Tiểu luận Tạm giam trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Người bị áp dụng biện pháp tạm gian bị tước đi quyền tự do được hiến pháp quy định. Do vậy để đảm bảo được những quyền và lợi ích trên của công dân, yêu cầu về pháp luật của biện pháp tạm giam được thể hiện ở chỗ : Người ký lệnh tạm giam phải là người có thẩm quyền do Luật quy định. Khi xem xét ra lệnh tạm giam phải đảm bảo các tài liệu, chứng cứ cần thiết và đủ yếu tố chứng minh là đối tượng bị áp dụng tạm giam theo Bộ luật tố tụng hình sự, các chứng cứ có thể thu thập từ nhiều nơi, nhiều nguồn, nhưng không được dựa trên những chứng cứ Pháp luật không quy định. Hay các tài liệu chưa được thẩm tra, xác định mà chỉ dựa trên ý chí chủ quan, động cơ mục đícha cá nhân để ra lệnh tạm giam. Sẽ dẫn đến trường hợp giam giữ người vô tội và làm lọt tội phạm gây hậu quả nghiêm trọng về nhiều phương diện cho con người và cho xã hội.

 

doc17 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 02/10/2013 | Lượt xem: 6127 | Lượt tải: 58download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Tạm giam trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. í nghĩa của việc quy định những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là để đảm bảo cho việc đấu tranh, phòng chống tội phạm đạt hiệu quả cao. Nó đảm bảo sự hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi, thể hiện sự chuyên chính của nhà nước XHCN. Sử dụng biện pháp ngăn chặn nhằm đảm bảo sự dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được hiến pháp quy định như : quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú và đi lại... thể hiện tính ưu việt của chế độ XHCN. Từ mục đích trên, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không thể áp dụng tràn lan, tuỳ tiện mà khi áp dụng phải tuân theo những căn cứ nhất định và khi cần thiết mới áp dụng để ngăn chặn tội phạm hoặc có dấu hiệu của tội phạm bỏ trốn, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hay tội phạm sẽ tiếp tục phạm tội, nhằm đảm bảo cho việc thi hành án. Các biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình sự bao gồm : bắt, tạm giữ, tạm giam, cầm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Do vậy tạm giữ, tạm giam là một trong số biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. 2. Khái niệm tạm giam : Trong quá trình tiến hành tố tụng, để đảm bảo cho việc phát hiện, tìm ra kẻ phạm tội. Xác định tội phạm không để lọt kẻ phạm tội và phục vụ công tác xét xử người phạm tội được chính xác, nghiêm minh, các cơ quan và những người có thẩm quyền theo pháp luật quy định áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định trong bộ luật tố tụng hình sự. Tạm giam là việc thể hiện sự bắt buộc của nhà nước đối với bị can bị cáo, sự bắt buộc đó thể hiện ở chỗ biện pháp tạm giam được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, do các cơ quan có chức năng thẩm quyền thực hiện. Mặt khác nó còn thể hiện việc hạn chế các quyền tự do của người bị áp dụng biện pháp tạm giam trong một khoảng thời gian nhất định. Từ đó, biện pháp tạm giam trong Tố tụng hình sự cũng thể hiện tính chất ngăn chặn một cách rõ nét. Việc quy định của Pháp luật về tạm giam cũng được quy định cụ thể về thẩm quyền như : Chỉ có Viện trưởng, Viện phó Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp, Trưởng công an, phó Trưởng công an cáp huyện, thành phố, thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp trong quân đội nhân dân mới có quyền ra lệnh tạm giam. Thực tế việc tạm giam làm hạn chế đi một số quyền công dân của người bị tạm giam, nhưng không phải là bị Luật pháp tước bỏ hết các quyền công dân của người bị tạm giam mà người bị tạm giam vẫn còn bị tước bỏ một số quyền theo luật định của người bị tạm giam chỉ dẫn ra trong một thời gian nhất định do các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành theo luật định. “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ Luật hình sự đã quy định hình phạt tù trên một năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tộ”. Khi áp dụng biện pháp tạm giam, mục đích là để ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội và ngăn chặn tội phạm có thể xảy ra, phục vụ cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả cao. Là một biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, nhưng tạm giam không phải là hình phạt tù vì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do Toà áp dụng không chỉ nhằm mục đích trừng trị người phạm tội mà còn nhằm cải tạo trở thành con người tốt có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội với hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh và phòng ngừa tội phạm. Tạm giam cũng khác với “giam giữ hành chính” là một biện pháp phạt đối với người vi phạm hành chính. Các cấp thẩm quyền áp dụng biện pháp giam giữ hành chính để nhằm giáo dục họ về ý thức tuân thủ pháp luật chứ không nhằm ngăn chặn tội phạm. Từ đó, tạm giao và tạm giữ đều là biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự nhưng tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc hơn tạm giữ. Thời gian tạm giam dài hơn thời gian tạm giữ và cũng khác nhau về đối tượng. Đối tượng của biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo : Còn đối tượng của biện pháp tạm giữ là người chưa bị khởi tố, họ bị bắt tạm giữ hành chính, tạm giữ trong những trường hợp khẩn cấp hay phạm tội quả tang. II/- ý nghĩa và yêu cầu tạm giam. 1. Mục đích và ý nghĩa của việc quy định biện pháp tạm giam trong Bộ luật tố tụng hình sự : * Tạm giam tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra và xử lý tội phạm. Trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm là nhiệm vụ của toàn dân theo tinh thần nghị quyết 09 của Chính phủ, việc ngăn chặn tội phạm nhanh chóng làm rõ tội phạm và người phạm tội để kịp thời đưa ra xét xử và xử lý là một nghiệp vụ quan trọng và khó khăn đối với các cơ quan điều tra và các cơ quan thẩm quyền chức năng. Để đem lại hiệu quả cao đối với công tác điều tra và xử lý, các cơ quan chức năng phải sử dụng các biện pháp được pháp luật cho phép cụ thể trong pháp luật tố tụng hình sự. Trong đó biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp quan trọng và cần thiết. Tạm giam với mục đích để kịp thời ngăn chặn tội phạm xảy ra nhằm hạn chế và tránh được những thiệt hại mà các loại tội phạm có khả năng gây ra cho các đối tượng và các mối quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Biện pháp tạm giam còn giúp cho quá trình điều tra vụ án bằng các hoạt động như khám xét, hỏi cung bị can... tránh được những cản trở do người phạm tội có khả năng gây ra. Như vậy, biện pháp tạm giam đã có ý nghĩa thuận lợi tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra và xử lý tội phạm. Tạm giam : Góp phần vào việc đảm bảo thực hiện dân chủ, bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể và một số quyền cơ bản khác của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Điều 71 Hiến pháp năm 1992 quy định : “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Được Pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ và nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dan. Quyết định hoặc phê chuẩn của Viện Kiểm sát nhân dân. Trừ trường hợp phạm tội quả tang. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự nhân phẩm của công dân”. Ngoài ra Hiến Pháp 1992 còn ghi nhận các quyền cơ bản khác của công nhân như quyền đi lại tự do cư trú ... Điều 68 Hiến pháp, công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở... thư tín, và việc quy định về khám xét chỗ ở... Điều 73. Với các qui định của Hiến pháp nói chung và các quy định về tạm giam trong Bộ luật tố tụng hình sự nói riêng, đã thể hiện sự đảm bảo về mặt pháp lý cho các quyền cơ bản nói trên của công dân. Qua thực tiễn cho thấy, các quy định về tạm giam trong Bộ luật tố tụng hình sự đã phát huy tác dụng, góp phần đảm bảo việc tuân thủ thực hiện các chế định trong Hiến pháp, đảm bảo việc thực hiện theo nguyên tắc dân chủ và cũng thể hiện rõ mục đích đảm bảo quyền cơ bản của công dân. Mọi hành vi vi phạm các quy định về tạm giam đều là vi phạm việc thực hiện dân chủ XHCN và sẽ bị xử lý nghiêm minh. Do vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng : Nếu không có các quy định pháp luật về tạm giam thì quyền dân chủ của công dân khó có thể đảm bảo thực hiện được một cách triệt để. Việc thực hiện theo đúng thẩm quyền, quyền hạn, thủ tục tạm giam đúng người, đúng tội, đúng thời hạn sẽ làm hạn chế và tránh được sự vi phạm đến quyền công dân và vi phạm dân chủ XHCN. Việc quy định về tạm giam trong Bộ luật tố tụng hình sự thể hiện tính ưu việt của Nhà nước XHCN. Nhà nước XHCN là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Vì vậy mọi hoạt động của Nhà nước đều không nằm ngoài mục đích là phục vụ quyền lợi của nhân dân. Với bản chất của nhà nước XHCN là một chế độ dân chủ, trong đó các quyền tự do của công dân được tôn trọng, pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân... Do đó, khi áp dụng biện pháp tạm giam. Cơ quan và những người có thẩm quyền theo Luật định phải triệt để tuân thủ những điều của Bộ luật hình sự quy định. Ngoài ra việc xây dựng các biện pháp tạm giam trong Bộ luật tố tụng hình sự là cần thiết đều không có quy định về biện pháp tạm giam thì nhiều vụ án không thể tiến hành điều tra đạt hiệu quả cao và nhanh được. Vì bị cáo có thể trốn hoặc có thể thông cung, gây khó khăn cho quá trình điều tra dẫn tới việc xét xử khó công bằng nghiêm minh. 2. Yêu cầu và nguyên tắc của việc tạm giam trong Luật tố tụng hình sự : Khi một đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế do Luật tố tụng hình sự quy định là cá nhân đó bị tước bỏ hay bị hạn chế quyền và lợi ích của đối tượng đó. Vì vậy khi các cơ quan tiến hành tố tụng hay người tiến hành tố tụng được quyền áp dụng biện pháp tạm giam, cần phải nghiên cứu cụ thể xem xét các điều khoản. Tình tiết để áp dụng, hay nói cách khác việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tuân thủ các quy định của pháp luật. Tránh gây thiệt hại không cần thiết cho lợi ích con người và đối tượng bị áp dụng. Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn quan trọng, cần thiết trong trình tự của công tác tố tụng hình sự nhưng đây cũng là hoạt động phức tạp và quan trọng từ đó cơ quan điều tra, toà án Viện kiểm sát phải thực hiện tốt các yêu cầu khi thực hiện quyết định tạm giam. a. Yêu cầu pháp luật : Người bị áp dụng biện pháp tạm gian bị tước đi quyền tự do được hiến pháp quy định. Do vậy để đảm bảo được những quyền và lợi ích trên của công dân, yêu cầu về pháp luật của biện pháp tạm giam được thể hiện ở chỗ : Người ký lệnh tạm giam phải là người có thẩm quyền do Luật quy định. Khi xem xét ra lệnh tạm giam phải đảm bảo các tài liệu, chứng cứ cần thiết và đủ yếu tố chứng minh là đối tượng bị áp dụng tạm giam theo Bộ luật tố tụng hình sự, các chứng cứ có thể thu thập từ nhiều nơi, nhiều nguồn, nhưng không được dựa trên những chứng cứ Pháp luật không quy định. Hay các tài liệu chưa được thẩm tra, xác định mà chỉ dựa trên ý chí chủ quan, động cơ mục đícha cá nhân để ra lệnh tạm giam. Sẽ dẫn đến trường hợp giam giữ người vô tội và làm lọt tội phạm gây hậu quả nghiêm trọng về nhiều phương diện cho con người và cho xã hội. Đặc biệt khi tiến hành tạm giam phải tuân thủ đúng các qui định về quyền hạn, thủ tục mà pháp luật qui định, nghiêm cấm sử dụng hành vi tạm giam trái pháp luật làm phương hại đến danh dự nhân phẩm, sức khoẻ, tính mạng của người bị tạm giam. Thực tiễn cho thấy việc tạm giam được tiến hành đúng theo yêu cầu của pháp lệnh sẽ góp phần quan trọng trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ tố tụng hình sự. Đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, qua đó uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật ngày càng được nâng cao, nền dân chủ được thực thi trong đời sống chính trị và đời sống xã hội. b. Yêu cầu về chính trị : Ngoài việc đảm bảo yêu cầu về pháp luật, biện pháp tạm giam còn phải đảm bảo tốt cả yêu cầu về chính trị. Yêu cầu về chính trị của tạm giam theo quy định của luật tố tụng hình sự đó là : Tạm giam nhằm phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của Đảng và nhà nước trong phạm vi cả nước và yêu cầu chính trị của địa phương trong từng thời kỳ của từng giai đoạn cách mạng. Việc tạm giam phải được cân nhắc và xem xét kỹ những vấn đề có liên quan đến các chính sách khác của Đảng như : chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách đối ngoại, chính sách ngoại giao và một số chính sách khác dùng để trấn áp tội phạm... Do vậy, có những trường hợp tuy đã có đủ yếu tố và căn cứ để tạm giam theo luật định nhưng các cơ quan có thẩm quyền cần phải chân nhắc, tính toán và hậu quả khi ra lệnh tạm giam. Muốn thực hiện tốt các yêu cầu nhiệm vụ về chính trị, cán bộ nhà nước hoạt động trong các cơ quan tư pháp cần phải nắm vững nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước cùng các chính sách khác có liên quan, nắm bắt kịp thời tình hình chính trị của địa phương để vận dụng cho phù hợp đối với từng thời kỳ, từng giai đoạn cũng như cần bắt để tạm giam hay không bắt tạm giam. Muốn đạt được hiệu quả, yêu cầu về chính trị cần chống khuynh hướng chỉ chú trọng tạm giam đối tượng mà coi nhẹ lợi ích chính trị, coi nhẹ việc chấp hành đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên cũng phải phòng chống tư tưởng nể nang, hữu khuynh, rụt rẻ, không dám ra lệnh tạm giam đối với những đối tượng phạm tội khi đã có các yếu tố cấu thành tội phạm. c. Nguyên tắc : Tạm giam trong Luật tố tụng hình sự phải được tiến hành đúng pháp luật, đảm bảo cho việc thực hiện các chính sách do Đảng và Nhà nước đã đề ra. Đồng thời thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật đối với tội phạm và thể hiện được tính tôn trọng và đảm bảo được quyền tự do dân chủ của mọi công dân, đáp ứng được các yêu cầu về pháp luật và các yêu cầu về chính trị. PHẦN II. CÁC QUY ĐỊNH VỀ TẠM GIAM TRONG TTHS VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN. I. Đối tượng áp dụng : Theo điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo. Như vậy, chỉ áp dụng tạm giam đối với những người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử. Người chưa bị khởi tố với tư cách là bị can hay không bị toà án quyết định đưa ra xét xử thì không thể tạm giam họ. Việc quy định đối tượng áp dụng của Biện pháp tạm giam là xuất phát từ việc bảo đảm hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành đúng theo chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân, tránh được hiện tượng giam người vô tội. Tại điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự đã chỉ rõ : “ Bị can, bị cáo phạm tội trong những trường hợp nghiêm trọng hoặc bị can bị cáo phạm tội mà Bộ luật tố tụng hình sự qui định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội”. Do vậy, đối với những đối tượng là bị can, bị cáo phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng hoặc phạm tội do vô ý, không có hoạt động cản trở cho công tác điều tra, truy tố xét xử thì không cần tạm giam. Do đó chúng ta thấy tạm giam không phải là biện pháp ngăn chặn duy nhất. Do vậy không phải mọi trường hợp bị can, bị cáo đều bị tạm giam mà có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Như vậy, theo quy định của điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự thì đối tượng bị áp dụng tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo ở trong những trường hợp nhất định. Trong thực tiễn cũng có trường hợp đó bị bắt tạm giam trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bỏ trốn khỏi nơi bị tạm giam. Hoặc đã có lệnh tạm giam mà vẫn cố tình trốn tránh, cơ quan có thẩm quyền đã ra lệnh truy nã, nếu bắt được lại thì cũng cần phải tạm giam để có thời gian trao trả lại cho cơ quan điều tra có thẩm quyền, hay trong trường hợp Toà án đã tuyên án phạt tù và trong thời gian chấp hành hình phạt mà bỏ trốn phải ra lệnh truy nã, khi bắt lại được cũng cần phải tạm giam. Đó là người bị kết án, bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã. II. Các trường hợp tạm giam : Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc trong Luật tố tụng hình sự. Vì vậy biện pháp này chỉ được áp dụng theo quy định của pháp luật. Theo khoản 1 điều 88 Bộ Luật tố tụng hình sự thì chỉ được áp dụng theo quy định tạm giam bị can, bị cáo khi có một trong hai điều kiện sau . 1. Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiờm trong; phạm tội rất nghiờm trọng: Theo Toà án nhân dân tối cao “Khi xem xét đánh giá kẻ phạm tội thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng hay phạm tội ít nghiêm trọng chủ yếu nhì nhận đánh giá xác định vị trí, vai trò và thủ đoạn phạm tội của các bị cáo, xem xét hậu quả đã gây ra và thái độ của kẻ phạm tội ra sao thành khẩn trong khai báo như thế nào... Việc xem xét đánh giá phải chính xác phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của vụ án, đánh giá toàn diện chính xác kể cả mặt khách quan và chủ quan không được duy ý chí và tình cảm hay về lý trí của mình mà đánh giá không được chính xác bỏ xót người xót tội làm ảnh hưởng xấu đến bản thân, ảnh hưởng đến uy tín của các cấp các cơ quan có thẩm quyền. Như vậy phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng là trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng như điều 48 Bộ Luật hình sự quy định hay một tình tiết nào đó khiến cho hành vi phạm tội của bị can bị cáo có tính nguy hiểm cao thì đó là trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Trong đời sống xã hội của chúng ta thực tiễn nghiên cứu cho chúng ta thấy còn phát sinh nhiều trường hợp “bị can, bị cáo không thuộc trường hợp nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của họ gây căm phẫn trong xã hội thì phải áp dụng biện pháp tạm giam để ngăn chặn sự phẫn uất dẫn đến hậu quả không tốt của quần chúng nhân dân đối với người phạm tội”. Do đó khi ra lệnh tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng : -Người bị tạm giam phải là bị can, bị cáo, người chưa bị khởi tố về hình sự hoặc chưa bị toà án đưa ra xét xử thì không bị tạm giam. -Bị can, bị cáo đó phải phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng. 2. Tạm giam còn có thê áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội do luật hình sự qui định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội Các cơ quan các cấp có thẩm quyền muốn ra lệnh tạm giam theo căn cứ này phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện sau : -Người bị áp dụng tạm giam theo trường hợp này chỉ có thể là bị cán, bị cáo. -Bị can bị cáo phạm tội mà Bộ luật hình sự quy định phạt tù trên hai năm. -Các cơ quan có thẩm quyền có đủ căn cứ cho rằng người phạm tội có thể bỏ trốn hoặc gây cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Qua thực tiễn cho chúng ta thấy việc ngăn chặn kịp thời kẻ phạm tội có ý nghĩa vô cùng quan trọng hết sức to lớn trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Việc áp dụng một mức hình phạt cho kẻ phạm tội đã gây ra hành vi nguy hiểm cho xã hội vừa có ý nghĩa trừng trị đồng thời còn mang tính giáo dục đối với họ. Nhưng trong thực tế không ít các trường hợp cơ quan có thẩm quyền không kịp thời ngăn chặn cho nên bị cáo đã bỏ trốn trong thời gian bị tạm giam đã làm ảnh hưởng và gây không ít khó khăn cho việc điều tra, truy tố hoặc xét xử của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời còn gây tốn kém cho nhà nước, nó còn làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật, làm cho sự hoài nghi thiếu tin tưởng tôn trọng của quần chúng nhân dân đối với pháp luật và không thể loại trừ nó còn có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến quân chúng nhân dân và xã hội. Biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn hữu hiệu nhất để ngăn chặn bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội. Trong luật Luật tố tụng hình sự có quy định : “Khi có căn cứ pháp lý để cho rằng người có thể bỏ trốn hoặc cản trở cho công việc điều tra,truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội”. Nó sẽ là căn cứ hợp pháp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân theo quy định nhưng đối với các cơ quan có thẩm quyền đây là một công việc khó khăn vì lẽ đó luật pháp Việt Nam quy định cho phép áp dụng biện pháp tạm giam đối với cả bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng mà không cần xem rằng người đó có thể bỏ trốn tái phạm tiếp hay cản trở việc điều tra xét xử. 3. Trường hợp tạm giam người chưa thành niên phạm tội : Người chưa thành niên là người chưa phát triển hoàn chỉnh cả về thể chất cũng như tinh thần. Áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ là tước đi quyền tự do được hiến pháp quy định cho mọi người mọi công dân sống trong xã hội nói chung, quyền được vui chơi giải trí, quyền được học hành của lứa tuổi vị thành niên... Do đó nếu thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc hành vi nghiêm trọng do lỗi vô ý thì không áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ. Do đó đối với người đủ 16 tuổi trở lên nếu phạm tội thì họ phải chịu trách nhiệm và chỉ tạm giam họ trong trường hợp phạm tội rất nghiờm trọng và đặc biờt nghiêm trọng. Qua đó khi áp dụng tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội cần phải xem xét cân nhắc đánh giá một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ các tính chất hành vi, độ tuổi, hoàn cảnh sinh sống, môi trường, điều kiện sống, giáo dục, hoàn cảnh gia đình, thái độ tư tưởng của người chưa thành niên trước và sau khi phạm tội. Đặc điểm về nhân thân về môi trường sống giáo dục của người chưa vị thành niên để ra được quyết định đúng đắn, chính xác đối với họ là cơ cấu phải ra quyết định tạm giam đối với họ hay chỉ cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác là được. III. Các trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam : Những trường hợp thành khẩn không gây cản trở khó khăn cho công việc điều tra thì không nhất thiết phải tạm giam họ bởi vì họ không có dấu hiệu phạm tội hoặc họ chỉ là người làm chứng cho cơ quan điều tra hoặc họ có phạm tội nhưng họ đang bị tâm thần hoặc bị ốm nặng có thể nguy hại đến tính mạng thì không nhất thiết phải ra quyết định tạm giam để điều tra. Bộ Luật tố tụng hình sự quy định tại khoản 2 điều 88 không áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can bị cáo trong các trường hợp sau đây : bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang trong thời kỳ nuôi con dưới 12 tháng, là người gia yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng, trừ trường hợp đặc biệt thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. IV.Thẩm quyền ra lệnh tạm giam và vấn đề huỷ bỏ hoặc thay đổi biện pháp tạm giam : 1. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam : Bô Luật tố tụng hình sự quy định tại khoản 3 điều 88 nêu : “Những người có thẩm quyền .... kết thỳc việc xột phờ chuẩn”. Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt tạm giam bao gồm : a. Viện trưởng, phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự các cấp. b. Chánh án, Phó chánh án toà án nhân dân và Toà án cấp quân sự các cấp. c. Thẩm phỏn giữ chức vụ Chỏnh toà, Phú Chỏnh toà Tũa phỳc thẩm Toà ỏn nhõn dõn tối cao; Hội đồng xột xử; d.Thủ trưởng, Phú Thủ trưởng Cơ quan điều tra cỏc cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sỏt cựng cấp phờ chuẩn trước khi thi hành. Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên bao gồm : -Cục trưởng Cục điều tra của lực lượng cảnh sát nhân dân và lực lượng an ninh nhân dân . -Trưởng phòng điều tra thuộc viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. -Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp trong quân đội nhân dân. Do đó, các quy định của luật tố tụng hình sự hiện nay về thẩm quyền và lệnh tạm giam đã tương đối cụ thể và đầy đủ, và đã có sự mở rộng thêm đếnViện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. 2. Việc huỷ bỏ thay đổi biện pháp tạm giam : Trong quá trình tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị giam hoặc xét thấy cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét thấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Từ đó cho ta thấy việc thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam được đề cập đến những vấn đề sau : Khi đang bị tạm giam và khi đã hết thời hạn tạm giam. Việc quy định theo trường hợp này là cần thiết, qua đó sẽ bảo đảm việc huỷ bỏ hoặc thay đổi biện pháp tạm giam được thực hiện một cách kịp thời nhằm bảo đảm cho việc thực hiện các quyền về tự do của người bị giam. V. Thủ tục tạm giam : Tạm giam là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự, nó đụng chạm đến quyền tự do và danh dự của công dân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Ngoài ra còn ảnh hưởng đến công việc, đến tâm tư tình cảm gia đình bạn bè, đồng nghiệp nơi sinh sống, ảnh hởng đến tinh thần, tâm hồn, thể xác. Nếu như việc tạm giam không được thông báo chính xác kịp thời cho thân nhân người tạm giam và những người khác sẽ làm cho họ lo lắng, thắc mắc và chính quyền địa phương sẽ không làm tốt được chức năng phối hợp cho nên thủ tục được đặt ra khi tạm giam theo khoản 4 điều 88 bộ luật tố tụng hình sự : “Cơ quan ra lệnh tạm giam …. làm việc biết”. Mặt khác trong mọi thủ tục tạm giam bị can, bị cáo phải đảm bảo các yêu cầu pháp lý sau : -Lệnh tạm giam phải là lệnh viết , người cấm tình trạng tạm giam bị can, bị cáo bằng lệnh miệng. -Trong lệnh tạm giam của người có thẩm quyền phải ghi rõ ràng : ngày, tháng, năm, chức vụ của người ra lệnh để họ chịu trách nhiệm về mặt pháp lý . Đồng thời phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị tạm giam, thời hạn tạm giam và phải giao cho người bị tạm giam một bản để họ xem xét và thấy rõ rằng việc mình bị tạm giam là hoàn toàn đúng pháp luật hay chưa đúng pháp luật. Việc quy định thủ tục tạm giam chặt chẽ như trên của Bộ luật nước ta đã đề cao trách nhiệm của người ra lệnh tạm giam không những thế mà nó còn biểu hiện cho chúng ta thấy được tính chính xác công minh và yên tâm tin tưởng rằng sẽ chính xác đảm bảo việc tạm giam được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu và qua thực tiễn chúg ta đã thấy biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn tốt nhất và nghiêm khắc trong số các biện pháp ngăn chặn khác được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Chúng ta đã thấy nếu việc áp dụng nghiêm chỉnh đúng, chính xác Bộ Luật quy định về biện pháp tạm giam sẽ góp phần lớn rất quan trọng cho việc thực hiện được tốt chính xác các trình tự tố tụng hìn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTạm giam trong luật tố tụng hình sự việt nam.doc
Tài liệu liên quan