Tiểu luận Phân tích chính sách tiền tệ được Việt Nam sử dụng trong giai đoạn 2010 - 2011

Năm 2011 thực sự là “năm thử lửa” đối với điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa, do những bất ổn vĩ mô mang lại. Bám sát Nghị quyết 11 với trọng tâm là giảm tổng cầu, cùng với sự “thắt lưng buộc bụng” của tài khóa, chính sách tiền tệ cũng phải theo hướng này.

Cụ thể, trong dịp Tết 2011 lượng tiền gửi tăng mạnh so với Tết 2010, vì vậy NHNN đã quyết định tăng mức tiền mặt ra lưu thông và chuyển tiền đến những khu vực có nhu cầu lớn.

Và, “thắng lợi đầu tiên là đã thành công trong việc rút về lượng tiền cung ứng phục vụ Tết Nguyên đán”.

Với sự can thiệp của NHNN thì tính đến hết năm 2010, kết quả đạt được cụ thể đó là: tín dụng phi sản xuất (gồm: cho vay bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng) chiếm tỷ trọng 17 - 18% tổng tín dụng. Còn mức tăng tín dụng hai tháng đầu năm tăng khoảng 3.27% nhưng trong đó có hư số do điều chỉnh tỷ giá ngày 11/2/2011.

 

doc16 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 22/08/2013 | Lượt xem: 3233 | Lượt tải: 50download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Phân tích chính sách tiền tệ được Việt Nam sử dụng trong giai đoạn 2010 - 2011, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kỳ quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công an việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát... Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định. Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế. Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế. Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể là các công cụ chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao. Bước sang thế kỷ 21, Việt Nam xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế - công bằng xã hội, vì vậy việc lựa chọn giải pháp nào để xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn là một vấn đề khó khăn phức tạp. Quá trình học tập và rèn luyện môn kinh tế vĩ mô, được sự hướng dẫn của thầy: Đào Thế Sơn, nhóm em xin trình bày đề tài: " Phân tích các chính sách tiền tệ được Việt Nam sử dụng trong giai đoạn 2010 - 2011 ".          PHẦN I: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. 1.1 Khái niệm và vị trí của CSTT. Khái niệm: CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô do NHTW khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình để đạt được các mục tiêu: Ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế. Vị trí: Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước thì CSTT là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ. Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như: Chính sách tài khóa, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại, Đối với NHTW việc hoạch định, thực thi chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho CSTT quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn. 1.2 Mục tiêu của CSTT. Ổn định giá trị đồng tiền. Tăng công ăn việc làm. Tăng trưởng kinh tế. Ngăn ngừa lạm phát. 1.3 Các công cụ của CSTT. 1.3.1 Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng trung ương đối với ngân hàng thuơng mại. Khi cấp một khoản tín dụng cho NHTM, NHTW đã tăng luợng tiền cung ứng đồng thời  tạo cơ sở cho NHTM tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ. 1.3.2 Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số luợng phuơng tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các NHTM. 1.3.3 Công cụ nghiệp vụ thị truờng mở: là hoạt động NHTW bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị truờng tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh huởng đến khối luợng dự trữ của các NHTM dẫn đến làm tăng hay giảm khối luợng tiền tệ. 1.3.4 Công cụ lãi suất tín dụng: đây đuợc xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt luợng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Nó là công cụ rất lợi hại. Cơ chế điều hành lãi suất đựơc hiểu là tổng thể những chủ truơng chính sách và giải pháp cụ thể của NHTW nhằm điều tiết lãi suất trên thị truờng tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định. 1.3.5 Công cụ hạn mức tín dụng: là công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của NHTW để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW  buộc các NHTM phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. 1.3.6 Tỷ giá hối đoái: là tương quan giữa sức mua đồng tiền nội tệ với đồng tiền ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái vừa là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ , tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Phần II: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam 1. Chính sách tiền tệ năm 2010 1.1 Thắt chặt chính sách tiền tệ.  Thực trạng thắt chặt tiền tệ  đầu năm 2010 có phần quá mạnh đã gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, ủy ban kinh tế của quốc hội nhận định khi thẩm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2010. Chính phủ đánh giá: Tình hình kinh tế, xã hội trong 4 tháng đầu năm tiếp tục có chuyển biến tích cực. + Cơ quan thẩm tra nhận định: Chất lượng tăng trưởng kinh tế trong năm 2010 vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện. Hệ số ICOR (đo lường số đơn vị đầu tư tính theo % GDP để tạo ra 1 đơn vị tăng trưởng GDP) năm 2010 cũng sẽ rất cao nếu hệ số "gía trị sản xuất công nghiệp trên giá trị gia tăng ngành công nghiệp" không được cải thiện trong những quý tiếp theo (quý I lên tới 2,46 lần). + Tín dụng tăng thấp, lãi suất tăng cao: Báo cáo thẩm tra đã phân tích được: Tổng dư nợ tín dụng trong năm 2009 tăng 37,53% (bình quân 3,13% /tháng), trong đó tín dụng bằng VND tăng khoảng 43%. Tháng 1/2010 chỉ tăng khoảng 0,26%, tháng 2 tăng 1,14%, tháng 3 tăng  1,49%, và quý I chỉ tăng 3,52%, trong đó dư nợ bằng VND tăng 0,57% so với tháng 12/2009.  Qua kết quả thẩm định cho thấy việc chỉ số giá tiêu dùng tăng cao đột biến trong quý I năm 2010 gây tâm lý lo lắng trong dân cư và cộng đồng doanh nghiệp. Trong điều kiện xuất khẩu chưa bảo đảm, dự trữ ngoại hội bị giảm sút, vòng xoáy nhập siêu - suy giảm giá trị đồng nội tệ - lạm phát - áp lực điều chỉnh tỷ giá - lạm phát sẽ gây thách thức lớn cho ổn định kinh tế vĩ mô. 1.2. Ổn định vĩ mô thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và lạm phát.   Năm 2010 lạm phát và giá cả tăng cao nguyên nhân là do: + Thứ nhất: Sự phục hồi của nền kinh tế làm cho nhu cầu các loại hàng hóa dịch vụ đều tăng cao, cộng với thiên tai, lũ lụt ở các tỉnh miền Trung lại càng làm tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm, và vật liệu xây dựng... + Thứ hai: Giá của một số mặt hàng nhập khẩu của nước ta trên thị trường thế giới tăng lên do sự phục hồi của kinh tế toàn cầu làm tăng chi phí sản xuất của nhiều doanh nghiệp. + Thứ ba: Việc điều chỉnh tỷ giá làm đồng tiền nội tệ mất giá làm cho chi phí nhập khẩu tăng lên đẩy mặt bằng giá nhiều hàng hóa tăng theo.  Trong năm 2010 Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, khẳng định sự đúng đắn, hợp lý trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô thời gian qua của Chính phủ: Tăng trưởng GDP trong quý I/2010 đạt mức 5,83%, cao hơn rất nhiều con số 3,14% so với cùng kỳ năm 2009. Như vậy, mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm 2010 đạt 6,5% mà Chính phủ đề ra trước đó rất khả thi. Hầu hết các lĩnh vực đều có sự bứt phá ấn tượng, khiến chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng ở mức tăng trưởng cao hơn khi nhu cầu thế giới thực sự phục hồi.  Trong bối cảnh lạm phát có xu hướng gia tăng và tính không ổn định trên thị trường tiền tệ, đòi hỏi cần phải có sự lựa chọn linh hoạt cơ chế điều hành tỷ giá để đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định thị  trường tiền tệ.  Theo nghị quyết của chính phủ và quốc hội, mục tiêu kinh tế - xã hội của năm 2010 là phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng, ngăn chặn lạm phát cao trở lại, tăng khả năng đảm bảo an sinh xã hội. Dựa trên các điều kiện, nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội, NHNN đánh giá các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu năm 2010 như sau: Tổng sản phẩm trong nước tăng khoảng 6.5%, chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá 7%, nhưng tiềm ẩn nhiều nhân tố tác động tăng ở mức cao như giá lương thực và năng lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế ở mức thấp, tổng cầu của nền kinh tế gia tăng do tác động theo độ trễ của chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng trong năm 2009 và mở rộng đầu tư trong năm 2010. Thâm hụt cán cân thương mại có nguy cơ ở mức cao, do xuất khẩu tăng chậm, nhập khẩu gia tăng bởi tác động của việc mở rộng đầu tư và cả thế giới, cán cân thanh toán quốc tế có khả năng thâm hụt hoặc thặng dư ở mức thấp, thị trường ngoại hối dư cầu. Bội chi ngân sách ở mức 6.2% GDP, và tổng vốn đầu tư toàn xã hội 41% GDP, trong khi đó việc đầu tư vốn nước ngoài (FDI, FII và vay thương mại) tăng chậm, sẽ gây sức ép đối với thị trường vốn tín dụng, lãi suất và ngoại tệ. Trước tình hình đầy biến động của nền kinh tế thì năm 2010 “Ổn định kinh tế gắn với phát triển thị trường nội địa” là một chính sách hiệu quả. Và phương án để thực hiện chính sách đó là: + Phương án 1: chú trọng nhiều hơn đến chất lượng tăng trưởng. Trong đòi hỏi đó chứa hàm ý về một mục tiêu tăng trưởng vừa phải hơn, để tập trung chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp ... Trong phương án này, dự báo tăng trưởng kinh tế khoảng 6 – 6.5%, tăng trưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 3.0-3.2%; công nghiệp và xây dựng 6.4 – 6.8%; dịch vụ 7.1 – 7.9%. + Phương án 2: theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao, khoảng 7%. Tốc độ tăng trưởng khu vực nông, lâm và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ tương ứng là 3.2 – 3.4%; 6.8 – 7.4% và 7.9 – 8.5%. Có thể nói, những khó khăn nhất đã qua, năm 2010 mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình thực thi CSTT, nhưng với sự điều hành linh hoạt sự ứng phó kịp thời với những biến động của tình hình, về cơ bản CSTT đã ổn định được nền kinh tế kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưỏng kinh tế. 2. Các chính sách tiền tệ năm 2011. 2.1. Vấn đề tỷ giá và tăng trưởng tín dụng.   Năm 2011 thực sự là “năm thử lửa” đối với điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa, do những bất ổn vĩ mô mang lại. Bám sát Nghị quyết 11 với trọng tâm là giảm tổng cầu, cùng với sự “thắt lưng buộc bụng” của tài khóa, chính sách tiền tệ cũng phải theo hướng này.  Cụ thể, trong  dịp Tết 2011 lượng tiền gửi tăng mạnh so với Tết 2010, vì vậy NHNN đã quyết định tăng mức tiền mặt ra lưu thông và chuyển tiền đến những khu vực có nhu cầu lớn.   Và, “thắng lợi đầu tiên là đã thành công trong việc rút về lượng tiền cung ứng phục vụ Tết Nguyên đán”. Với sự can thiệp của NHNN thì tính đến hết năm 2010, kết quả đạt được cụ thể đó là: tín dụng phi sản xuất (gồm: cho vay bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng) chiếm tỷ trọng 17 - 18% tổng tín dụng. Còn mức tăng tín dụng hai tháng đầu năm tăng khoảng 3.27% nhưng trong đó có hư số do điều chỉnh tỷ giá ngày 11/2/2011.   Bên cạnh đó NHNN còn điều chỉnh tỷ giá tăng lên, quy đổi ngoại tệ đã được quy đổi sang VND theo tỷ giá mới. Từ đó làm cho một bộ phận tín dụng tăng lên, kéo theo tăng tín dụng cả hệ thống. Tuy nhiên vẫn còn nhiều mối lo. Có ba vấn đề được đặc biệt chú ý là lãi suất cao, thanh khoản kém khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện thắt chặt tiền tệ, và việc đưa kinh doanh vàng vào khuôn khổ luật pháp.     Đối với vấn đề lãi suất,trong năm 2011 có thông tin một vài ngân hàng đẩy lãi suất huy động vượt quá 14% (mức trần quy định của NHNN). Trước đây  vàng là hàng hóa, cho phép lưu thông bình thường, nhưng gần đây đã xuất hiện nhiều tiêu cực như phát sinh đầu cơ, liên thông với ngoại tệ, thậm chí trở thành phương tiện thanh toán. Gần hai năm nay, Chính phủ giao cho NHNN xây dựng nghị định quản lý vàng thay thế cho Nghị định 174. Và tinh thần chung của nghị định này: là quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do. 2.2 Chính sách tiền tệ năm 2011 kiểm soát lạm phát.  Năm 2011, NHNN sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng nhằm mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần tăng trưởng kinh tế" - đây là 1 định hướng chiến lược mới, thay cho hỗ trợ tăng trưởng của chính sách tiền tệ năm 2010.  Để thực hiện CSTT có hiệu quả, năm 2011,NHNN phải có những hoạt động cụ thể: Hệ thống ngân hàng Việt Nam bắt đầu triển khai luật NHNN và luật các TCTD mới đây là cột mốc quan trọng nhằm đẩy nhanh hơn nữa quá trình đổi mới ngành ngân hàng theo cơ chế thị trường. Huy động  nguồn vốn từ các TCTD nước ngoài phải tăng và dư nợ cho vay khách hàng cũng phải tăng. Cơ cấu tín dụng tập trung đầu tư cho lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, cho vay kinh doanh bất động sản và kinh doanh chứng khoán chiếm tỷ trọng thấp. Việc huy động nguồn vốn từ các TCTD nước ngoài là lực lượng tạo động lực cạnh tranh tích cực, vì thế các TCTD trong nước phải không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực toàn diện trên các mặt tổ chức, quản trị điều hành, quản lý rủi ro, nâng cấp hạ tầng, công nghệ, đa dạng hóa và gia tăng tiện ích sản phẩm và dịch ngân hàng. 2.3 Vấn đề tỷ giá năm 2011 - Quả bóng trong ngân hàng nhà nước.  Hiện nay, tỷ giá USD/VND giao dịch trên thị trường tự do lớn hơn tỷ giá niêm yết khoảng 8%. Tình trạng này kéo dài trong khoảng 4 tháng qua và đang tạo ra nhiều áp lực.  Biến động tỷ giá và nguyên nhân: + Biến động tỷ giá: Kể từ sau đợt nâng tỷ giá liên ngân hàng từ 18,544 lên 19,532 VND/USD vào ngày 17/08/2010 đến nay, tỷ giá giao dịch trên thị trường tự do luôn vượt tỷ giá niêm yết chính thức. Vào đầu tháng 12/2010, tỷ giá có lúc đã tiến sát mốc 22,000 VND/USD. Trong 3 tuần trở lại đây, tỷ giá trên thị trường tự do được giao dịch khá bình ổn quanh mốc 21,000 VND/USD, cao hơn gần 8% so với tỷ giá niêm yết. + Nguyên nhân: Nguyên nhân chính của việc tỷ giá biến động mạnh trong thời gian qua xuất phát chủ yếu từ tâm lý người dân (Bằng chứng dễ thấy nhất là tình trạng đô la hoá trong nền kinh tế tăng khá mạnh; tín dụng bằng USD trong năm 2010 vượt trội so với tín dụng đồng nội tệ). Nguyên nhân quan trọng khác là năm 2010, Việt Nam tiếp tục bị thâm hụt cán cân thanh toán. Mức thâm hụt này ước tính vào khoảng 2.5 tỷ USD, thấp hơn dự tính ban đầu là 4.5 tỷ USD. Những khoản mục chính trong cán cân thanh toán năm 2010 là nhập siêu hàng hoá 12.4 tỷ USD; nhập siêu dịch vụ 0.86 tỷ USD; vốn FDI giải ngân ròng khoảng 8 tỷ USD; vốn FPI (không tính 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ phát hành quốc tế) đổ vào khoảng 1 tỷ USD; lượng kiều hối khoảng 8 tỷ USD và khoảng 3 tỷ USD vốn ODA giải ngân. Các tính toán sơ bộ cho thấy dòng tiền ròng nước ngoài đổ vào Việt Nam năm 2010 vẫn là số dương. Điều này cũng cho thấy USD trong nền kinh tế không phải là quá khan hiếm. Những phân tích trên một lần nữa chứng minh tỷ giá biến động mạnh trong thời gian qua chủ yếu là do tình trạng đô la hoá tăng mạnh trong nền kinh tế. 2.4. Ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô:   Tại cuộc đọa đàm “Tình hình kinh tế vĩ mô và chính sách tiền tệ năm 2011” do Hiệp hội Phát triển hàng tiêu dùng Việt Nam VACOD tổ chức mới đây ở Hà Nội, các chuyên gia tài chính của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia khẳng định rằng "bức tranh" tài chính - kinh tế trên thực tế tốt hơn nhiều người nghĩ, và mục tiêu trong năm 2011 là ổn định kinh tế vĩ mô, tạo ra được khuôn khổ thuận lợi hơn cho sự phát triển của doanh nghiệp  “Những biện pháp về ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát của Chính phủ được đưa ra đã có một nền tảng kinh tế vĩ mô tốt hơn các đánh giá được đưa ra trước đó. Với mục tiêu cao nhất là kiểm soát lạm phát như hiện nay thì các biện pháp cứng rắn có thể coi là phù hợp. Điều này có thể dẫn tới các biện pháp kiểm soát quá chặt chẽ và ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của ngân hàng thương mại nói chung cũng như nền kinh tế”. PHẦN III: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Nhìn chung, NHNN đã kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng phù hợp với mức tăng trưởng của nền kinh tế và chỉ số giá cả, đã đổi mới trong điều hành các công cụ CSTT: chuyển dần sang các công cụ CSTT gián tiếp một cách linh hoạt và có sự phối hợp đồng bộ giữa các công cụ CSTT với nhau. Hiệu quả điều hành CSTT của NHNN ngày càng nâng lên đã góp phần ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an sinh xã hội. Song song với các kết quả đạt được ở trên, trong quá trình điều hành CSTT cũng còn một số vấn đề đặt ra đặt ra để nghiên cứu xử lý nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả điều hành CSTT của NHNN trong thời gian tới, giai đoạn Việt Nam hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với các nước trong khu vực và thế giới, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới sụt giảm. Đối với công cụ CSTT: Thành viên tham gia thị trường mở chưa nhiều, hàng hóa giao dịch trên thị trường mở chưa được đa dạng, thị trường mở chưa thực sự là công cụ được sử dụng rộng rãi nhằm duy trì lãi suất chủ đạo "lãi suất liên ngân hàng định hướng". Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN mặc dầu thời gian có nhiều đổi mới và chuyển biến tích cực, nhưng chưa thực sự tác động mạnh mẽ tới các NHTM. - Giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành CSTT trong thời gian tới nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần sụt giảm kinh tế. + Điều hành các công cụ CSTT Trong điều kiện nước ta hội nhập kinh tế quốc tế và nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới đang sụt giảm, thì việc điều hành các công cụ CSTT cần chủ động, linh hoạt, theo kịp sự phát triển của thị trường tiền tệ và trong khả năng kiểm soát tiền tệ là một trong các giải pháp để đạt được CSTT hiệu quả. Duy trì việc tự do hóa công cụ lãi suất: Để NHNN thật sự là người cho vay cuối cùng trên thị trường liên ngân hàng cần tiếp tục đổi mới cơ chế điều hành lãi suất theo hướng: sử dụng lãi suất tái chiết khấu như lãi suất sàn, lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất tái cấp vốn làm lãi suất trần trên thị trường liên ngân hàng nhằm tác động đến việc huy động vốn và cho vay của các NHTM trên thị trường. Tiếp tục điều hành công cụ dự trữ bắt buộc một cách chủ động và linh hoạt theo diễn biến của thị trường nhằm kiểm soát tiền tệ, mặt khác tạo điều kiện cho các TCTD sử dụng vốn khả dụng linh hoạt và hiệu quả. Đẩy mạnh việc đổi mới điều hành công cụ nghiệp vụ thị trường mở xem thị trường mở là công cụ được sử dụng rộng rãi nhằm duy trì lãi suất chủ đạo" lãi suất liên ngân hàng định hướng", mở rộng việc kết nạp thành viên tham gia trên thi trường mở, đa dạng hóa hàng hóa giao dịch trên thị trường mở nhằm đáp ứng thanh khoản cho các TCTD, tạo điều kiện và thúc đẩy sự phát triển của thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Tiếp tục điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt theo quan hệ cung - cầu trên thị trường, trong mối quan hệ với lãi suât, có sự kiểm soát của nhà nước, nhằm đảm bảo cân đối vĩ mô: kiểm soát được lạm phát, kích thích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu. Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến cho các doanh nghiệp áp dụng các công cụ phòng ngừa, bảo hiểm rui ro tỷ giá. + Nâng cao tính độc lập, trách nhiệm của NHNN. Đây là một trong các điều kiện tiên quyết nhằm nâng cao hiệu quả điều hành CSTT của NHNN. Việc nâng cao tính độc lập, trách nhiệm cho NHNN phải thích ứng với mức đôc hội nhập tài chính thế giới và phù hợp với thể chế chính trị ở nước ta. Theo đó cần sửa đổi, bổ sung luật NHNN theo hướng trao thêm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho NHNN trong xây dựng dự án CSTT. Chủ động trong việc sắp xếp cơ cấu tổ chức và nhân sự, tự chủ về tài chính trong bồi dưỡng, đào tạo, đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ NHNN. Có chế độ đãi ngộ hợp lý để khuyến khích thu hút nhân tài, hiện đại hóa công nghệ quản lý trong việc tổng hợp, thống kê, phân tích, dự báo... phục vụ cho việc điều hành CSTT. + Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tiền tệ Tiếp tục tạo hàng hóa và phát triển nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ, mở rộng thành viên tham gia thị trường, nâng cao vai trò điều tiết, hướng dẫn của NHNN trên thị trường tiền tệ. Sự phát triển của thị trường tiền tệ sẽ là kênh dẫn có hiệu quả trong cơ chế truyền tải các tác động của CSTT đến nền kinh tế. Nhược điểm: Thị trường tiền tệ chưa thực sự là kênh dẫn có hiệu quả trong cơ chế truyền tải các tác động của CSTT đến nền kinh tế. Sự phối hợp giữa CSTT với chính sách tài chính và một số chính sách kinh tế vĩ mô khác chưa chặt chẽ, do đó giảm hiệu quả  điều hành CSTT. Ưu điểm: Khi đánh giá về CSTT phải đứng ở góc độ của toàn dân chứ không thể đứng trên quan điểm của doanh nghiệp. Dưới sự chỉ đạo của chính phủ, CSTT thông qua điều hành lãi suất tiền gữi và lãi suất dự trữ bắt buộc kịp thời đã giúp ngân hàng vượt qua được thời kỳ sóng gió. Đến bây giờ các ngân hàng đều hoạt động ổn định, lãi suất huy động và lãi suất cho vay của hệ thống NHTM cổ phần đã dần trở lại gần như cuối năm 2007. Nền tài chính quốc gia không sụp đổ, bảo đảm cho sự ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội. Đó là mối quan hệ nhân quả của CSTT đúng. Chính sách tất nhiên chưa thể nói là cực chuẩn nhưng việc điều hành đã đúng quy luật của kinh tế thị trường, đó là thành công. Kết luận Chính sách tiền tệ, đặc biệt là các công cụ cảu nó có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Việc sử dụng các công cụ đó như thế nào sẽ Có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của nền kinh tế ở từng thời điểm cụ thể. Ở Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì việc áp dụng cac công cụ của CSTT luôn đòi hỏi phải có sự phù hợp, hiệu quả trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Việc áp dụng các công cụ điều tiết trực tiếp có vai trò quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy vậy, thời gian gần đây chúng ta đã bộc lộ rõ những hạn chế khi nền kinh tế bước sang một giai đoạn phát triển mới. Trong khi đó các công cụ điều chỉnh gián tiếp mới được đưa vào sử dụng và chưa thực sự phát huy hết hoặc chưa thể hiện rõ vai trò của nó do nhiều nguyên nhân gắn với thực tế của nền kinh tế. Từ đó đòi hỏi chúng ta phải Có những định hướng và giải pháp đúng trong việc thực hiện các công cụ đó. Để có được điều này, bên cạnh sự định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà Nước, cần phải có sự phát triển đồng bộ về năng lực NHNN, hệ thống NHTM… và nhiều sự phối hợp đồng bộ khác. Do đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu về các công cụ của CSTT ở Việt Nam phải được coi là cả một quá trình lâu dài và cần được tiếp tục phát triển.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhân tích chính sách tiền tệ được Việt Nam sử dụng trong giai đoạn 2010 - 2011.doc
Tài liệu liên quan