Tiểu luận Quy luật giá trị và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường ở nước ta

MỤC LỤC

 

Trang

Lời mở đầu 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ 2

1.1. Một số quan điểm về giá trị 2

1.1.1. Quan điểm của trường phái trọng thương 2

1.1.2. Quan điểm của trường phái trọng nông 3

1.1.3. Quan điểm của trường phái trọng công 4

1.1.4. Quan điểm của K. Mark về giá trị 6

1.2. Biểu hiện của quy luật giá trị. 7

1.2.1. Nội dung của quy luật giá trị. 7

1.2.2. Sự vận động của quy luật giá trị trong tự do cạnh tranh 8

1.2.3. Sự vận động của quy luật giá trị trong độc quyền 8

1.3. Vai trò của quy luật giá trị 9

1.3.1. Điều tiết nền sản xuất và lưu thông hàng hoá 9

1.3.2. Kích thích cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động 9

1.3.3. Lựa chọn tự nhiên phân hoá người sản xuất thành kẻ giầu người nghèo 10

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG THỜI GIAN QUA VÀ GIẢI PHÁP NHẰN VẬN DỤNG TỐT HƠN QUY LUẬT GIÁ TRỊ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 11

2.1. Thực trạng vận dụng quy luật giá trị trong thời gian qua 11

2.1.1. Vận dụng quy luật giá trị vào hoạch toán kinh tế 11

2.1.2. Vận dụng quy luật giá trị vào cơ chế tiền lương 14

2.1.3. Vận dụng quy luật giá trị vào những chính sách về giá cả 16

2.2. Nguyên nhân của những khuyết tật còn tồn tại. 18

2.3. Phương hướng giải quyết những thực trạng trên.19

Lời kết luận 22

Danh mục các tài liệu tham khảo. 23

 

 

 

 

 

 

 

 

doc23 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 15/01/2014 | Lượt xem: 5790 | Lượt tải: 39download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Quy luật giá trị và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rừu tượng tạo ra giá trị làm cơ sở cho sự trao đổi ngang bằng. Lao động trừu tượng nêu nên xem mức hao phí để sản xuất lao động là bao nhiêu. Quả thật việc K. Marx phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá có ý nghĩa rất to lớn về mặt lý luận, nó đem đến cho lý thuyết lao động sản xuất một cơ sơ khoa học thực sự. Giúp ta giải thích được hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực tế như sự vận động trái ngược : khối lượng của cải vật chất ngày càng tăng nên, đi liền với khối lượng giá trị của nó giảm xuống hay không thay đổi. Lượng giá trị của hàng hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để tạo ra hàng hoá đó. Ông cũng đã tìm ra được hoàn chỉnh công thực cấu thành giá trị của hàng hoá (Giá trị hàng hoá = giá trị cũ +giá trị mới).Và ông cho rằng lượng của giá trị hàng hoá phụ thuộc vào các nhân tố như: năng suất lao động, hay phụ thuộc vào đó là lao động gian đơn hay là lao động phức tạp, trong đó năng xuất lao động càng cao thì thời gian cần để tạo ra hàng hoá càng giảm và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít. Còn giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp thì trong cùng một thời gian, lao động phức tạp sẽ tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn. 1.2.Biểu hiện của QLGT 1.2.1. Nội dung của QLGT QLGT là quy luật căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của QLGT. Theo QLGT, sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Trong nền sản xuất hàng hoá thì mỗi người sản xuất sẽ có hao phí lao động cá biệt, nhưng giá trị của hàng hoá được quyết định bởi lao động hao phí xã hội cần thiết. Chính vì vậy người sản xuất muốn bán được sản phẩm thì phải điều chỉnh cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí chung của xã hội. Sự vận động của quy luật giá trị là thông qua sự vận độnh của giá cả hàng hoá. Như ta đã biết giá trị là cơ sở của giá cả nên giá cả phải phụ thuộc vào giá trị. Nếu hàng hoá nào mất nhiều thời gian lao động xã hội cần thiết thì nhiều giá trị và giá cả của nó cũng sẽ cao và ngược lại. Hàng hoá trên thị trường ngoài chịu tác động của giá trị còn chịu tác động của các quy luật kinh tế khác như quy luật cạnh trnh quy luật cung cầu,… Những tác động đó làm cho giá cả tăng giảm nhưng nó vẫn xoay quanh trục giá trị của nó. Sự nên xuống quanh trục giá trị của nó đó là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. 1.2.2. Sự vận động của QLGT trong tự do cạnh tranh. Trong tự do cạnh tranh các danh nghiệp tự do sản xuất, để bán được hàng trên thị trường thì các doanh nghiệp phải điều chỉnh để cho hao phí cá biệt của doanh nghiệp nhỏ hơn mức hao phí của xã hội là doanh nghiệp đã có lợi nhuận. Đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu. Các doanh nghiệp luôn cải tiến để cho hao phí của mình nhỏ hơn hao phí của xã hội. Các doanh nghiệp cứ cạnh tranh với nhau trong nội bộ ngành và dần cạnh tranh với cả giữa những ngành khác nhau để thu được lợi nhuận, cho tới khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân của xã hội thì lúc này giá trị hàng hoá chuyển hoá thành giá cả sản xuất. Lúc này giá cả hàng hoá sẽ xoay quanh giá cả sản xuất. Nếu xét về mặt lượng, ở mỗi ngành giá cả sản xuất và giá trị hàng hoá có thể không bằng nhau, nhưng trong toàn xã hội thì tổng giá cả sản xuất luôn bằng tổng giá trị. Trong mối quan hệ này thì giá trị vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong giá cả sản xuất, giá cả sản xuất là cơ sở của giá cả thị trường, và giá cả thị trường xoay quanh giá cả sản xuất. 1.2.3. Sự vận động của QLGT trong cơ chế độc quyền. Vì các tổ chức chiếm được vị trí độc quyền nên có quyền áp đặt giá cả độc, giá cả độc quyền thấp khi mua, và giá cả độc quyền cao khi bán.Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là quy luật giá trị thặng dư không còn hoạt động.Về thực chất thì giá cả độc quyền vẫn không tách rời và không phủ định cơ sở của nó là giá trị. Các tổ chức độc quyền thi hành chính sách giá cả độc quyền thực ra là họ đã chiếm đoạt một phần giá trị thặng dư của người khác, và thu được lợi nhuận độc quyền cao. Ta thấy nguồn gốc của lợi nhuận độc quyền cao là lao động không công của công nhân ở các xí nghiệp độc quyền, một phần lao động không công của công nhân của các xí nghiệp không độc quyền,…. Qua đó cho ta thấy dù trong môi trường kinh tế nào thì quy luật giá trị vẫn luôn phát huy tác dụng của mình. 1.3. Vai trò của QLGT. 1.3.1. Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Vai trò này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu. Khi một mặt hàng nào đó mà cung nhỏ hơn cầu thì lúc đó giá cả hàng hoá sẽ cao hơn giá trị, hàng hoá bán sẽ rất chạy, lãi xuất lúc đó sẽ rất cao nên người sản xuất sẽ đổ xô vào sản xuất mặt hàng đó. Do đó sẽ có một lượng vốn được rút ra từ ngành khác để cho vào đầu tư sản xuất mặt hàng bán chạy đó. Trái lại khi mà sản phẩm đó cung đã vượt quá cầu thì giá cả hàng hoá giảm xuống, hàng hoá không bán chạy được và có thể bị lỗ vốn. Như vậy người sản xuất sẽ buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc chuyển sang sản xuất hàng có lãi suất cao hơn. Để lắm bắt được mối quan hệ của cung cầu về hàng hoá đó thì ta thông qua giá cả trên thị trường sẽ thể hiện mối quan hệ đó. Qua đó cho ta thấy giá cả có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Sự biến động của nó có thể ảnh hưởng đến rất nhiều yếu tố khác của thị trường. Liên hệ với nước ta hiện nay đang trong quá trình đổi mới nên vẫn còn rất nhiều điều mới mẻ trong nền kinh tế. Bởi vậy để quản lý nền kinh tế tốt ta phải chú ý quản lý cơ chế giá sao cho thể hiện đúng được thực trạng của thị trường. 1.3.2. Kích thích cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động. Trong cơ chế thị trường tự do cạnh tranh mỗi doanh nghiệp sản xuất là một chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Trong nền kinh tế thì các chủ thể hoạt động trong những môi trường khác nhau nên chi phí lao động cá biệt khác nhau, người có chi phí thấp hơn mức chi phí của xã hội, người có chi phí cao hơn chi phí của xã hội. Doanh nghiệp sản xuất nào có chi phí lao động cá biệt càng nhỏ thì lợi nhuận thu được càng cao, còn nếu chi phí cao hơn chi phí cá biệt của xã hội thì doanh nghiệp bị lỗ ở tình thế bất lợi. Chính vì vậy mà doanh nghiệp nào cũng muốn giành chiến thắng trong cạnh tranh và đều không muốn bị lùi ra khỏi chiến trường. Để làm được điều đó thì doanh nghiệp phải cố gắng tìm mọi cách để giảm chi phí cá biệt của chính mình. Muốn vậy doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý,… tăng năng suất lao động. Tất cả mọi doanh nghiệp đều lỗ lực cạnh tranh và ngày càng thúc đẩy quá trình cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, lực lượng sản xuất xã hội phát triển ngày một hoàn thiện hơn. Qua đây cho ta thấy QLGT có vai trò rất lớn đối với nền sản xuất xã hội. Quy luật giá trị kích thích sản xuất dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết, nó thúc đẩy giảm những hao phí đó và phát triển sản xuất dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật mỗi ngày một tiến bộ. 1.3.3. Lựa chọn tự nhiên, phân hoá người sản xuất thành kẻ giầu người nghèo. Trong quá trình cạnh tranh của nền kinh tế thị trường thì không phải mọi doanh nghiệp đều giành phần thắng cả, mà phải có kẻ thắng người thua. Những người có chi phí cá biệt thấp thì sẽ giành chiến thắng trong cạnh tranh. Người ta sẽ bán nhiều hàng hơn mở rộng quy mô sản xuất và họ ngày một giàu nên. Còn những người có chi phí cá biệt cao thì sẽ chịu thua trong cuộc cạnh tranh thua lỗ và dẫn tới nghèo khó. Qua đây cho ta thấy QLGT ngoài việc lựa chọn tự nhiên những người tài giỏi trong kinh doanh ra nó còn tự phân hoá giầu nghèo tạo nên sự bất bình đẳng trong xã hội. Chương 2 Thực trạng vận dụng QLGT trong thời gian qua và giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn QLGT ở Việt Nam trong thời gian tới 2.1. Thực trạng vận dụng QLGT trong thời gian qua ở Việt Nam. Như chúng t a đã biết đại hội VI của đảng ta họp năm 1986 đã có những bước cải tổ lớn về tư tưởng, kinh tế ,… đối với nước ta. Thời gian đó là một bước ngoặt lớn đối với cả dân tộc ta nhất là về mặt kinh tế. Quả thật sau gần 20 năm đổi mới đát nước ta đã có rất nhiều nhưng thay đổi mà nhiều nước trên thế giới cũng phải ngạc nhiên. Đất nước chuyển từ cơ chế tập chung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường với rất nhiều những khó khăn đè nặng nên vai chính phủ. Ngay năm 1986 thì lạm phát của nước ta ở mức siêu lạm phát nên tới 774.7 % và lúc đó rất ít người có thể nghĩ rằng chúng ta có thể vượt qua và có được những thành tựu to lớn như ngày hôm nay. Nhưng chúng ta đã làm được và đó chính là nhờ vào những đường lối đúng đắn của đảng và nhà nước vận dụng hợp lý, sáng tạo các quy luật kinh tế, những bài học của các nước anh em trên thế giới và cùng với sự quyết tâm không mệt mỏi của mỗi người dân Việt Nam. Tất cả cùng cố gắng và có được thành quả như ngày hôm nay tuy chưa nhiều nhưng cũng là sự động viên cho ta cố gắng tiếp tục đi theo con đường đã chọn, mặc dù vẫn còn nhiều thiếu sót và sai lầm nhưng chúng ta đã biết và vẫn đang cố gắng sửa chữa về tất cả các mặt nhất là về kinh tế để ngày một hoàn thiện hơn và phát triển hơn nữa . 2.1.1.Vận dụng QLGT vào hoạch toán kinh tế (HTKT). Khái niệm về HTKT: HTKT là phạm trù kinh tế gắn liền với hoạt động của các DN trong điều kiện tồn tại sản xuất hàng hoá, đồng thời HTKT là công cụ quản lý kinh tế vi mô. Trên ý nghĩa đó cần phải làm sáng tỏ bản chất của quan hệ này cùng với những điều kiện và nguyên tắc của nó, đặc biệt trong quá trình tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường. Thời kỳ trước năm 1986 nền kinh tế nước ta vẫn còn là cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Mọi kế hoạch sản xuất của cả nền kinh tế đều được cơ quan chính phủ vạch định ra sẵn từ: sản xuất cái gì? sản xuất bao nhiêu? rồi từ đó phân bổ chỉ tiêu cho các đơn vị sản xuất. Còn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thì cứ như chỉ tiêu của nhà nước đã giao cho mà làm, còn ngoài ra các doanh nghiệp (DN) không phải lo đầu ra đầu vào tất cả đều đã có sự sắp xếp của nhà nước. Nếu DN sản xuất có mà hàng không bán được thì nhà nước sẽ bù lỗ cho DN vì đó có thể coi như “Lỗi của nhà nước”. Nói chung các DN dù là “tồn tại” hay là “sống” cũng gần như nhau cả, vì đã là DN của nhà nước thì chắc chắn sẽ không bị “đói”. Các DN cũng có HTKT nhưng dường như việc đó là thừa đối với các DN vì thực sự HTKT có ra kết quả đi nữa thì lỗ lãi cũng không phải là vấn đề của DN. Điều đó đã không làm phát huy được sự năng động sáng tạo của mỗi DN cũng như mỗi cá nhân trong DN như bị thui chột đi cái năng động trong mỗi người công nhân. Chính vì vậy ta thấy giai đoạn này QLGT thực sự không được vận dụng trong HTKT và không phát huy được vai trò của nó đối với nền kinh tế. Hơn nữa giai đoạn này thì thành phần kinh tế tư nhân và thành phần kinh tế ngoài quốc doanh khác không được khuyến khích nên việc vận dụng QLGT vào HTKT ở thời kỳ này dường như không được chú ý. Sau khi nhà nước ta quyết tâm cải cách sau đại hội Đảng lần thứ VI thì đã có thay đổi trong nền kinh tế của cả nước trong cách quản lý hay đối với từng doanh nghiệp. Từ bước ngoặt đó thì các DN nhà nước đã phải tự HTKT hơn nữa từ 1986 thì các DN tư nhân và các DN ngoài quốc doanh cũng được khuyến khích phát triển (nhất là sau khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận với nước ta năm 1995). Mỗi DN bây giờ là một chủ thể độc lập , họ phải tự tìm hướng đi cho mỗi DN của mình . Đối với các DN nhà nước thì nhà nước tách quyền sử dụng và quyền sở hữu riêng, quyền sở hữu vẫn thuộc về nhà nước nhưng quyền sử dụng thì nhà nước giao cho DN. Doanh nghiệp tự mình tổ chức hoạt động kinh doanh , tự nghiên cứu thị trường xác định mặt hàng sản xuất, lựa chọn công nghệ sản xuất cho đến khâu cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm. Nhà nước chỉ thể hiện quyền sở hữu của mình thông qua thuế và DN nộp lợi nhuận. Nhà không còn can thiệp vào các hoạt động của công ty và bây giờ nhà nước chỉ can thiệp vào bằng các biện pháp vĩ mô để ổn định thị trường. Trong nền kinh tế thị trường mỗi DN là người sản xuất hàng hoá, để đứng vững được trên thị trường thì họ phải tính đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua các hình thức giá trị, giá cả, lợi nhuận, chi phí…và phải thường xuyên đối chiếu đầu vào và đầu ra. Đối với các DN thì lợi nhuận luôn luôn là mục tiêu để phấn đấu, để đạt được mục tiêu đó thì các DN phải tự tìm cách hạ thấp chi phí sản xuất bằng cách hợp lý hoá sản xuất, tiết kiệm chi phí vật chất, tăng năng suất lao động, … Để làm được điều đó thì DN phải lắm vững và vận dụng tốt QLGT và trong HTKT. Thời gian qua ta đã thấy được đã có rất nhiều DN làm ăn có hiệu quả, điều đó cho thấy các Dn đã vận dụng khá tốt QLGT vào trong HTKT và các chíng sách của nhà nước thực sự đã có tác động vào nền kinh tế. Nguyên tắc vận dụng QLGT vào HTKT ở các DN nhà nước tuy đã có những tiến bộ trong nhiều DN, nhưng vẫn còn có nhiều DN thực hiện việc HTKT chưa được sát và triệt để. Còn nhiều những DN làm ăn thua lỗ và cả tình trạng lãi giả lỗ thật vẫn còn khá phổ biến trong nhiều DN. Nhiều công ty còn ỉ lại vào cái tiếng là DN nhà nước và chưa thực sự có những khuyến khích thoả đáng về mặt vật chất cũng như về mặt tinh thần nên chưa thực sự phát huy được hết khả năng của mỗi công nhân nói riêng và của mỗi DN nói chung. Để tạo đà phát triển mới cho nền kinh tế đất nước thì nhà nước ta đã quyết định cổ phần hoá phần lớn các DN nhà nước, và nhà nước chỉ giữ lại một số ngành có tính chất an ninh quốc gia. Các DN rồi sẽ dần chuyển thành các công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu và mỗi cổ đông sẽ vì lợi ích của chính mình để đầu tư vào sản xuất, HTKT và cố gắng sao cho lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Bởi vậy việc việc vận dụng QLGT vào để HTKT của mỗi công ty cổ phần thời kỳ này là một việc hết sức quan trọng và cần thiết đối với mỗi công ty cổ phần. Qua trên cho ta thấy HTKT là một điều kiện cần thiết đối với mỗi DN dù là DN nhà nước hay DN ngoài quốc doanh. Bởi ta thấy thông qua HTKT thì sẽ nâng cao được tính chủ động, sáng tạo của tập thể cũng như của mỗi người lao động và khai thác tốt các tiềm năng của DN. Đồng thời HTKT vận dụng QLGT để tính toán, đưa ra những phương pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Hơn nữa trong quá trình quốc tế hội nhập như hiện nay và việc chúng ta chuẩn bị ra nhập WTO thì các DN phải thực hiện tốt việc vận dụng QLGT vào HTKT để biết được lợi thế và sửa chữa những khuyết điểm và cạnh tranh cùng với các loại hàng hoá khác trên thị trường. Khẳng định vị thế của hàng hoá của Việt Nam trên thị trường quốc tế. 2.1.2. Vận dụng QLGT vào cơ chế tiền lương. Sau đại hội Đảng lần VI (1986), triển khai nghị quyết TW3 về đổi mới quản lý kinh tế thì chính phủ đã ra quyết định 217, quy định mọi người lao động trong các DN nhà nước được thu nhập theo kết quả kinh doanh của DN và năng suất, hiệu quả lao động của mỗi người. Nhưng do nhà nước chưa có hướng dẫn thi hành kịp thời nên mỗi đơn vị hiểu và làm theo cách riêng của mình. Doanh nghiệp nào lương thấp quá thì tìm mọi biện pháp để nâng lương nên và gây ra sự rối loạn chế độ tiền lương đối với DN nhà nước. Bởi vậy năm 1989 nhà nước đã chỉnh lại chế độ quản lý tiền lương theo đơn giá sản phẩm được tính trên cơ sở bảng lương và trượt giá, nhưng do tình hình lạm phát quá cao nên chính sách này cũng không phù hợp. Tới năm 1995 nhà nước lại ban hành chế độ tiền lương tối thiểu là 120.000 (đồng/tháng) .Nhưng mức lương này thực tế vẫn chưa đảm bảo sinh hoạt cho công nhân với giá cả hàng hoá thực tế. Nên tới đầu năm 2000 tăng tiền lương tối thiểu nên180.000 (đồng/tháng), năm 2001 là 210.000 (đồng/tháng) năm 2003 là 290.000(đồng/tháng) và theo dự kiến sẽ là 400.000(đồng/tháng) vào năm 2007. Ta thấy theo sự tăng nên của giá cả thì nhà nước cũng tăng mức tiền lương tối thiểu đảm bảo cuộc sống cho cán bộ công nhân viên. Qua đó ta thấy nhà nước đã có sự vận dụng nhạy bén QLGT vào trong cơ chế tiền lương. Tuy tiền lương ở nước ta đã được hoàn thiện nhiều lần nhưng thực sự vẫn còn rất nhiều bất cập. Mức lương vẫn còn thấp, không đủ để tái sản xuất giản đơn sức lao động, tiền lương thực tế bị hạ thấp.Tiền lương tối thiểu tuy đã tăng nên rất nhiều nhưng thực sự vẫn chưa đảm bảo được ổn định mức sống của người lao động. Điều đó cho ta thấy rằng mặc dù đã cố gắng nhưng cơ chế tiền lương vẫn chưa thực sự thay đổi phù hợp với QLGT.Chính vì vậy mà trong thực tế tiền lương vẫn chưa thể trở thành đòn bẩy kinh tế khuyến khích người lao động học tập, nâng cao trình độ,nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩn. Chính điều đó cũng hạn chế đi sự tăng trưởng kinh tế. Bởi tiền lương và quan hệ kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nền kinh tế có tăng trưởng thì tiền lương mới tăng và thu nhập tăng kích thích người lao động làm việc và tăng mức tiêu dùng của người lao động là cơ sở để tiêu thụ sản phẩm. Cơ chế tiền lương tiền lương vẫn còn có sự trênh lệch giữa các ngành nghề, các đơn vị khác nhau. Như lương ở DN nhà nước TW là từ 1,5–1,9(triệu đồng/người/tháng) , cũng con số đó với DN nhà nước thành phố là từ 1,0 –1,5 (triệu đồng/người/tháng), DN nhà nước Quận (huyện) là 0,6 – 0,8 (triệu đồng/người/tháng), và DN có vốn đầu tư nước ngoài là 0,975 (triệu đồng/người/tháng). Ngoài ra ta còn thấy được sự phân biệt giữa người lao động nước ngoài và người lao động trong nước, khi làm cùng một công ty cùng bằng cấp và cùng cả chức vụ, nhưng người ngoại quốc vẫn có mức lương cao hơn của người trong nước. Đó là sự khập khiễng khi áp dụng QLGT vào cơ chế tiền lương. Hơn nữa sự phân biệt khoảng cách lớn giữa lương của nhà nước với lương của nước ngoài và các doanh nghiệp liên doanh khác đã và đang thu hút rất nhiều lao động có trình độ và chất lượng cao. Còn trong cơ quan nhà với tiền lương thấp không thoả mãn được nhu cầu đầy đủ của người lao động, nên tình trạng chảy máu chất xám đang là một vấn nạn, vấn đề bức xúc của chính phủ. Rất nhiều những nghiên cứu sinh được nhà nước cử đi học tập kinh nghiệm của nước bạn, nhưng khi học xong lại trốn tránh trách nhiệm và ở lai luôn nước đó làm ăn.Vì họ đã bị cuộc sống lôi kéo nên khi nghĩ đến việc về nước với mức lương quá thấp nên họ đã bỏ lại trách nhiệm và tự tìm cho mình một con đường mới. Phải chăng ở nước ta cơ chế tiền lương chưa hợp lí cũng là lí do của nạn tham nhũng, chân trọng, chân ngoài của không ít cán bộ công nhân viên chức nhà nước. Ai cũng biết chế độ lương của nhà nước là chưa thể phản ánh đúng sức lao động của mỗi người. Nhưng những cán bộ cơ quan nhà nước lai có rất nhiều tiền, rất giàu. Đó là do đâu? Rất nhiều người có quyền, có chức và lợi dụng quyền chức của mình để tham nhũng. Còn có cả những cán bộ nhà nước làm việc ở cả trong nhà nước và cả ngoài nhà nước. Với họ ở trong là chỗ chắc chân, còn làm ở ngoài mới là thu nhập chính của họ. Cứ như vậy ta thấy sự tận tâm của công chức nhà nước trong các cơ quan nhà nước sẽ không cao bởi họ đã phải quá chú tâm đến đi kiếm miếng ăn ở bên ngoài. Hơn nữa nạn tham nhũng của nhiều cơ quan đã xuất hiện phổ biến. Bởi vậy mà trong thời gian trở lại đây hiện tượng lập trạm kiểm soát để “ăn tiền “của cảnh sát giai thông và ở các trạm cố định của ngành hải quan … diễn ra khá nhiều và gây nhiều bức xúc trong toàn thể dân chúng. Qua đó cho thấy, việc vận dụng không tốt quy luật giá trị vào cơ chế tiền lương còn tạo ra rất nhiều những mặt tiêu cực cho xã hội. Hơn nữa với cơ chế tiền lương như vậy thì ta chưa thể nào kiểm soát được tiền lương của cán bộ nhà nước nói riêng và của những người lao động nói chung. Từ đó sẽ rất khó khăn trong việc đánh thuế thu nhập hay trợ cấp thu nhập cho những người lao động. 2.1.3.Vận dụng quy luật giá trị và những chính sách về giá cả Như ta đã biết thời kỳ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thì tất cả giá cả của các loại hàng hoá đều do Chính phủ kiểm soát. Bởi ở trong giai đoạn này nền kinh tế nước ta vẫn còn yếu kém và nếu để thị trường tự điều tiết sẽ có những bất ổn không kiểm soát được về giá. Quả thật đúng như vậy năm 1986 đã cải cách và để cho một số hàng hoá được thị trường tự điều tiết của giá cả cùng với sự yếu kém của nền kinh tế đã đẩy nạn lạm phát nên tới 747.7%. Nhà nước đã rời bỏ quyền can thiệp trực tiếp, định giá hầu hết các loại hàng hoá, dịch vụ mang tính độc quyền và trả lại cho thị trường quyền quyết định của các hàng hoá dịch vụ còn lại. Nhà nước cũng đã xác định từ thời kỳ này nước ta thực hiện cơ chế một giá đó là giá kinh doanh thương nghiệp, chính sách giá cả phải vận dụng tổng hợp các quy luật, trong đó QLGT có tác động trực tiếp. Giá cả phải phù hợp với giá trị của đồng tiền và trong sự tác động với quy luật cung cầu, không thể giữ giá theo ý muốn chủ quan cứng nhắc bất chấp các quan hệ cung cầu, bất chấp sức mua của đồng tiền và các yếu tố hình thành giá cả khác. Qua đay cho ta thấy ngay trong nhà nước cũng đã nhận ra được vai trò quan trọng của quy luật giá trị trong việc hình thành giá cả trong nền kinh tế thị trường. Lúc này QLGT thực sự đã phát huy tác dụng về mặt tác động vào giá cả cũng như cũng như hướng tác động vào HTKT và cơ chế tiền lương của nước ta. Còn về phía nhà nước thực hiện việc xây dựng môi trường pháp lí, sử dụng các chính sách biện pháp kinh tế vĩ mô để tác động đến sự hình thành và vận động cửa giá cả như: Chính sách phát triển sản xuất ,điều hoà cung-cầu, chính sách tài chính, tiền tệ, chính sách thương mại tổ chức kiểm soát thị trường, chống buôn lậu và gian lận thương mại dưới mọi hình thức…Cuộc cải cách đó của nhà nước đã thực sự có hiệu quả, đưa nước ta với mức lạm phát từ 3 con số những năm cuối thập kỷ 80 cho đến nay thì lạm phát chỉ còn dừng lại ở một con số. Thành công này của nước ta đã làm cho giá cả tương đối bình ổn, lạm phát ở mức kiểm soát được đã khuyến khích đầu tư bỏ vốn sản xuất, khuyến khích thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phân bổ một cách hợp lí và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực của đất nước, tạo ra động lực kích thích sản xuất phát triển. Từ năm 1986 cho đến nay, đã có rất nhiều mặt hàng thông qua QLGT đã biểu hiện giá trị của mình bằng giá cả. Các loại mặt hàng sinh hoạt như: gạo, thịt, cá, trứng, sữa, dầu hoả,…các hàng hoá này đã được tự do lưu thông hoá trên thị trường. Tuy vậy trên thực tế vẫn còn một số hàng hoá có tính chất độc quyền do nhà nước quy định như: điện, nước, bưu điện, hàng không,… Hay một số mặt hàng độc quyền do lợi thế của doanh nghiệp trên thị trường, như thời gian qua việc giá thuốc tăng giá là do một số công được uỷ nhiệm phân phối thuốc độc quyền nên đã găm hàng đợi tăng giá tạo nên cơn sốt trên thị trường. Các ngành này mang tính chất độc quyền và dựa vào thế độc quyền đó để thu những khoản siêu thăng dư và có thu nhập rất cao so với các ngành khác. Điều đó gây thiệt hại cho người tiêu dùng rất nhiều. Hơn nữa những ngành này có vốn đầu tư rất lớn vì vậy mà các doanh nghiệp tư nhân khó có thể chen chân vào cạnh tranh. Vì vậy nhà nước cần có những chính sách khuyến khích cho tư nhân tham gia vào trong các lĩnh vực này, phá vỡ thế độc quyền, tạo ra sự lành mạnh trong cạnh tranh về giá để cho QLGT phát huy hết vai trò của nó đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta như hiện nay. 2.2 Nguyên nhân của những khuyết tật còn tồn tại Nước ta đã trải qua một thời kỳ dài trong cơ chế bao cấp, nên việc chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN còn rất nhiều mới mẻ và chưa có kinh nghiệm. Chưa có một nước nào đã có mô hình kinh tế của nước ta nên việc nước ta vừa phát triển vừa phải lựa chọn xem có phù hợp với nền kinh tế nước ta hay không. Chính vì vậy có những sai lầm trong một số đường lối và chính sách là không thể tránh khỏi. Hơn nữa những con người cũ của cơ chế bao cấp còn nhiều người chưa thích ứng kịp với sự thay đổi của cơ chế thị trường, cũng đã tạo ra những bước cản đối với nền kinh tế. Bộ máy cồng kềnh, chồng chéo của cơ chế bao cấp cũng vẫn còn gây rất nhiều khó khăn trong việc quản lí và sử lí các vi phạm. Hơn nữa rất nhiều căn bệnh cố hữu của nước ta vẫn còn. Đó là việc cán bộ vi phạm ở cấp này thì chuyển cán bộ sang cấp khác. Nạn cậy chức cậy quyền, con ông cháu cha vẫn còn rất phổ biến. Như thời gian vừa qua ở một số tỉnh như Hà Tây nổi nên vụ việc các lãnh đạo địa phương lợi dụng chức quyền đã tự ý lấy đất thổ canh để bán cho dân và cũng tự kiếm trác cho bản thân họ những mảnh đất lớn, đất đẹp. Các chính sách của Đảng Chính phủ và những hướng dẫn thi hành thực sự còn chưa có được sự nhất quán từ TW đến địa phương. Qua mỗi cấp mỗi đơn vị thì chủ trương của Đảng lại bị sai lệch đi. Chính vì vậy mà rất nhiều địa phương do hiểu sai mà thực hiện sai những chính sách của nhà nước. Hơn nữa nhiều chính sách của chính phủ còn bất cập chưa thực sự thông thoáng. Nhiều cơ quan trồng chéo nên nhau, hệ thống bộ máy của nhà nước vẫn chưa thực sự đồng bộ. Như đợt làm hộ khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh thời gian vừa qua, một công dân đến đang ký hộ khẩu thì cơ quan đăng ký hộ khẩu thì bảo cần “sổ đỏ” chứng minh sử dụng đất. Nhưng đến cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất thì họ lại đòi sổ hộ khẩu. Hay ngay cả những dự án đầu tư vào phát triển kinh tế, nhà doan

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc50393.DOC
Tài liệu liên quan