Tiểu luận Phật giáo và sự ảnh hưởng ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của người Việt Nam

MỤC LỤC

Đặt vấn đề .

Nội dung .

Chương 1:Nguồn gốc Phật giáo và những quan điểm của triết học Phật giáo.

I.Nguồn gốc của Phật giáo

1.Bối cảnh Ấn Độ thời đức Phật .

2.Đức Phật Thích Ca Mâu Ni .

II.Những quan điểm của triết học Phật giáo .

1.Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan

2.Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan .

Chương II:Anhr hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam

I.Qúa trình hình thành và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam: .

II.Những đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam:

1.Tính tổng hợp .

2.Xu hướng hài hòa âm dương có phần thiên về nữ tính

3.Tính hài hòa .

III.Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần người Việt Nam:

1.Ảnh hưởng của Phật giáo về mặt tư tưởng .

2.Ảnh hưởng của Phật giáo về mặt đạo lý

3.Ảnh hưởng của Phật giáo về mặt phong tục tập quán .

4.Ảnh hưởng của Phật giáo trong lĩnh vự văn hóa nghệ thuật

Kết luận

Tài liệu tham khảo .

 

doc17 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 09/09/2013 | Lượt xem: 33395 | Lượt tải: 404download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Phật giáo và sự ảnh hưởng ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của người Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ự tồn tại của vật chất chỉ là tạm thời, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi. Do đó, không có cái gọi là “Tôi”. - Vô thường: tức là vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trinh bất tận: sinh- trụ- dị- diệt. Vậy thì có có, không không luân hồi bất tận, có đó rồi lại không, cái còn mà chẳng còn, cái mất mà chẳng mất. Đức Phật dạy:” Cái gì có trong thế gian là biến đổi, hư hại, là vô thường. vì vậy, vô thường nghĩa là không thường, không ở mãi trong một trạng thái nhất định, luôn luôn thay đổi hình dạng, từ hình thành đến biến đổi đến tan rã. Vô thường là phương pháp chỉ rõ mặt trái của đời, bài trừ sự mê lầm, ngăn chặn người chạy theo vật dục. Nó chưa phải là thuyết tuyệt đối. Vô thường là một định luật chi phối tất cả sự vật từ tâm đến hoàng cảnh. Hiểu lí vô thường, con người dễ giữ được bình tỉnh, thản nhiên trước cảnh đổi thay bất thường. Duyên: tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong vũ trụ, từ những cái vô cùng nhỏ đến những cái vô cùng lớn đều không thoát khỏi sự chi phối của nhân duyên: cái nhân(hetu) nhờ có cái duyên(prattiya) mới sinh ra mà thành quả(phla). Qủa lại do cái duyên mà thành ra nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành ra quả mới… Cứ thế, nối tiếp nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật. muôn loài cứ sinh sinh hóa hóa mãi theo quy luật nhân quả. Nhân là cái mầm; quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy phát sinh. Nhân và quả la hai trạng thái nối tiếp nhau, nương tựa vào nhau. Không có nhân không thể có quả, không có thì không thể có nhân. Nhân nào quả ấy. Con người do nhân duyên kết hợp và được tạo thành bới hai thành phần: thể xác và tinh thần. Hai thành phần ấy là kết quả hợp tan của Ngũ Uẩn. Hai thành phần tạo nên Ngũ Uẩn, do nhân duyên hợp thành. Mỗi con người cụ thể có danh sắc(nâma-suna), Duyên hợp Ngũ Uẩn thì là ta, duyên tan Ngũ Uẩn thì không còn ta, là diệt.Nhưng không phải là mất đi mà trở lại với ngũ uẩn.Ngay các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn biến hóa theo quy luât nhân quả không ngừng. Cho nên,con người cứ biến hóa,vụt mất,vụt còn,không có sự vật riêng biệt tồn tại mãi mãi,không có cái tôi thượng đỉnh.Cái tôi hôm qua không còn là cái tôi hôm nay nữa.Vì không nhận thực được cái gọi là biến ảo(Maya),vô thường,vô định của vạn vật mới là thường hằng và chân thực;không nhận thức được rằng: “cai tôi” có mà không,không mà có,nên người ta lầm tưởng ta tồn tại mãi mãi,cái gì cũng thường định, cái gì cũng là của ta,là ta,do ta nên con người cứ khát ái,tham dục,hành động chiếm đoạt nhằm thỏa mãn những ham muốn dục vọng đó,tạo những kết quả,gây nghiệp báo(Karma),mắc vào bể khổ triền miên không dứt(Sam-sara). Đã mắc vào sự chi phối của quy luật nhân duyên là chụi nghiệp báo và kiếp luân hồi.Đó là cách lý giải căn nguyên của nổi khổ của con người Phật giáo. 2.Quan điểm của Phật Giáo về nhân sinh quan: a.Quan điểm của Phật Giáo về nghiệp: Nghiệp có nghĩa là hành động hay việc làm.Tư tưởng, lời nói hay việc làm thường có ý muốn làm động cơ khởi xướng.Phật giáo gọi ya muốn hay ý chí ấy là tác ý. Nghiệp báo là một định luật nhân quả trong lĩnh vực luân lý hay như người Phương Tây gọi là “ảnh của hành động” Có vài ý kiến cho rằng thuyết nghiệp báo là loại xoa dịu, ru ngủ những con người xấu số.Nhưng đức Phật không hề dạy thế,thuyết nghiệp báo trong đức Phật cũng không bao giờ chấp nhận một cuộc sống phán sử sau kiếp sống.Theo lý nghiệp báo,chúng ta không nhất thiết bị trói buộc trong một hoàn cảnh nào vì nghiệp báo không phải là số mệnh cũng không phải là tiền định do một ma lực huyền bí đã định đoạt cho ta một cách bất khả kháng.Chúng ta có đủ năng lực để chuyển phần nào cái nghiệp của chúng ta theo ý muốn. b.Quan điểm của Phật Giáo về “Tứ diệu đế”: Nội dung của triết lý nhân sinh của Phật giáo được thể hiện trong thuyết“Tứ diệu đế”mà Phật giáo coi là bốn chân lý vĩ đại.Thông điệp“Tứ diệu đế”gồm hai mặt:Nhận thức và hành động.Đó là bốn chân lý huyền diệu,chắc chắn, hiển nhiên,bao gồm: - Khổ đế(Dukkha):Là chân lý về bản chất của nỗi khổ.Theo đạo Phật,thực tại nhân sinh là khổ ải;ngoài nỗi khổ do sinh,lão,bệnh,tử gây nên cho con người còn có nỗi khổ vì không ưa mà hợp là khổ,ưa mà phải lìa là khổ,mong không được cũng khổ,được cũng khổ mà mất cũng khổ.Đời là bể khổ. - Tập đế(Samarudays):Là chân lý về nguyên nhan của nỗi khổ.Con người trong thế giới hiện thực này khổ là vì đâu?Nguyên nhân trực tiếp là do con người có lòng tham,sân,siCon người muốn còn mãi nhưng thực tại cứ biến dịch và thay đổi,muốn trường tồ nhưng thực tại luôn biến hóa trong vòng sinh,lão,bệnh,tử;không có cái gì thực là ta,của ta.Do đó đã tạo nên cho con người những nỗi khổ triền miên cho con người trong cuộc đời.Để giải thích cho căn nguyên ấy,đức Phật đã nêu ra thuyết “Thập nhị nhân duyên”gồm: Vô minh (avidya),Hành (Samskara),Thức(Vijnâna),Danh sắc(nâmarupa)Lục căn(Sandagatana),Xúc(Sparacs),Thụ(vecsdana),Ái(Trisna),Thủ(Upadana),Hữu(bhava),Sinh(Jatri),Lão tử(jana-marana). - Diệt đế(Nirodha):Là chân lý diệt khổ.Nổi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên nhân gây ra khổ bị loại từ.Lần theo thập nhị nhân duyên,tìm ra cội nguồn của nỗi khổ và ái dục,dứt bỏ từ ngọn nguồn cho đến gốc mọi nguồn gốc đau khổ đưa chúng sinh thoát khỏi nghiệp chướng,luân hồi,đạt đến cảnh trí Niết bàn(Nirvana).Đó là thế giới lý tưởng của sự giác ngộ và giải thoát.Trạng thái Niết bàn,Thường trụ,Chính quả không thể lý giải được mà là tự mình giác ngộ.Mục đích của Phật tử là thực hiện Niết bàn, khi đang tu dưỡng là thực hiện Niết bàn từng phần, khi giác ngộ rồi là thực hiện được Niết bàn toàn phần,trở thành Phật. - Đạo đế(Marga):là chân lý chỉ ra con đường diệt khổ,nói về những con đường,cách thức để con người đạt đến trạng thái Niết bàn.Con đường diệt khổ,giải thoát và giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức,rèn luyện tư tưởng và khai sáng trí tuệ.Ba môn học này được cụ thể hóa trong khái niệm“Bát chánh đạo”(tám con đường chân chính),đó là; + Chính kiến(samyak-dristi):hiểu biết đúng đắn,kiến giải chính xác. + Chính tư duy(samyak-samkalpa):suy nghĩ đúng đắn. + Chính nghiệp(samyak-karmata):hành động chân chính,thực hện ngũ giới(không sát sinh,không trộm cắp,không tà dâm,không uống rượu,không nói dối) + Chính ngữ(samyak-vaca):lời nói chân chính,trung thực. + Chính mệnh(samyak-samadhi):kiên định,tập trung vào con đường chân chính,không để bất cứ điều gì làm lay chuyển,phân tâm. Trong tám nẻo đường này thì chính kiến,chính tư duy thuộc về trí tuệ(panna);chính ngữ,chính nghiệp,chính mệnh thuộc về Định(samadhi). Đạo Phật còn đề ra những phương pháp trên con đường thực hành tu nghiệp là: “Ngũ giới” và“Lục độ”(sáu phép tu)…Trong những giai đoạn đầu với vũ trụ quan nhân duyên,đạo Phật đã có những yếu tố duy vật và tư tưởng biện chứng tự phát.Về chính trị xã hội thì đạo Phật là tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt,tố cáo chế độ xã ghội bất công,đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội,nêu lên ước vọng giải thoát con người khỏi nỗi bi kịch của cuộc đời…Tuy nhiên,trong luận thuyết về nhân sinh và con đường giải thoát,tư tưởng Phật giáo còn hạn chế,mang nặng tính bi quan,yếm thế về cuộc sống,chủ trương“xuất thế”, “siêu thoát” có tính chất duy tâm,không tưởng về những vấn đề xã hội. Sau khi đúc Phật tạ thế,các đệ tử của Người đã định kì họp lại.Và tại các cuộc họp càng về sau,sự bất đồng ý kiến giữa các chư tăng trong việc hiểu và giải thích kinh phật ngày càng gay gắt.Hàng ngũ Phật giáo do vậy chia làm hai phái:Phái của các vị trưởng lão gọi là Thượng Tọa(theravada) theo xu hướng bảo thủ,chủ trương bám sát kinh điển,giữ nguyeem giáo luật;Phật tử chỉ giác ngộ cho bản thân,chỉ thờ đúc Phật Thích-Ca và chỉ cầu sớm chứng quả La Hán.Phần đông tăng chúng còn lại không chịu nghe theo,họ khai hội nghị riêng,lập ra phái Đại Chúng(mahasanghika) chủ trương không câu nệ cố chấp vào kinh điển,khoan dung đại lượng trong việc thực hiện giáo luật,thu nạp rộng rãi tất cả những ai muốn quy y,giác ngộ,giải thoát cho nhiều người,thờ Phật,và nhân vật tiêu biểu là Bồ-Tát. Tại các lần kiến tập thứ 3-4,phái Đại Chúng soạn ra kinh sách riêng và tự xưng là Đại Thừa(mahayana)nghĩa là“cỗ xe lớn”và gọi phái Thượng Tọa là Tiểu Thừa(hinayana) nghĩa là “cỗ xe nhỏ”. Phái Đại Thừa phát triển lên phía Bắc nên được gọi là Bắc Tông,được phổ biến sang Trung Hoa,Nhật Bản,Triều Tiên…Còn phái Tiểu Thừa phát triển xuống phía Nam nên được gọi là Nam Tông,từ trung tâmSrilanca(Tích Lan) phát triển sang các nước Đông Nam Á,trong đó có Việt Nam.Kinh sách Đại Thừa được viết bằng tiếng Sanscrit,còn kinh sách Tiểu Thừa được viết bằng tiếng Bali. Chương II:ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM I.Qúa trình thâm nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam: 1.Bối cảnh ở Việt Nam: Nước Việt Nam có hình chữ S,thuộc bán đảo Đông Dương,có vị thế 7/10 bán đảo Đông Dương,tiếp giáp với biển Trung Quốc và vịnh Băng Gan,được cấu thành bởi các dãy núi chạy từ Tây Tạng đến phía Đông và xòe ra biển như hình rẽ quạt.Giuwax các rặng núi là những thung lũng tạo thành các miền cao nguyên,bình nguyên và các sông lớn Địa thế Việt Nam còn nằm giữa hai lục địa lớn và đông dân nhất thế giới là Trung Quốc Ân Độ.Hai quốc gia lớn này cũng có nền văn hóa rất sớm đối với nhân loại,trong đó có Việt Nam Người Việt Nam,theo truyền thuyết,thuộc nòi giống Tiên Rồng.Nhưng theo các nhà sử học,dân tộc Việt Nam được hình thành có những thuyết như sau: a. Tổ tiên Việt Nam gốc ở Tây Tạng.Vì đời sống,một bộ lạc theo lưu vực sông Hồng,dần hồi tràn xuống Trung Châu Bắc Việt-hạ lưu sông Dương Tử bị nước Sở đánh đuổi.Để lánh nạn,người Việt chạy về phía Nam miền Quảng Đông,Quảng Tây rồi từ từ đến bắc Việt và Bắc Trung Việt.Cũng từ đó,người Việt có truyền thống Nam tiến b. Theo các nhà nhân chủng học thời thượng cổ:giống người Indonesia bị giống dân Aryan đánh đuổi,họ bỏ Ấn Độ chạy đến bán đảo Ân Độ Chi Na.Số người fân chạy về phía Nam lập thành nước Campuchia,Chiêm Thành theo văn hóa Ân Độ.Còn ssoos người ở phía Bắc kết hợp với giống Mông Cổ thành người Việt Nam c. Theo các nhà dân tộc học:Việt Nam nằm giữa khu vực nối liền Ân Độ Dương và Thái Bình Dương,chịu ảnh hưởng của hai nền văn hóa cổ nhất là Ân Độ và Trung Quốc.Vì thế,Việt Nam là vùng quy tụ các thành phần dân tộc khác nhau với tám nhóm ngôn ngữ:Mường,Thái,Dao,Khơmer,Chăm,Nam Á..Nhưng thành phần người Kinh chiếm phần lớn,có ưu thế hơn. Người Việt Nam có nhiều đặc tính quý báu:thông minh,sáng tạo,cần cù,nhẫn nại;yêu nước,yêu chuộng hòa bình;độ lượng,hài hòa…tinh thần tự lập tự cường,ý chí độc lập,đoàn kết,hợp quần… Việt Nam là bán đảo nối liền hai quốc gia là Ân Độ và Trung Quốc to lớn.Con người Việt Nam lại có nhiều đặc tính ưu việt.Vì thế,Việt Nam đã tiếp nhận hai nền văn hóa tư tưởng có từ lâu đời trên thế giới qua đường thủy và đường bộ. 2.Thời đại Phật giáo du nhập: Qua lịch sử,Phật giáo từ Ân Độ truyền vào Việt Nam cùng thời với con đường truyền qua Trung Quốc Theo cuốn“Cổ sử các nước Ân Độ hóa ở vùng Viễn Đông” và cuốn Roman coinsINDIA-1964P.559-683 cùa R.Sewedl.Trong những năm đầu của công nguyên,các thương nhân hằng hải của Ân Độ qua miền Viễn Đông để buôn bán,đạo Phật đã theo bằng đường thủy qua Srilanca,Java,Inddônêxia,Ân Độ Chi Na và Trung Quốc.Ởnhững nơi thương nhân ghé lại,nơi thừa tự được Lâp để nguyện câù bình an,may mắn.Từ dó,tư tưởng tôn giáo được thiết lập. Theo cuốn“Ngô chí” của Trung Quốc vào đời Hán thì có nói:Sĩ Nhiếp trong buổi loạn lạc đã giữ yên quận Giao Châu,giúp dân an cư lạc nghiệp.Vì thế ông được người dân bản xứ tôn kính.Đi đâu ông cũng có người Hồ đi theo hai bên đường.Mà theo Sylvainlevi,Hồ là từ mà người Trung Quốc dùng để chỉ ngườiTrung Á hay Ân Độ.Như vậy,người Ân Độ ,kể cả các nhà sư có nhiều ở Giao Châu lúc bấy giờ.Bản thân Sĩ Nhiếp cũng đã theo đạo Phật,đi đâu cũng có các nhà sư đi theo…Như thế chứng tỏ là đạo Phật đã do các nhà sư Ân Độ đem vào Việt vào hạ bán thế kỉ thứ 2 Và con một số sách khác cho thấy rằng:Sinh hoạt Phật giáo đã bắt đầu ở Việt Nam từ đầu thế kỷ do các nhà buuoon đem vào.Rồi thực sự có các nhà sư theo thuyền buôn đến truyền đạo vào cuối thế kỷ thứ 2 và đầu thế kỷ thứ 3 bằng hai con đường là đường thủy và đường bộ.Vào các thế kỷ đầu ở Giao Châu,Phật Giaos đã cố một trung tâm lớn tại Luy Lâu-một trong ba trung tâm lớn của đế quốc nhà Hán Trụ sở của quận Giao Chỉ là Luy Lâu đã sớm trở thành trung tâm quan trọng của Phật giáo.Tại đây với hoạt động truyền giáo của Khâu-Đà-La(Kasudla)đã xuất hiên truyền thuyết đầu tiên về Phật giáo Việt Nam với Thạch Quang Phật và Mang Nương Phật Mẫu.Từ đây những nhà sư Ân Độ như Ma-ha-kỳ-vực(Marajivaka) Khâu Đà La(Kasudara),Khương Tăng Hội ( K’ang-seng-houei ),Chi Cương Lương Lâu (Kalaruci),Mâu Bác(meou-pô) Do Phật giáo được truyền bá trực tiếp từ Âns Độ vào Việt Nam nên ngay từ đầu công nguyên từ Buddha (Bậc Giác Ngộ) tiếng phạn đã được phiên âm sang tiếng Việt là Bụt.Phật giáo Giao Châu lúc này mang màu sắc Tiểu Thừa Nam Tông, và trong mắt người Việt nông nghiệp,hình tượng Bụt được hình dung như vị thần dân dã toàn năng có mặt khắp nơi, luôn sẵn sàng xuất hiện để cứu giúp người tốt và trừng trị kẻ xấu. Sau này,sang thế kỷ thứ 4-5 có thêm luồng ảnh hưởng của Phật Giáo Đại Thừa Bắc Tông từ Trung Hoa tràn vào không bao lâu, nó đã lấn át và thay thế luồng Nam Tông có từ trước đó. Khi ấy từ Buddha tiếng Phạn vào tiếng Hán được phiên âm thành Phật ngang đà,Phật đồ, vào tiếng Việt rút gọn thành Phật. Và từ đây từ Phật dần dần thay thế từ Bụt. Từ Trung Hoa, có ba tông phái Phật giáo được truyền vào Việt Nam, đó là: Thiền tông,Tịnh Độ tông và Mật tông. Việt Nam là xứ nông nghiệp, thiên nhiên ít được ưu đãi, nhiều thiên tai bão lụt, con người tin nhiều vào thần thánh, phép lạ,…bởi thế Mật giáo rất dễ du nhập. Các sư như Ma Ha Kỳ Vực, Khâu Đà La, Chi Cương Lương klamf nhiều phép thần thông lạ thường được dân Việt Nam ưa thích. Mật tông là tông phái chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí như dùng linh thù,mật chú,ấn quyết,…để mau chóng đạt đến giác ngộ và giải thoát. Ở Việt Nam Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa vào dòng tín ngưỡng dân gian. Tịnh Độ tông, vớ pháp môn niệm Phật cầu Vãng sinh, lớp bình dân dễ dàng tin theo. Phép tu chỉ có chuyện niệm Phật A Di Đà. Dù chưa dứt hết nghiệp, sau khi chết, người chuyên niệm Phật vẫn được Vãng sinh cực lạc. Thiền tông là pháp môn thấy dễ mà khó, thiền không khéo sẽ bị tẩu hỏa nhập ma, điên loạn, mất bình thường. Tuy thế, người Việt Nam vẫn tiếp nhận và cũng khá phổ biến trong các nhà sư và trí thức. II.Những đặc điểm cơ bản của Phật giáo ở Việt Nam 1.Tính tổng hợp: Đây là đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp. Khi vào Việt Nam , Phật giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng truyền thống của dân tộc ta, do đó, đã tổng hợp chặt chẽ ngay với chúng. Hệ thống chùa “Tứ pháp” kết hợp việc thờ Phật với thờ các vị thần tự nhiên như Mây-Mưa-Sấm-Chớp và thờ đá. Lối kiến trúc của chùa chiền Việt Nam là “tiền Phật hậu Thần” với việc đua vào chùa các thần, thánh, các thành hoàng thổ địa và các anh hùng dân tộc. Có chùa thờ cả Bác Hồ ở Hậu tổ và hầu như không một chùa nào là không để bia hậu, bát nhang cho các linh hồn, vong hồn đã mất. Bên cạnh đó, Phật giáo Việt Nam lại tổng hợp các tông phái với nhau nên không có tông phái Phật giáo nào ở Việt Nam là thuần khiết. Tuy Thiền tông chủ trương bất lập ngôn, song ở Việt Nam, chính các thiền sư đã để lại khá nhiều trước tác giá trị. Phật giáo Việt Nam cũng dung hợp chặc chẽ con đường giải thoát bằng tha lực,phối hợp Thiền tông với tịnh độ tông(niệm Phật A di đà và cầu Bồ tát) Chùa miền Bắc là cả một Phật điện vô cùng phong phú với hangbf chục pho tượng Phật, Bồ- tát, La- hán của các tông phái khác nhau. Còn ở phía Nam, Đại Thừa và Tiểu Thừa kết hợp mật thiết với nhau trong đó: nhiều chùa mang hình thức Tiểu Thừa (thờ Phật Thích-ca. việc mặt áo vàng) nhưng lại theo giáo lý Đại Thừa; bên cạnh tượng Phật Thích-ca lớn vẫn có nhiều tượng Phật nhỏ khác, bên cạnh áo vàng vẫn sử dụng đồ nâu và đồ lam. Ngoài ra Phật giáo Việt Nam còn kết hợp chặt chẽ giữa việc đạo với việc đời. Tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng ở Việt Nam, Phật giáo lại rất nhập thế: các cao tăng được nhà Nước mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng. Sự gắn bó giữa đạo với đời mật thiết tới mức không chỉ có các nhà sư tham gia vào chính sự, mà các thời Lý- Trần còn khá nhiều vua quan quý tộc đi tu( thiền phái Thảo Đường và Trúc Lâm Yên Tử). Với truyền thống gắn bó giữa đạo với đời, đầu thế kỉ 20, Phật tử Việt Nam hăng hái tham gia vào các hoặc động của xã hội như cuoccj vận động đơi ân xá cho cụ Phan Bội Châu và đám tan cụ Phan Châu Trinh. Thời Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, Phật tử miền Nam đã tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lập, nổi bật là sự kiện Phật tử xuống đường đấu tranh chống lại nền độc tài chuyên chế của gia đình họ Ngô năm 1963. Đặc biệt là sự kiện hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chế độ độc tài đó. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, một bộ phận không nhỏ các tăng ni Phật tử đã tạm lột bỏ lớp áo cà sa để cùng nhân dân cả nước cầm súng đánh giặc cứu nước 2. Xu hướng hài hòa âm dương có phần thiên về nữ tính: Đây là đặc trưng nổi bật thứ hai của Phật giáo Việt Nam- đặc trưng bản chất của nền văn hóa nông nghiệp. Các vị thần Ấn Độ vốn xuất thân là những vị đàn ông, sang Việt Nam biến thành Phật ông Phật Bà. Phật Bà Quan Âm( biến thể của từ Quán Thế Âm Bồ Tát) trở thành vị thần hộ mệnh của cư dân khắp vùng sông nước vốn là địa bàn của cư dân Nam Á. Đặc biệt, người Việt Nam còn có những Phật Bà riêng của mình, do mình tạo ra như: đứa con gái của nàng Man, tương truyền sinh ngày 8-4, được xem là Phật tổ Việt Nam, bản thân nàng Man trỏ thành Phật mẫu. Ở nước ta có khá nhiều chùa chiền mang tên các bà như: chùa Bà Dâu, chùa Bà Đá, chùa Bà Đanh… và tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia cũng là các bà. 3. Tính linh hoạt: Tính linh hoạt này đã khiến cho khi vào Việt Nam, Phật giáo đã bị Việt Nam hóa mạnh mẽ. Vốn có đầu óc thiết thực, người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là việc đi chùa:”Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Coi trọng truyền thống thờ ông bà cha mẹ hơn là thờ Phật. Vào Việt Nam, đức Phật được đồng nhất với những vị thần tín ngưỡng truyền thống có khả năng cứu giúp mọi người thoát khỏi tai họa. Hơn nữa vì muốn giữ cho Phật giáo ở mãi bên mình, người Việt Nam nhiều khi phá cả giới luật. Người Việt Nam giao tiếp theo nguyên tắc” xưng khiêm hô nhường” nên các vị Bồ tát, hòa thượng mà người Việt Nam yêu quý đều được tôn làm Phật hết: Phật bà Quan Âm( vốn là Bồ tát), Phật Di-Lặc( vốn là hòa thượng). Còn tượng Phật Việt Nam vốn mang dáng dấp hiền hòa của người Việt Nam. III. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam: Như đã trình bày ở các phần trước, Phật giáo là một học thuyết về sự giải thoát, toàn bộ ọc thuyết hướng về con người tư tưởng giải thoát. Đồng thời, nó cũng là học thuyết về đạo đức, đề cập đến vấn đè bình đẳng, bác ái. Vì vậy, ngay sau khi được các nhà sư Ấn Độ đưa vào Việt Nam, Phật giáo đã nhanh chóng được nhân dân ta tiếp nhận một cách tự nhiên và phát triển. Do thâm nhập một cách hòa bình, ngay từ thời Bắc thuộc, Phật giáo đã phổ biến rộng khắp. Cho đến nay Phật giáo vẫn là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất ở Việt Nam. Đạo Phật thân thiết với người Việt Nam đến nỗi dường như một người Việt Nam nếu không theo một tôn giáo nào khác, ắt là theo Phật hoặc chí ít là có cảm tình với đạo Phật.Điều đó cho thấy ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của nhân dân ta mạnh mẽ đến nhường nào. Với truyền thống gắn bó đạo với đời, ngay từ thời Đinh- Tiền Lê, Lý, Trần…Các sư đều tham gia chính sự. Ngoài ra, vào các thời Lý- Trần, còn khá nhiều vua quan quý tộc đi tu như vua Trần Nhân Tông… 1. Ảnh hưởng của Phật giáo về tư tưởng: Tư tưởng hay đạo lí của Phật giáo là đạo lí Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế và Bát chánh Đạo. Ba đạo lí này là nền tảng cho tất cả các tông phái Phật giáo nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng người dân Việt. Về giáo lí nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo của đạo Phật đã được truyền vào nước ta rất sớm. Giaos lí này đã trở thành nếp sống tín ngưỡng đối với người Việt Nam có hiểu biết, có suy nghĩ. Người ta biết lựa chọn ăn ở hiền lành, nó chẳng những thích hợp với giới bình dân mà còn ảnh hưởng đến giới trí thức. Vì thế, giáo lí nghiệp báo luân hồi đã in dấu ấn đậm nét trong văn chương bình dân, văn chương chữ Hán, chữ Nôm từ xưa cho đến nay để dẫn dắt từng thế hệ con người biết soi sáng tâm trí mình vào lí nhân quả nghiệp báo mà hành động sao cho tốt đẹp, đem lại hòa bình an vui cho mọi người. Mỗi người dân Việt Nam đều biết câu” ác giả ác báo”. Mặt khác, họ hiểu rằng nghiệp nhân quả không phải là định nghiệp mà có thể làm thay đởi, do đó họ tự biết sửa chữa, tu tập cải ác thành thiện. Từ những hành động thiện, giảm bớt điều ác, dần dần ta sẽ chuyển hóa và tạo cho ta một cuộc sống yên vui. 2. Ảnh hưởng của Phật giáo về đạo lí: Đạo lí ảnh hưởng nhất là giáo lí từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của Phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn người Việt Nam. Tinh thần thương người như thể thương thân này đã biến thành ca dao, tục ngữ rất phổ biến trong quần chúng Việt Nam như: “ lá lành đùm lá rách”, “ nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Đó là những câu ca dao tục ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũng thấm nhuần và thuộc lòng, nói lên lòng nhân ái vị tha của người Việt Nam.s Ngoài đạọ lí Từ Bi, người Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của Đạo lí Tứ Ân, gồm: ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sinh. Trong đó ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lí người Việt bởi vì đạo Phật đặc biệt chú trọng đến chữ hiếu, như thế là, phù hợp với đạo lí truyền thống của dân tộc Việt.Đạo lí Tứ Ân còn có chung động cơ thúc đẩy từ bi hỉ xa khiến con người ta sống hài hòa với xã hội,thiên nhiên để tiến đến hạnh phúc dích thực và bền vững 3.Ảnh hưởng của Phật giáo qua phong tục tập quán: a.Ảnh hưởng qua tục ăn chay, phóng sanh, bố thí: Về ăn chay, hầu như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng của nếp sống văn hóa này. Nó xuất phát từ quan niệm từ bi của Phật giáo. Đạo Phật không muốn sát sinh mà trái lại phải thương yêu mọi loài. Số ngày ăn chay tuy có khác nhau trong từng tháng, nhưng cùng giống nhau ở quan điểm từ bi hỷ xả của Phật giáo. Do hiệu quả của việc ăn chay trong việc tăng cường sức khỏe, chống bệnh tật, nên người Việt Nam dù là Phật tử hay không đều thích ăn chay. Ăn chay và thờ Phật là hai việc đi đôi với nhau của người Việt Nam. Dù không phải là Phật Tử cũng dùng tượng Phật hay tranh ảnh về Phật giáo để trang trí cho đẹp và nghiêm trang. Cùng với tục thờ Phật, tục thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam có từ lâu đời. Tục này xuất phát từ lòng kính yêu đối với ông bà, cha mẹ, tổ tiên và được xem là một dạng tín ngưỡng quan trọng của người Việt Nam. Vào những ngày rằm, mùng 1 những gia đình không theo đạo Phật cũng mua hoa quả thắp nhang trên bàn thờ tổ tiên. Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của đạo Phật, tục lệ bố thí và phóng sinh đã ăn sâu vào đời sống tinh thần. Đến ngày rằm và mùng 1, người Việt thường mua chim, cá… để đem về chùa cầu nguyện rồi đi phóng sinh. Người dân cũng thích làm phước bố thí và sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo khó hoạn nạn. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại những biểu hiện mang tính chất hình thức trên ngày càng bị thu hẹp. Thay vào đó mọi người tham gia vào những đợt cứu trợ đồng bào gặp thiên tai, hoạn nạn, hoàn cảnh sống khó khăn đúng với truyền thống đạo lí của dân tộc: lá lành đùm lá rách. b. Ảnh hưởng qua tục cúng rằm, mùng một và lễ chùa: Tập tục đến chùa đẻ tìm sự bình an cho tâm hồn đã trở thành một nét phong tục lâu dời “ đi chùa lễ Phật” của tổ tiên. Những ngày lễ hội lớn trong năm bắt đầu từ Phật giáo như: lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, lể tắm Phật…thực sự đã trở thành ngày hội văn hóa của người dân.Những ngày lễ lớn như trên của Phật giáo đã là chất keo gắnời dân với nhau và ảnh hưởng ngày càng sâu đậm trong nhân dân. Có thể nói phong tục tập quán ở Việt Nam trong qua trình tồn tại và phát triển đã chịu tác động của trào lưu văn hóa khác nhau,nhất là từ Trung Quốc,trong đó Phật giáo đã dự một phần quan trọng vào việc định hình và duy trì không ít các tập tục dân gian vẫn còn tồn tại đến ngày nay.Nhưng không phải tất cả các tập tục có sự ảnh hưởng của Phật giáo đề là tốt cả mà trong đó có tập tục cần phải chắt lọc lại như tập tục xin xăm bói quẻ,cúng sao hạn,coi ngày giờ,đốt vàng mã để phù hợp với chính pháp.Đó là nhiệm vụ nặng nề của các nhà truyền giáo trong thời hiện đại 4.Ảnh hưởng qua các loại hình văn hóa nghệ thuật: a.Ảnh hưởng qua ca dao,thơ: Tư tưởng đạo lý Phật giáo cũng thường được ông cha ta đề cập đến trong ca dao dân ca dưới đề tài này hay khía cạnh khác để nhắc nhở,khuyên rằn dạy bảo với mục đích xây dựng cuộc sống yên vui,phù hợp với truyền thống đạo lý dân tộc Việt Nam.Quan niệm đạo Phật là đạo hiếu,lời dạy của Phật về việc nhớ ơn và báo ơn cha mẹ là những cảm giác suy tư in đậm trong lòng người dân đã được thể qua ca dao dân ca ví dụ:

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhật giáo và sự ảnh hưởng ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của người Việt Nam.doc
Tài liệu liên quan