hậu quả và thực trạng của sa mạc hoá: 2.1 Hậu quả: 2.1.1 Về mặt sinh thái học: Do điều kiện khí hậu ở sa mạc rất khắc nghiệt, cho nên ở đây khá nghèo nàn về chủng loại động - thực vật, hay nói cách khác, đa dạng sinh học ở đây là rất thấp. Sự đa dạng về loài của động - thực vật có liên quan rất mật thiết tới nhau và có lên quan trực tiếp tới lượng mưa. Nhìn dưới góc độ sinh thái học thì lượng mưa là yếu tố rất quan trọng vì nó quyết định đến năng suất cây trồng và sự phong phú, đa dạng của sinh vật. Lượng mưa có thể được xem như là nhân tố giới hạn chủ yếu đến các quá trình sinh học cùng với các yếu tố khác: nhiệt độ, dinh dưỡng... làm giới hạn đến năng suất sinh khối,vì thế giới hạn tính phong phú và đa dạng của động - thực vật. Ở sa mạc chỉ có những thực vật có tính thích nghi cao mới có thể tồn tại: xương rồng, các cây gai, cây bụi... nhưng khả năng cho sinh khối của chúng rất thấp. Sự nghèo nàn của thực vật đã làm cho động vật không có điều kiện phát triển. Một số loài động vật đặc trưng như chuột, một số loài bò sát, đà điểu… có cuộc sống gắn liền với lượng sinh khối thực vật là các trảng cỏ, cây thân bụi… thì có khả năng tồn tại nhưng tình trạng đa dạng sinh học vẫn rất nghèo nàn. Các động vật ở sa mạc cần có khả năng thích nghi cao để có thể tồn tại trong điều kiện khắc nghiệt do khí hậu sa mạc gây ra. Ví dụ: đà điểu sống ở những vùng khô cằn ở châu Phi do có kích thước lớn nên không thể tránh được cái nắng gay gắt và chúng phản ứng lại bằng cách thở hổn hển và dựng đứng lông vào ban ngày. Nếu có gió thì chúng không thở mạnh nữa mà chỉ dựng đứng bộ lông tưa thớt trên lưng. Khi đó, hơi nóng sẽ mật đi do đối lưu nhiệt. Vào ban đêm, khi nhiệt độ hạ thấp xuống thì bộ lông trên lưng chúng xẹp lại để tạo ra một tầng cách ly nhiệt để ổn định thân nhiệt. Ngoài ra, tại những nơi đang bị sa mạc hóa dữ dội thì tính đa dạng sinh học cũng bắt đầu bị giảm sút,tiểu khí hậu thay đổi theo chiều hướng khắc nghiệt hơn trạng thái ban đầu, hạn hán liên tiếp xảy ra và đe dọa đến đời sống động - thực vật…Tất cả những yếu tố trên đã tác động mạnh mẽ vào mặt đất, làm cho mặt đất ngày một xấu đi, mất dần các chức năng canh tác và chức năng giá đỡ cho động - thực vật, tạo ra một sự du nhập giống loài mới có thể thích nghi cao hơn với điều kiện khí hậu mới. 2.1.2 Về mặt xã hội: Sa mạc hóa kéo theo sự thiếu hụt trầm trọng lương thực, thực phẩm. Thực tế, tốc độ tăng sản lượng lương thực, thực phẩm cao nhờ công nghệ sinh học, tuy nhiên sự phân chia không đều dẫn đến một số nơi lạm dụng và khai thác đất thiếu khoa học. Thế giới đang đối mặt với một vấn đề nan giải, đó là: “dân số gia tăng theo cấp số nhân còn lương thực, thực phẩm gia tăng theo cấp số cộng”. Để giải quyết các vấn đề trên thì không có cách nào khác hơn là con người phải tấn công vào tự nhiên, bắt tự nhiên phục tùng ý muốn điên rồ của mình. Vì vậy, diện tích đất sa mạc hóa ngày càng tăng lên, đất canh tác giảm xuống. Nạn đói và tranh chấp xảy ra, môi trường xã hội xuống cấp. Đó là hậu quả về mặt xã hội của nạn sa mạc hóa. 2.2 Thực trạng sa mạc hoá: 2.2.1 Thế giới với vấn đề sa mạc và hoang mạc hóa: Theo Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc (LHQ) Ban Ki Mun, Một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại phải đối mặt là hiện tượng sa mạc hóa. Đây là một vấn đề toàn cầu đang tác động đến 1/3 trái đất và đe dọa cuộc sống của 1,2 tỷ người trên hành tinh. Vào tháng 6/2007, LHQ đã tiến hành một cuộc nghiên cứu và kết quả thu được thật sự đáng lo ngại. Tình trạng sa mạc hóa đang gia tăng với tốc độ báo động, gấp đôi so với những năm 1970. Theo tính toán, đến năm 2025 sẽ có 2/3 diện tích đất canh tác ở châu Phi, 1/3 diện tích đất canh tác ở châu Á và 1/5 diện tích đất canh tác ở Nam Mỹ không còn sử dụng được. Trên thế giới, vùng bị sa mạc hóa nhiều nhất là Trung Á và Nam sa mạc Sa-ha-ra, nơi đại bộ phận dân chúng đều sống trong cảnh nghèo khổ và phải đối mặt với tình trạng xâm thực của cát bụi. Châu Á có hơn 1,7 tỉ ha đất khô cằn và bán khô cằn. Những vùng đất bị khô hạn và thoái hoá bao gồm các sa mạc rộng lớn ở Trung quốc, Pakistan, Mông Cổ, Iran, Ấn Độ, Nepal và Lào. Ước tính, 67% “nước ảo” dùng để sản xuất nông nghiệp; 23% dùng cho chăn thả gia súc gia cầm và 10% dùng trong ngành sản xuất công nghiệp. Sri Lanka và Nhật Bản là 2 quốc trong tốp các nước phải nhập khẩu Virtual Water Vào thập niên 1930 tại Hoa Kỳ, vì quá tải chăn nuôi mục súc và canh nông ở vùng Đại Bình nguyên Bắc Mỹ cùng với cơn hạn hán dài hạn, kết quả là trận "Dust Bowl" vĩ đại làm hư hại đất canh nông và hàng chục nghìn người phải xiêu tán. Sau đó với nhiều cải tiến về lối canh tác đất và sử dụng nước con người đã phản ứng kịp thời nên vấn nạn Dust Bowl không còn tái diễn. Tuy vậy ở những quốc gia đang phát triển nạn sa mạc hóa vẫn tiến hành, ảnh hưởng đến hàng chục triệu người. Nạn nhân mãn và phép hỏa canh làm rẫy ở vùng nhiệt đới là nguyên do chính của nạn phá rừng. Khi đã mất thảm thực vật, hậu quả là đất đai bị soi mòn, mất chất màu và cuối cùng là biến thành sa mạc. Hiện tượng này rõ nhất ở vùng cao nguyên Madagascar nơi 7% diện tích là đất cằn đồi trọc, không còn khả năng trồng cấy được nữa. Nạn quá tải mục súc là vấn nạn ở Phi châu như vùng núi Waterberg ở Nam Phi và dải Sahel. Sa mạc Sahara hiện nay đang tiến dần về phía nam với tốc độ 45 km/năm. Các nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Mông Cổ, Trung Hoa, Tajikistan, Afghanistan, Turkmenistan, Iran và Uzbekistan cũng bị ảnh hưởng nặng. Riêng Kazakhstan kể từ năm 1980, gần 50% diện tích trồng trọt đã bị bỏ hoang vì đất quá cằn trong tiến trình sa mạc hóa. 2.2.2Việt Nam với sa mạc hoá: Hiện nay, Việt Nam vẫn còn khoảng 9,3 triệu ha đất liên quan tới sa mạc hóa (chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc), trong đó có 5,06 triệu ha đất chưa sử dụng, khoảng 2 triệu ha đất đang được sử dụng đã bị thoái hóa nặng và hơn 2 triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao. Độ phì nhiêu của đất đang bị giảm xuống do xói mòn, rửa trôi, đá ong hoá, chua mặn hoá. Tài nguyên rừng cũng bị suy giảm đáng kể. Nếu như năm

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docÔ nhiễm đất và sa mạc hóa.doc