Tiểu luận Phủ định biện chứng và sự vận dụng trong việc phát triển bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên CNXH ở nước ta

Mục lục

A. Đặt vấn đề

B. Nội dung

Phần I. Nội dung lý luận

I. Khái niệm phủ định biện chứng

1. Định nghĩa phủ định biện chứng

2. Đặc điểm của phủ định biện chứng

3. So sánh phủ định biện chứng với phủ định siêu hình để thấy nguyên nhân, động lực của sự phát triển là gì

II. Tính đặc thù của phủ định biện chứng với đổi mới trong lĩnh vực kinh tế xã hội

Phần II: Phủ định biện chứng và sự vận dụng trong việc phát triển bỏ qua chế độ TBCN tiến lên CNXH

 

 

doc22 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 09/09/2013 | Lượt xem: 4277 | Lượt tải: 26download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Phủ định biện chứng và sự vận dụng trong việc phát triển bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên CNXH ở nước ta, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ược biểu hiện về học thuyết khoa học ngày càng phát triển là kết quả của quá trình phủ định của những tri thức đúng đắn, sâu sắc đối với những tri thức sai lầm hoặc kém sâu sắc, không đầy đủ. - Tính kế thừa: Kế thừa là việc cái mới ra đời từ các giữ lại trong đó những yếu tố tích cực tiến bộ từ cái cũ tạo đi cho phù hợp. Phủ định biện chứng là kết quả của sự tự thânphát triển trên cơ sở giải quyết những mâu thuẫn vốn có của các sự vật và hiện tượng, cho nên cái mới ra đời không thể là một sự phủ định tuyệt đối, phủ định, sạch trơn, đoạn tuyệt siêu hình đối với cái cũ, mà là một sự phủ định có kế thừa. Để dẫn tới sự ra đời của cái mới, quá trình phủ định biện chứng bao hàm trong đó nhân tố giữ lại những nội dung tích cực của cái phủ định. Phủ định biện chứng, do vậy, là sự phủ định mang tính kế thừa. Với ý nghĩa như vậy, phủ định đồng thời là khẳng định, diễn đạt tư tưởng đó, Lênin viết: "Không phải sự phủ định sạch trơ, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng... mà lại sự phủ định coi như là vòng khâu của liên hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định". Giá trị của sự kế thừa biện chứng được quy định bởi vai trò của nó trong sự ra đời của cái mất. Không có cái mới nào lại ra đời hư vô, nhờ việc giữ lại nhân tố tích cực của cái phủ định mà cái mới có tiền đề cho sự xuất hiện của mình. Cái quá khứ không biến đổi đi mà không để lại một dấu vết nào trong dòng chảy vô tận của thời gian.Thật ra, nó đã tham gia vào việc tạo ra cái hiện tại, nó tạo thành mối liên hệ sống động trogn thời gian. Một trong những hình thức quan trọng của cái được kế thừa trong đời sống xã hội là truyền thống. Truyền thống là cái chứa đựng trong bản thân mình những năng lực to lớn để tạo ra cái mới. Song, ngay cả đối với nhân tố tích cực của cái phủ định được giữ lại, nó vẫn được duy trì dưới lớp lọc bỏ. Thực chất của sự phát triển là sự biến đổi, mà giai đoạn sau còn bảo tồn tất cả những gì tích cực đã được tạo ra ở giai đoạn trước chẳng hạn trong khi phủ định. Chủ nghĩa tư bản với tư cách là chế độ lỗi thời chủ nghĩa xã hội cũng kế thừa toàn bộ những thành quả của sự phát triển tiến bộ xã hội đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản, song, những yếu tố được giữ lại đó cũng phải được cải tạo, được biến đổi trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội để trở thành những yếu tố nội tại của CNXH. Trong quá trình đổi mới hiện nay, chúng ta phải biết kế thừa những di sản tích cực của dân tộc cũng như của thế giới. Nhưng có lúc, có nơi đã coi nhẹ việcu khai thác vốn quý báu của dân tộc, có quan điểm phủ định sạch trơn. Ngược lại có lúc có nơi lại phục hồi cả những phong tục tập quán đã lỗi thời, không biết đứng trên yêu cầu mới của cách mạng mà cải biến và sử dụng những vốn cũ đó cho phù hợp. 3. So sánh phủ định biện chứng với phủ định siêu hình để thấy nguyên nhân, động lực của sự phát triển là gì. Đối lập với quan điểm biện chứng, những người theo quan điểm siêu hình coi phủ định là sự xoá bỏ hoàn toàn cái cũ là chấm dứt sự liên hệ, sự vận động, sự phát triển của bản thân sự vật. Do đó quan điểm siêu hình không thấy được tiền đề của sự nảy sinh ra cái mới. Mặt khác, khi nói đến kế thừa, thì họ lại hiểu kế thừa một cách nguyên xi, không phê phán, không cải tiến cải tạo chúng hoặc lắp ghép các yếu tố của cái cũ vào cái mới một cách đơn giản, máy móc. Những người thuộc "Phái văn hoá vô sản" ở Nga đầu những năm cách mạng có thái độ phủ định sạch trơn nền văn hoá quá khứ. Theo họ nền văn hoá vô sản không có liên quan gì với nền văn hoá trước họ chủ trương xây dựng lại từ đầu nền văn hoá mới của giai cấp vô sản. Đây là quan điểm siêu hình xem phát triển chỉ là sự phát triển tăng hay giảm đi thuần tuý về lượng, không có sự thay đổi về chất. Tất cả tính muôn vẻ về chất bất biến trong toàn bộ quá trình tồn tại của nó. Sự phát triển chỉ là sự thay đổi về số lượng của từng loại đang có, không có sự nảy sinh những loại mới với những quy định mới về chất, có thay đổi về chất chăng nữa thì đó cũng chỉ diễn ra theo một vòng tròn khép kín. Quan điểm siêu hình về sự phát triển cũng xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục, không có những bước quanh có phức tạp. Như vậy, việc thừa nhận hay không thừa nhận sự phát triển vẫn không đủ căn cứ để phân biệt một quan điểm biện chứng với một quan điểm siêu hình. Điều chủ yếu để phân định hai quan điểm đó là phải làm rõ quá trình phát triển diễn ra như thế nào, trong quan điểm duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học dùng để khai thác quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Theo quan điểm đó, phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động. Trong quá trình phát triển sẽ nảy sinh những tính quy định mới cao hơn về chất, nhờ vậy, làm tăng cường tính phức tạp của sự vật và của sự liên hệ, làm cho cả cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật cùng chức năng vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn. Trong quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất, sự phát triển diễn ra theo đường xoay trôn ốc, nghĩa là trong quá trình phát triển dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát, nhưng trên cơ sở mới cao hơn. Với đặc điểm như vậy, phủ định biện chứng không chỉ là nhân tố khắc phục cái cũ, mà còn là gắn liền cái cũ với cái mới, cái khẳng định với cái phủ định. Phủ định biện chứng trở thành vòng khâu tất yếu của sự liên hệ và sự phát triển. II. Tính đặc thù của phủ định biện chứng với đổi mới trong lĩnh vực kinh tế xã hội. Nền kinh tế xã hội nào cũng có những khuyết tật, những mâu thuẫn tồn tại trong lòng nó, và một xã hội mà luôn giữ một kiểu tổ chức sản xuất, phương thức sản xuất thì chắc chắn sẽ không thể tiến lên được. Vì vậy nền sản xuất phải luôn được đổi mới phù hợp với phép phủ định biện chứng. Nền sản xuất lỗi thời, không còn năng động nữa sẽ được thay thế bởi nền sản xuất tiến bộ, năng động và phát triển hơn phù hợp với thời đại. Công cụ sản xuất bằng cơ khí ra đời thay thế công cụ sản xuất bằng lao động thủ công là một tất yếu. Đến lượt nó sản xuất tự động hoas ra đời thay thế công cụ bằng cơ khí của quá trình sản xuất cũng là một tất yếu. Nguyên nhân của quá trình thay thế này là do những động lực tự thân của nền sản xuất xã hội quy định, do những nhu cầu không ngừng biến đổi và phát triển của con người. Sự thay thế đó không phải là vứt bỏ, phủ định sạch trơn phương thức sản xuất cũ mà chúng vẫn được giữ lại, tồn tại song song với phương thức sản xuất mới và trở thành các ngành, các phương thức sản xuất truyền thống đôi khi chúng rất cần đối với nền kinh tế của một số nước. Phần II: Phủ định biện chứng và sự vận dụng trong việc phát triển bỏ qua chế độ TBCN lên CNXH I. Tính khách quan tất yếu của sự ra đời nền kinh tế hàng hoá có sự quản lý của nhà nước, phủ định lại nền kinh tế tập trung quan liệu bao cấp đã không còn phù hợp trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. 1. Những tồn tại và bất cập của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp tự cung tự cấp ở Việt Nam. Sau kháng chiến thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các nước XHCN, đất nước ta bắt đầu xây dựng mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung dựa trên hình thức sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất. Với sự nỗ lực của nhân dân ta và sự giúp đỡ tận tình của các nước XHCN khác mô hình kinh tế kế hoạch hoá đã phát huy được tính ưu việt của nó, từ một nền kinh tế lạc hậu và phân tán, bằng công cụ kế hoạch hóa nhà nước đã tập trung vào tay mình một lực lượng vật chất quan trọng về đất đai, tài sản và tiền bạc để ổn định và phát triển kinh tế. Nền kinh tế kế hoạch hóa trong thời kỳ đầu thực hiện ở nước ta đã tỏ ra phủ định, nó đã tạo ra một bước chuyển biến quan trọng về mặt kinh tế xã hội. Đồng thời nó cũng thích hợp với nền kinh tế thời chiến và đóng vai trò quan trọng việc tạo ra chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Nó cho phép Đảng và Nhà nước huy động ở mức độ cao nhất sức người và sức của cho tiền tuyến. Nhưng sau giải phóng miền Nam, bức tranh toàn cảnh về hiện trạng kinh tế đã có nhiều thay đổi to lớn. Trong một nền kinh tế cùng một lúc tồn tại cả 3 loại hình kinh tế tự cấp, tự túc, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế hàng hoá. Đó là thực tế khách quan tồn tại sau năm 1975 nhưng chúng ta vẫn tiếp tục chủ trương xây dựng kinh tế chỉ huy như ở Miền Bắc trước đây. Do các quan hệ kinh tế đã thay đổi rất nhiều, việc áp dụng cơ chế quản lý cũ vào điều kiện nền kinh tế đã thay đổi làm xuất hiện hàng loạt các hiện tượng tiêu cực. Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp có sự phân phối một cách mạnh mẽ mọi sản phẩm lao động, giá trị thì bị ấn định trước theo những chỉ tiêu của Nhà nước, điều này dẫn đến việc những quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá cả, quy luật cung cầu, quy luật giá trị bị vi phạm nghiêm trọng, làm cho tình hình lưu thông tiền tệ, giá cả bị vi phạm nghiêm trọng, làm cho tình hình lưu thông tiền tệ, giá cả không kiểm soát được, đặc biệt là trong những năm 80, lạm phát của nước ta đã lên đến 3 con số làm cho đời sống nhân dân vô cùng khó khăn và tình hình kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng. Nền sản xuất kém phát triển được sự bảo hộ của Nhà nước lại càng trở nên trì trệ. Bộ máy quản lý doanh nghiệp không hiệu quả, cồng kềnh, có nhiều cấp trung gian và không năng động, phong cách thì cửa quyền dưới chính sách bù lỗ của Nhà nước ngày càng không đem lại bất cứ một hiệu quả kinh tế nào. Đồng thời do chủ quan cứng nhắc không cân nhắc tới sự phù hợp của cơ chế quản lý kinh tế, chúng ta đã không quản lý có hiệu quả các nguồn tài nguyên sản xuất của đất nước, trái lại đã dẫn tới việc sử dụng lãng phí một cách nghiêm trọng các nguồn tài nguyên đó. Tài nguyên thiên nhiên bị phá hoại, môi trường bị ô nhiễm, sản xuất kém hiệu quả, Nhà nước thực hiện bao cấp tràn lan. Những việc đó gây ra rất nhiều hậu quả xấu cho nền kinh tế, sự tăng trưởng kinh tế gặp nhiều khó khăn, sản phẩm trở nên khan hiếm, ngân sách bị thâm hụt nặng nề, thu nhập từ nền kinh tế không đủ tiêu dùng, tích luỹ hàng năm hầu như không có vốn đầu tư chủ yếu vào vay và viện trợ của nước ngoài. Đến cuối những năm 80, giá cả leo thang, khủng hoảng kinh tế đi liền với lạm phát cao đã làm cho đời sống nhân dân bị giảm sút thậm chí một số địa phương nạn đói đang rình rập. Nguyên nhân sâu xa về sự suy thoái nền kinh tế ở nước ta là do đã áp dụng dập khuôn một mô hình kinh tế chưa thích hợp và kém hiệu quả. Trước sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng như trên, thêm vào đó viện trợ nước ngoài bị giảm sút đã đặt nền kinh tế nước ta với sự bức bách đòi hỏi phải đổi mới. Đổi mới để thoát khỏi khủng hoảng và phát triển đi lên. 2. Sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước là một xu hướng phát triển tất yếu khách quan. Trước những tồn tại và bất cập trên của nền kinh tế chỉ huy, tại Đại hội Đảng VI (1986) đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và thực hiện hạch toán kinh doanh XHCN. Đến Đại hội Đảng VII Đảng ta xác định rõ việc việc đổi mới cơ chế kinh tế ở nước ta là một tất yếu khách quan và trên thực tế đã diễn ra ở đó, tức là chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Đây là một sự thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tế lãnh đạo của Đảng trên mặt trận kinh tế. Xét dưới góc độ triết học, việc chuyển sang nền kinh tế thị trường là đúng đắn và phù hợp với quy luật phủ định của phủ định và xu thế của thời đại. Thứ nhất, nếu không thay đổi cơ chế kinh tế vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì không thể nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ chưa muốn nói đến tích luỹ vốn để mở rộng sản xuất. Thực tế những năm cuối của thập kỷ 80 đã chỉ rõ được thực hiện cơ chế kinh tế cũ cho dù chúng ta liên tục đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế nhưng hiệu quả đạt được của nền sản xuất xã hội rất thấp sản xuất không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng xã hội tích luỹ hầu như không có đôi khi còn ăn lạm vào cả vốn vay nước ngoài. Thứ hai, do đặc trưng của nền kinh tế tập trung còn rất cứng nhắc nên nó chỉ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn ngắn và chỉ có tác dụng phát triển nền kinh tế theo chiều rộng. Nền kinh tế chỉ huy ở nước ta tồn tại quá dài do đó nó không những không có tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất mà nó còn nảy sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực làm giảm năng suất chất lượng và hiệu quả sản xuất. Thứ ba, xét về những nhân tố của kinh tế thị trường. Về vấn đề này có rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Nhiều ý kiến cho rằng thị trường nước ta là thị trường mới hình thành còn non yếu và là thị trường sơ khai. Thực tế thị trường đã hình thành và phát triển được những mức phát triển khác nhau ở hầu hết các đô thị và các vùng đồng bằng ven biển. Thị trường trong nước đã được thông suốt và vươn tới những vùng hẻo lánh xa xôi và đang được mở rộng với thị trường quốc tế. Nhưng thị trường nước ta phát triển chưa đồng bộ, còn thiếu hẳn thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường lao động, thị trường vốn và thị trường đất đai và về cơ bản vẫn là thị trường tự do, mức độ can thiệp của Nhà nước còn rất thấp, chưa có sự quản lý chặt chẽ hệ thống và liên kết các thị trường một cách đồng bộ theo pháp luật. Thứ tư, xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nước ta đang hoà nhập với nền kinh tế thị trường thế giới, sự giao lưu về hàng hoá, dịch vụ và đầu tư trực tiếp của nước ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước ta gần gũi hơn với nền kinh tế thị trường thế giới. Tương quan giá cả của các loại hàng hoá quốc tế. Thứ năm, xu hướng chung phát triển kinh tế của thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời với sự phát triển hoà nhập quốc tế, sự cạnh tranh giữa các quốc gia đã làm thay đổi hẳn về chất, không còn là dân số đông, vũ khí nhiều, quân đội mạnh mà là tiềm lực kinh tế. Mục đích của các quốc gia là tạo ra được nhiều của cải vật chất trong quốc gia của mình đạt tốc độ phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện, thất nghiệp thấp. Tiềm lực kinh tế đã trở thành thước đo do chủ yếu vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc là công cụ chủ yếu để bảo vệ uy tín và duy trì sức mạnh của các đảng cầm quyền. Vì vậy chúng cần phải đổi mới để phát triển kinh tế cũng như những mặt xã hội khác để khẳng định vị trí của Đảng của dân tộc mình trên trường quốc tế. Thứ sáu, sự vận dụng của nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường không thể nào giải quyết được những vấn đề do chính cơ chế và bản thân đời sống kinh tế - xã hội đặt ra. Đó là tình trạng thất nghiệp lạm phát khủng hoảng, ô nhiễm môi trường, sự bùng nổ về dân số cũng như những hiện tượng xã hội khác, những tình trạng và hiện tượng trên ở mức độ khác nhau đã trực tiếp hay gián tiếp đều có tác dụng ngược trở lại làm cản trở sự phát triển bình thường của xã hội nói chung và của nền kinh tế hàng hoá nói riêng. Vì vậy, sự tác động của nhà nước một chủ thể có khả năng nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan vào nền kinh tế là một tất yếu của sự phát triển kinh tế xã hội. Như vậy, nhìn lại ta thấy, Việt Nam trong thời kỳ dài tiến hành xây dựng nền kinh tế cơ chế kế hoạch hoá tập trung, phủ định "bàn tay vô hình" của thị trường, cơ chế này đã có một vai trò lịch sử trong những năm 1950 - 1979 và đã có tác dụng đáng kể trong việc tập trung các nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội và đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Song cơ chế này đã đượcu duy trì quá lâu, làm cho từ tập trung ở mức cần thiết chuyển sang tập trung cao độ, phát sinh quan liêu bao cấp kìm hãm và cản trở sự phát triển kinh tế trong thời bình. Đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, kh thay đổi, đồng thời nhận thức sâu sắc phép phủ định biện chứng là cái mới sẽ tất yếu khách quan ra đời thay thế cho cái cũ không còn phù hợp nữa, vì vậy, trong Đại hội lần thứ IV của Đảng (1986), Đảng và Nhà nước ta đã mạnh dạn đưa ra đường lối đổi mới, điều chỉnh cơ cấu kinh tế để chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, công nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế tư nhân và có những chính sách mở rộng hợp tác quốc tế nhằm đưa nền kinh tế nước ta dần dần hội nhập với nền kinh tế thế giới. Theo hướng căn bản của sự đổi mới cơ chế quản lý đã được đại hội VI của Đảng xác định và tiếp tục được Đại hội VII Đảng khẳng định: "Tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước". 3. Tính kế thừa khi chuyển sang nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước ở Việt Nam. Trước đây do chủ quan nóng vội muốn xây dựng một nền kinh tế thuần khiết XHCN, Nhà nước ta đã xây dựng một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ với thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu mà không chú ý tới yếu tố thị trường, hàng hóa sản xuất ra được định giá sẵn và không tuân theo những quy luật của thị trường. Trên thực tế cơ chế kinh tế đó đã là vật cản đối với sự phát triển kinh tế. Do đó nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ra đời mang tính khách quan nó là kết quả của giải quyết mâu thuẫn tự có của nền kinh tế tự cung tự cấp. Tuy nhiên, khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần không có nghĩa là phủ định sạch trơn tất cả những gì của nền kinh tế cũ mà là một sự chuyển đổi có tính kế thừa, trên cơ sở khắc phục, sửa đổi những tồn tại, sai lầm vốn có và phát huy những mặt tốt, mặt tích cực của nó, điều này được thể hiện như sau: Trước hết đó là việc công nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác bên cạnh hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay ở Việt Nam gồm các thành phần kinh tế: thành phần kinh tế quốc doanh, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân... Như vậy mặc dù đã phủ định loại bỏ những mặt yếu kém của nền kinh tế cũ nhưng nền kinh tế mới đã biết kế thừa những yếu tố tích cực của nền kinh tế trước và phát triển nó một cách toàn diện tốt hơn. Hai thành phần kinh tế quốc doanh và thành phần kinh tế tập thể vẫn giữ vai trò chủ đạo trong đường lối phát triển kinh tế. Những bước đổi mới quan trọng của Đảng của Nhà nước là việc thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác như kinh tế tư bản tư nhân. Với sự chuyển đổi đó, phân công lao động xã hội với tư cách là cơ sở kinh tế của sản xuất hàng hoá chẳng những không mất đi, trái lại ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. ở nước ta ngày càng có nhiều ngành nghề mới ra đời và phát triển. Bên cạnh những ngành nghề mới ra đời và phát triển đó, những ngành nghề cổ truyền có tiếng không chỉ trong nước mà cả thế giới, có tiềm năng lớn mà trước đây bị cơ chế kinh tế cũ làm mai một nay được phục hồi và phát triển. Trong nội bộ từng khu vực, từng ngành, địa phương, phân công lao động ngày càng chi tiết hơn. Điều đó được phản ánh ở tính phong phú, đa dạng và chất lượng cao hơn của sản phẩm lao động đưa ra trên thị trường. Sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá lao động đã vượt khỏi phạm vi quóc gia trở thành quốc tế. Cùng với việc công nhân sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau là sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động như sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể của những người sản xuất hàng hoá nhỏ, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, sở hữu hỗn hợp khác: tư bản nhà nước, công ty cổ phần. Đây cũng là một bước ngoặt quan trọng để giải phóng sức lao động, tạo điều kiện cho quan hệ sản xuất phát triển phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại. Ngoài việc chuyển đổi tư tưởng mạnh mẽ về việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tính kế thừa trong công cuộc đổi mới ở nước ta còn được thể hiện trong việc tiếp tục duy trì và phát huy công cụ kế hoạch hoá một cách linh hoạt bằng việc kết hợp "bàn tay vô hình" với "bàn tay vô hình". Nền kinh tế nước ta, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung phụ thuộc hòan toàn vào sự quản lý của Nhà nước đã chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tôn trọng những quy luật khách quan của thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh... nhưng không phải để cho những quy luật. - Thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế hàng hoá sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu buộc người sản xuất phải năng động, luôn cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm nâng cao năng suất lao động, cải tiến chất lượng và hình thức mẫu mã hàng hoá cho phù hợp với nhu cầu xã hội với nhu cầu xã hội, tìm mọi cách đưa ra thị trường những loại hàng hoá mới thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng... kết quả là thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển gắn sản xuất với thị trường. - Thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung sản xuất, mở rộng giai lưu kinh tế trong nước và hoà nhập nền kinh tế thế giới. - Giải phóng các mối quan hệ kinh tế ra khỏi sự trói buộc của nền sản xuất khép kín với kìm hãm sự phát triển cho việc tổ chức và quản lý một nền kinh tế phát triển ở trình độ cao thực hiện với hình thức quan hệ hàng hoá tiền tệ. Thực tế cho thấy, nền kinh tế nước ta sau công cuộc đổi mới không những vững mà còn đạt được những thành tựu nổi bật, khắc phục nhiều mặt đình đốn, suy thoái, tốc độ tăng trưởng khá và liên tục, điển hình là: Lạm phát được đẩy lùi từ 67% năm 1991 xuống 17,5% năm 1992 và còn 5,2% năm 1993. Đến nay lạm phát của nước ta chỉ còn 0,1%. Tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân hàng năm 7,2%. Sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện, vấn đề lương thực được giải quyết tốt, sản lượng lương thực năm 1993 xấp xỉ 25 triệu tấn, vượt mức đề ra trong năm 1995. Hiện nay, nước ta đã vươn lên là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới. Sản xuất công nghiệp đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 13% cao hơn chỉ tiêu đề ra cho kế hoạch. Năng lực sản xuất một số ngành và sản phẩm quan trọng như: điện, dầu, dầu thô, thép, xi măng... được tăng thêm. Hệ thống thông tin liên lạc mở rộng nhanh với thiết bị công nghệ mới. Các ngành xây dựng, vận tải, thương nghiệp dịch vụ khác đều phát triển. Cơ cấu kinh tế đang biến đổi, một số ngành sản xuất kinh doanh mới xuất hiện. Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng theo hướng đa dạng hóa và đa phương hoá. Đã khắc phục được hầu hết hậu quả do thị trường truyền thống bị giảm sút đột ngột: mở rộng giao lưu với nhiều bạn hàng mới, tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm xấp xỉ 20%. Tính đến năm 1993 đã cấp 836 giấy phép đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 7,5 tỷ USD nhưng tới năm 1996 đã cấp 16454 giấy phép đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký đã là 21,8 tỷ USD, bước đầu thu hút thêm viện trợ phát triển và vốn vay ưu đãi từ các chính phủ: lập lại quan hệ bình thường với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc gia. Tuy vậy theo nhận định của Đảng ta thì cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đang trong giai đoạn hình thành, các doanh nghiệp Nhà nước bước đầu được sắp xếp và đăng ký lại. Đã giảm bớt một số lượng lớn những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài. Số đơn vị kinh doanh có hiệu quả tăng lên. Khu vực kinh tế nhà nước nhìn chung vẫn phát triển, nắm vững lĩnh vực then chốt và giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc doanh, tỷ trọng GDP tăng từ 34% năm 1990 lên 39,9% năm 1992. Hợp tác xã nông nghiệp có phương hướng đổi mới rõ hơn kể từ đại hội Trung tương VI vai trò tự chủ của các hộ nông dân được khẳng định. Một số loại hình kinh tế hợp tác xã mới được xuất hiện. Luật đất đai chính thức giao quyền sử dụng ruộng đất sử dụng lâu dài cho dân. Đã giúp kinh tế hộ nông dân có thêm động lực phát triển mới. Kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân phát triển đáng kể. Doanh nghiệp cổ phần và liên doanh thu hút vốn đầu tư thuộc nhiều hình thức sở hữu xuất hiện ngày càng nhiều. Phần III: Xu hướng của nền kinh tế và một số giải pháp Tại đại hội VIII Đảng ta đã xác định rõ "Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, đối với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN". Định hướng XHCN là sự lựa chọn về mục tiêu, con đường tiến lên CNXH của một quốc gia, dân tộc dựa trên những điều kiện khách quan cho phép và bao hàm một nội dung kinh tế, chính trị xã hội rộng lớn (Liên hệ định hướng XHCN nhìn từ góc độ triết học - tạp chí triết học số 4 (116) tháng 8 - 2000 trang 62). Như vậy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có đặc điểm mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, nền kinh tế ấy lấy các thành phần kinh tế dựa trên sở hữu xã hội và sở hữu tập thể làm nền tảng, lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, lấy việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh làm mục tiêu. Muốn vậy nền kinh tế ấy phải đảm bảo: - Có tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, ổn định. - Lấy việc giải phóng sức lao động làm căn cứ chủ yếu để h

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhủ định biện chứng và sự vận dụng trong việc phát triển bỏ qua chế độ TBCN tiến lên CNXH ở nước ta.doc
Tài liệu liên quan