Tiểu luận Thị trường tài chính và vai trò của thị trường tài chính trong việc góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính

Đề tài gồm có các phần như sau (Mục lục):

Lời nói đầu.

Nội dung

Phần I: Tổng quan về TTTC:

I/ Khái niệm chung về TTTC.

1. Tiền đề ra đời, tồn tại của TTTC.

2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của TTTC.

3. Cấu trúc TTTC.

4. Các công cụ trên TTTC

II. Thị trường tài chính thế giới.

Phần II. TTTC Việt Nam.

I. Khái quát sơ lược về TTTCVN

1. Các điều kiện hình thành TTTCVN

2. Đặc điểm của TTTC Việt Nam hiện nay.

3. Chức năng của TTTCVN.

II. Thực trạng của TTTCVN hiện nay.

1. Thị trường tiền tệ.

2. Thị trường vốn.

III. Phát triển hoàn thiện TTTCVN giai đoạn hiện nay.

1. Hoàn thiện TTTC là tất yếu khách quan.

2. Các giải pháp chung cho phát triển, hoàn thiện TTTC.

3. Xây dựng mô hình cho các loại thị trường VN.

Kết luận chung.

 

docx31 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Lượt xem: 2541 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tiểu luận Thị trường tài chính và vai trò của thị trường tài chính trong việc góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ên môn kinh doanh ở thị trường sơ cấp. Hoạt động phát hành không diễn ra ở một trụ sở cố định và hầu như mang tính nội bộ. Tuy vậy, giá cả, số lượng trên thị trường cấp I lại là cơ sở cho thị trường cấp II hoạt động vì các công cụ tài chính không chỉ được phát hành một lần, nó còn được tiếp tục mua đi bán lại trên thị trường cấp II. b. Thị trường cấp II: Diễn ra các hoạt động mua đi bán lại các công cụ tài chính đã được phát hành trên thị trường cấp I. Các chứng khoán ở đã được mua ở thị trường cấp I do nhiều nguyên nhân đã được các nhà đầu, môi giới thu hút sự chú ý của nhiều cá nhân, tổ chức khác. Đây mới chính là nơi giao dịch hàng ngày mua đi lại - bán lại kiếm lời trên TTCK. Lúc này, người bán là các nhà đầu tư đầu tiên, người mua là tất cả các cá nhân, tổ chức muốn đầu tư, kinh doanh kiếm lời. Phát hành trên thị trường cấp II nói chung không có mục đích tài trợ vốn cho công ty phát hành, nhưng phạm vi diễn ra rộng lớn và thông tin phong phú, phổ biến. Thị trường cấp II như là một dấu hiệu theo dõi công việc kinh doanh không chỉ của doanh nghiệp mà còn của cả nền kinh tế. Hoạt động đã diễn ra khỏi nội bộ các nhà kinh doanh và liên quan đến hoạt động, chú ý của dân chúng. Cả hai thị trường phụ thuộc vào nhau. Thị trường cấp II ảnh hưởng đến thị trường cấp I, việc định giá cả, khối lượng ở thị trường cấp II vừa quy định, vừa phụ thuộc vào hoạt động của thị trường cấp I. Thông thường không tồn tại ranh giới rõ rệt giữa hai thị trường, các hoạt động đan xen hoà lẫn vào nhau. Thị trường cấp I là cơ sở cho thị trường cấp II, còn thị trường cấp II lại là động lực cho thị trường cấp I. 4. Các công cụ trên TTTC: a. Các công cụ của thị trường tiền tệ: + Trái phiếu kho bạc là công cụ vay nợ ngắn hạn do chính phủ phát hành nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách tạm thời và tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của mình. Trái phiếu kho bạc có độ an toàn cao nhất vì khả năng vỡ nợ của chính phủ là gần như không thể xảy ra, tuy vậy lại có lãi suất thấp nhất và được trả cùng với gốc (lãi suất chính phủ là lãi suất cơ sở của thị trường). Khách hàng của trái phiếu kho bạc là nhân dân, ngân hàng thương mại, NHTW các tổ chức tài chính trung gian. + Các chứng chỉ tiền gửi là việc chứng nhận cho tiền gửi vào các ngân hàng thương mại của các nhân, tổ chức. Phổ biến nhất là hình thức sổ tiết kiệm, séc thanh toán... có thể dùng các chứng chỉ này để thanh toán, tuỳ thuộc vào mức độ chấp nhận thanh toán của dân cư, nền kinh tế và quy định của các tổ chức. + Các thương phiếu kỳ phiếu do các ngân hàng thương mại phát hành chủ yếu là để huy động vốn tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu vốn cấp bách của các ngân hàng, lãi suất cao song thời gian rất ngắn. b. Các công cụ của thị trường vốn: + Cổ phiếu là một chứng chỉ chứng nhận quyền góp vốn của các cổ đông, nó không phải là một công cụ vay nợ trên TTTC. Cổ phiếu có mệnh giá trên cổ phiếu song không có lãi suất, tỷ lệ lợi tức cố định mà hoạt động dựa trên khả năng thu lợi nhuận của công ty vào một giai đoạn nhất định. Cổ phiếu có khả năng thu lợi tức cao, hấp dẫn song cũng có mức độ rủi ro rất cao. Gồm có cổ phiếu ký danh, vô danh, ưu đãi và thông thường. Mỗi loại có những thuận lợi kvà ràng buộc riêng. + Trái phiếu là công cụ vay nợ dài hạn của chính phủ, doanh nghiệp trái phiếu chính phủ, vay để thu hút nguồn vốn trung và dài hạn, đặc biệt là dài hạn cho nhu cầu xây dựng, đầu tư các công trình lớn của nền kinh tế, lãi suất cao hơn lãi suất trái phiếu kho bạc do vay dài hạn và củng cố độ an toàn khá cao. Đầu tư vào trái phiếu chính phủ là đầu tư mang tính dài hạn và an toàn. Trái phiếu doanh nghiệp do các công ty phát hành, lãi suất hấp dẫn nhưng có độ rủi ro khá cao. Đây cũng là khoản đầu tư dài hạn của những người cho vay mạo hiểm. Các loại trái phiếu gồm có: trái phiếu vay đơn, tiền gốc và lãi được thanh toán một lần khi vào ngày đáo hạn. Trái phiếu trả cố định sẽ thanh toán các khoản cố định đều nhau cho người mua trong suốt kỳ hạn trái phiếu. Trái phiếu coupon, tiền lãi trả hàng năm, tiền gốc trả vào ngày đáo hạn sẽ được thanh toán theo mệnh giá. Trái phiếu vĩnh cưủ: Người mua sẽ nhận một khoản thu nhập hàng năm cố định đến lúc chết và không được rút tiền gốc, không thừa kế. THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM I. KHÁI QUÁT SƠ LƯỢC VỀ TTTC VIỆT NAM: 1. Các điều kiện để hình thành TTTC Việt Nam. TTTC là một thị trường hàng hoá đặc biệt, là sản phẩm của nền kinh tế phát triển cao. Do đó, để hình thành TTTC Việt Nam cần phát triển một nền kinh tế thị trường XHCN dựa trên chế độ đa dạng hoá sở hữu, mở rộng phát triển các thành phần kinh tế. Nền kinh tế thị trường đó phải được phát triển ổn định trong một thời gian dài, ổn định cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng an ninh. Chuyển sang kinh tế thị trường nhưng phải luôn luôn khẳng định vai trò của nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước trong việc định hướng phát triển của nền kinh tế, tạo điều kiện thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tài chính - tiền tệ. Nền kinh tế phải có những chuyển biến tích cực, bắt đầu có tích luỹ và xuất hiện nhu cầu gửi tiền dư thừa cũng như đầu tư trong dân chúng. Đã xây dựng được một mạng lưới cơ sở hạ tầng kinh tế cũng như hệ thống thông tin liên lạc rộng khắp, hiện đại, đồng bộ trong cả nước tạo thành một thể thống nhất từ TW đến địa phương. Các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng được phép hoạt động độc lập tự chủ, hoạt động trong phạm vi khuôn khổ pháp luật. Nới lỏng và tiến đến tự do hoá lãi suất tín dụng. Đã xây dựng được một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh làm cơ sở cho quản lý điều hành đất nước. 2. Đặc điểm của TTTC Việt Nam hiện nay: Trước hết, cần khẳng định TTTC Việt Nam là một TTTC Xã hội chủ nghĩa chính vì vậy mà nó có nhiều điểm tương đồng và khác biệt so với TTTC của thế giới TBCN. Cơ sở tồn tại và xây dựng TTTC Việt Nam được xây dựng chủ yếu dựa trên chế độ công hữu về TLSX, có mối quan hệ bình đẳng hợp tác cùng có lợi giữa các loại hình, thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp và người lao động. Ngân hàng TW là chủ thể của cơ cấu tài chính, của TTTC. Điều này rất khác biệt so với TTTC TBCN xây dựng trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thể hiện ở mối quan hệ người bóc lột người. Thứ hai, mục đích của TTTC Việt Nam là nhằm phục vụ làm sống động các hoạt động tài chính - kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường chủ yếu dưới sự chỉ đạo có kế hoạch của nhà nước. Trong khi đó TTTC TBCN chịu sự tác động của quy luật giá trị và mục đích là giá trị thặng dư TBCN. Thứ ba, TTTC Việt Nam huy động vốn, lưu thông tiền tệ dưới sự chỉ đạo có kế hoạch của nhà nước, tự giác vận động các quy luật khách quan đảm bảo ổn định của nền kinh tế. Trong khi đó, TTTC TBCN phát triển nhiều khi mang tính tự phát hay xảy ra khủng hoảng cơ cấu gây nhiều chấn động cho nền kinh tế. Thứ tư, các chủ thể tham gia trên TTTC Việt Nam là độc lập, bình đẳng, toàn bộ thị trường chịu sự giám sát và quản lý của ngân hàng nhà nước, trong khi đó chủ thể trên TTTC TBCN thường là các nhà tư bản, tài phiệt, thị trường hay bị thao túng bởi họ. Thứ năm, TTTC Việt Nam hoạt động căn cứ vào phương châm chính sách của chính phủ, thống nhất được các hoạt động tài chính từ TW đến địa phương. Còn TTTC TBCN mang tính chất phân tán, nhiều khi không có sự thống nhất, vô kế hoạch. Thứ sáu, TTTC Việt Nam là TTTC độc lập, tự chủ không chịu sự can thiệp của bất kỳ tổ chức tài chính quốc tế nào, căn cứ vào nhu cầu xây dựng đất nước để mở rộng cửa ra bên ngoài song luôn thi hành các biện phaps bảo đảm đúng bản chất của mình. Còn TTTC TBCN chịu ảnh hưởng tương đối lớn của TTTC quốc tế. 3. Chức năng của TTTC Việt Nam: + Tích lũy và huy động tất cả mọi nguồn lực tài chính trong xã hội, từ đó lưu thông vốn cho nền kinh tế điều tiết từ người có vốn sang người cần vốn TTTC Việt Nam tạo nên một chu trình cấp vốn thông qua chức năng của thị trường sơ cấp. Từ thị trường này, các nguồn vốn nhỏ bé, phân tán của các hộ gia đình, các nguồn vốn trong các tổ chức dư thừa chuyển thành vốn dài hạn cho các xí nghiệp. Thực tiễn tại Việt Nam, nhu cầu vốn là rất lớn, giai đoạn 1996 - 2000 cần 41 tỷ cho đầu tư sản xuất phát triển kinh tế. Trong nhân dân, do đời sống ngày càng được cải thiện, đã xuất hiện lượng tiền dư thừa, nếu lượng tiền này được huy động sẽ là nguồn lực rất lớn, vừa tạo thu nhập từ nguồn vốn nhàn rỗi cho người dân, vừa giúp nhiều doanh nghiệp thiếu vốn hiện nay có đủ vốn hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay, vẫn còn nhiều bất cập trong hoạt động của hệ thống doanh nghiệp tư nhân do những ràng buộc về việc huy động vốn từ ngân hàng thương mại, nếu phát huy tốt nguồn lực này trong dân chúng sẽ là cơ sở cho các doanh nghiệp này mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất. + Thông qua việc hoàn trả lãi và vốn, đảm bảo yêu cầu sử dụng vốn có hiệu quả cao, đầu tư vào các ngành trọng điểm. Điều này là rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Đi vào kinh tế thị trường song nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước vẫn còn giữ nguyên cơ chế làm việc của nền kinh tế bao cấp kế hoạch hoá, chưa tự hoạch toán thu chi, mà vẫn trông chờ, ỷ lại vào nguồn vốn của nhà nước. Thông qua việc vay vốn, hoàn trả lãi buộc các doanh nghiệp phải tự đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng hạch toán trong kinh doanh lại không làm lãng phí nguồn lực xã hội. Mặt khác, cơ chế hoàn trả này giúp chúng ta đầu tư được vào các ngành có trọng điểm. Giai đoạn đầu, áp đặt một tỷ lệ lãi suất khá cao giúp các doanh nghiệp phải sử dụng đầu tư vào các ngành vốn ít, sử dụng nhiều lao động, sau đó hạ dần tỷ lệ lãi suất đảm bảo đầu tư dài hạn, ổn định, đầu tư vào các ngành yêu cầu hàm lượng vốn và kỹ thuật cao. Có thể hạ lãi suất, áp dụng lãi suất ưu đãi cho các ngành công nghệ mũi nhọn, các ngành hướng về xuất khẩu như công nghịep điện tử - tin học, chế biến, may mặc... + Hướng cho nền kinh tế vĩ mô hoạt động an toàn có hiệu quả. Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam mới đi vào hoạt động, còn nhiều yếu kém chưa thể khắc phục được ngay. Thông qua vai trò điều tiết cung cầu tiền tệ bằng lãi suất sẽ đảm bảo cho nền kinh tế an toàn, có hiệu quả, từ việc huy động mọi nguồn lực xã hội đến việc yêu cầu sử dụng vốn tối ưu của mọi doanh nghiệp. Thực tiễn ở Việt Nam giai đoạn cuối những năm 80 đầu 90, nền kinh tế Việt Nam bị lạm phát trầm trọng. (Năm 87: 429%; Năm 88: 682%; Năm 89: 348%...)nhà nước đã kịp thời khắc phục bội chi ngân sách, giảm cung ứng tiền tệ đặc biệt là thông qua chính sách lãi suất cao (như lãi suất kỳ hạn 3 tháng giai đoạn 87 - 88: 8,0%/tháng, năm 89: 12%/tháng...) từ đó đẩy lùi siêu lạm phát, bình ổn được nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. + Tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao và cải thiện tình hình phân phối thu nhập cho đại bộ phận dân cư. Hoạt động của TTTC Việt Nam có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra công ăn việc làm. Các nghiệp vụ hoạt động tài chính yêu cầu có các nhân viên quản lý, làm việc như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm... Mặt khác và cũng là điều chủ yếu là, thông qua các hoạt động thu hút và luân chuyển vốn trong nền kinh tế, đảm bảo phát triển mở rộng sản xuất, từ đó nâng cao được công ăn việc làm góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động. Các hoạt động tài chính - tín dụng - bảo hiểm cũng góp phần nâng cao thu nhập (thông qua nghiệp vụ gửi tiền tín dụng, đầu tư chứng khoán...) và phân phối lại thu nhập cho người lao động, cho đại bộ phận dân cư khi mà mức thu nhập của họ còn thấp. Điều này càng có nghĩa khi mà hàng năm chúng ta có thêm từ 1,5 - 1,7 triệu người tham gia vào thị trường lao động. + Góp phần đắc lực vào tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay. Chúng ta bước vào công nghiệp hoá cũng như bước vào xây dựng CNXH từ một khởi điểm rất thấp, lại bị tụt hậu xa so với thế giới và khu vực. Để có thể hoàn thành công nghiệp hoávào năm 2020, không chỉ cần đủ vốn cho đầu tư phát triển mà còn đảm bảo phát huy mạnh mẽ tất cả mọi năng lực sản xuất sẵn có, thu hút công nghệ qua đầu tư. Điều này chỉ có thể thành hiện thực khi chúng ta phát triển hoàn thiện một TTTC và hoà nhập được vào quốc tế, khu vực. Thông qua việc tham gia vào hội nhập còn giúp chúng ta tiếp thu được năng lực sản xuất quốc tế, tăng tích cạnh tranh phát huy lực lượng sản xuất. Do toàn cầu hoá buộc mỗi quốc gia phải tranh thủ hết các nguồn lực, đầu tư vào các ngành mũi nhọn, đối với Việt Nam còn giúp đi tắt, đón đường giảm bớt sự tụt hậu về khoảng cách phát triển. + Thông qua việc hội nhập, Việt Nam có thể tham gia vào TTTC quốc tế, giúp phát triển kinh tế đối ngoại, khai thác được cả nguồn lực ngoài nước (về vốn, khoa học công nghệ), tránh bị tụt hậu và thôn tính trong xu thế toàn cầu hoá. II. THỰC TRẠNG CỦA TTTC VIỆT NAM HIỆN NAY: Cơ chế thị trường XHCN đang dần dần hình thành phát triển tạo tiền đề cho một TTTC ở Việt Nam. Cùng với đã tăng trưởng của nền kinh tế, TTTC Việt Nam ngày càng đóng một vai trò to lớn và đạt được nhiều thành tựu. Song với chúng ta, phạm trù TTTC vẫn còn là một điều mới mẻ, bước đầu đi vào hoạt động còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. 1. Thị trường tiền tệ: + Thị trường tiền gửi tín dụng ngắn hạn, ra đời cùng với sự hoạt động của hệ thống tín dụng ngân hàng, hoạt động chưa có hiệu quả. Các nguồn lực trong dân chúng chưa được khai thác tối đa. Đặc biệt hiện nay, do hạ lãi suất chiết khấu nhằm nâng cao đầu tư đã kéo theo sự trì trệ của hoạt động tín dụng. Theo thống kê, nguồn vốn trong dân thì 44% mua vàng, ngoại tệ, 28% mua nhà đất, 17% gửi tiết kiệm ngắn hạn và 19% cho các dự án ngắn hạn. Trong khi mà TTTC chưa phát triển, hoạt động tín dụng ngắn hạn còn đóng một vai trò to lớn cho huy động vốn cho nền kinh tế, thì sự lãng phí nguồn lực, sự trì trệ trong hệ thống tín dụng ngân hàng là một vấn đề lớn đối với chúng ta. Nhất là khi mà hiện nay, mặc dù lãi suất thấp song các ngân hàng lại không cho vay được hết phần vốn huy động kéo theo sự thua lỗ cho rất nhiều ngân hàng thương mại hoặc hoạt động thu hẹp. Nhiều doanh nghiệp vẫn thiếu vốn, còn nhân dân chỉ coi tín dụng ngắn hạn là biện pháp chống lại lạm phát đồng tiền. + Thị trường nội tệ liên ngân hàng đi vào hoạt động từ tháng 7/93, hiện nay đang hoạt động dưới sự tổ chức và điều hành của Nhà nước. Thông qua quan hệ hợp tác đã đảm bảo cho việc sử dụng nguồn vốn có hiệu quả hơn, có đủ khả năng chi trả thanh toán khi gặp khó khăn. Việc quy định hoạt động trong thị trường này còn nhiều hạn chế như yêu cầu ngân hàng tham gia phải có tài khoản tại NHTW, có đại diện giao dịch tại trung tâm giao dịch thị trường, đảm bào hệ thống thông tin nội bộ và nối mạng... đặc biệt là còn rất hạn chế cho một tổ chức tín dụng tham gia. Điều đó làm cho hoạt động của thị trường chưa được rộng khắp và toàn diện, chưa tạo được điều kiện thuận lợi cho nhiều ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng cùng tham gia. + Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ. Đi vào hoạt động từ tháng 10/94 dưới sự điều hành giám sát của nhà nước. Thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ, giữa các ngân hàng đã tác động đến cung - cầu tiền tệ, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương xuất - nhập khẩu, vay thương mại, đầu tư nước ngoài... Điều kiện tham gia vào thị trường ngoại tệ liên ngân hàng còn khắt khe hơn tham gia vào thị trường nội tệ, đặc biệt là chỉ cho phép các ngân hàng là ngân hàng được phép kinh doanh tiền tệ. Điều đó làm hạn chế nhiều đến quy mô thị trường, song bước đầu hoạt động của thị trường là khả quan, đảm bảo nguồn cung cầu về ngoại tệ. + Thị trường tín phiếu kho bạc và các công cụ nợ ngắn hạn khác: Tín phiếu kho bạc được phát hành từ đầu những năm 90, có kỳ hạn ngắn, đã đáp ứng được nhu cầu chi tiêu chính phủ và bù đắp thâm hụt ngân sách. Giai đoạn đầu, trái phiếu và tín phiếu kho bạc tăng nhanh, từ 220,5 nghìn tỷ năm 91 lên 6.186 tỷ năm 97 và có lãi suất từ 9 - 12%/năm. Hiện nay, đặc biệt sau năm 98, thị trường đi vào hoạt động trì trệ, mặc dù đã có lúc nâng đến một mức lãi suất rất cao chưa từng có 2,1%/tháng (25,2%/năm) năm 93 nhưng vốn huy động vẫn còn nhỏ bé so với tiềm năng. Đối với thị trường thương phiếu, kỳ phiếu hoạt động còn nhỏ bé, chủ yếu mới trên thị trường sơ cấp. 2. Thị trường vốn: + Thị trường trái phiếu chính phủ: Đi vào hoạt động từ tháng 7.94 đã giúp Nhà nước huy động được nguồn vốn dài hạn đầu tư xây dựng được một số công trình lớn, trọng điểm quốc gia (đặc biệt là đường dây 500KV, đường Hồ Chí Minh (đang thực hiện và nhiều công trình khác), với số vốn có thể lên đến hàng chục tỷ đồng. Thời hạn của cả trái phiếu kho bạc và trái phiếu chính phủ hiện nay đang có xu hướng tăng lên, lãi suất gắn liền với thị trường và có xu hướng giảm dần, làm giảm gánh nặng trả lãi cho ngân sách nhà nước. Hoạt động của thị trường đang ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn và phổ biến trên cả nước. Trong năm 1996, cả hai công trình thủy điện Yaly và Bình Thuận đã thu hút được 196,6 tỷ đồng (loại kỳ hạn 1 năm), còn đường dây 500 KV tổng số là 334 tỷ. Đây là kết quả bước đầu khả quan. + Thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Đi vào hoạt động từ năm 94, có đặc điểm chủ yếu là tồn tại duy nhất thị trường sơ cấp, mà tại đó chỉ có một phần trái phiếu là được thanh ngắn, tỷ trọng trái phiếu của các công ty kinh doanh còn rất nhỏ, chiếm khoảng 9% so với trái phiếu do ngân hàng phát hành và chủ yếu là bán trực tiếp. Hiện nay, trái phiếu doanh nghiệp có thời hạn dài nhất mới chỉ là 5 năm như của công ty điện lạnh TP Hồ Chí Minh, nhà máy xi măng Anh Sơn. + Thị trường cổ phiếu. Bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 6 - 2000, trước đó 9.94 đã được chính phủ ban hành quy chế hoạt động. Theo đó, chỉ có các công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu. Hiện tại đã có hơn 200 công ty cổ phần và nhiều doanh nghiệp đã phát hành cổ phiếu mong chỉ được sở hữu mà chưa được đưa vào lưu thông do chưa được phép niêm yết trên TTCK. Điều này đã gây nhiều khó khăn cho việc cung ứng với cho nền kinh tế, làm chậm quá trình đổi mới. Đặc biệt là tiến trình cổ phần hoá diễn ra còn chậm, kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hoá không được thông tin hoạt động. Tuy vậy, sự ra đời của TTCK với 4 công ty được niêm yết bắt đầu gây dựng cơ sở cho TTCK sau này (REE, SACOM, HAPHACO, TRANSIMEX). Các phiên giao dịch đã bắt đầu sôi động mặc dù còn nhỏ bé, hàng giao dịch còn ít. Trước đó, năm 97m, SACOM nhờ phát hành cổ phiếu (240.000 cổ phiếu mệnh giá 500.000đ) mà tăng tài sản lên 10 lần, thông qua hoạt động giao dịch trên TTCK, các công ty trên đã mở rộng được sản xuất kinh doanh, nâng cao được uy tín vị thế của mình trên thị trường cạnh tranh tạo được những hướng đi mới. Nhìn chung TTCK Việt Nam còn mới mẻ song bước đầu đã tạo lòng tin cho nhân dân. Thực trạng TTTC Việt Nam. Nhìn về tổng thể, số vốn huy động được trên TTTC tăng, nhưng tổng giá trị tín phiếu cổ phiếu giai đoạn 91 - 97 đạt 2,5% GDP. Nó còn quá nhỏ bé so với nhu cầu kinh tế xã hội (trong khi ở các quốc gia phát triển, khoản vay trong nước chiếm hơn 50% GDP). Kho bạc nhà nước, theo ước tính, mới chỉ huy động được 15% số tiền nhàn rỗi trong dân, khi mà lượng tiền này ước đạt 25 - 30 nghìn tỷ đồng. Lãi suất trái phiếu luôn cao hơn lãi suất như là một điều không thực tế so với nhiều nước trên trong mà một nguyên nhân chính là do sự yếu kém của hệ thống ngân sách, do tài sản này của họ thiếu, nợ khó đòi tăng, tình hình kinh doanh khó khăn buộc phải tăng lãi suất tiền gửi lên cao hơn quy định, do đó mà người dân thích gửi tiền vào ngân sách hơn là mua trái phiếu cổ phiếu và trái phiếu công ty. Để có thể thu hút cổ phiếu đã phải nâng lãi suất lên rất cao. Hiện tại mới chỉ có khi bạc nhà nước và NHTW được quyền tham gia vào việc phát hành vay nợ. Điều này, mặc dù thể hiện sự non yếu của thị trường về các thiết chế thị trường khác vẫn chưa xuất hiện nhưng hiện tại là chấp nhận được. Mặc dù còn nhiều yếu kém, bất cập, song về cơ bản, TTTC Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, đã thu hút được một lượng vốn nhất định cho đầu tư phát triển đất nước. Bước đầu hình thành TTCK ở Việt Nam tạo cho mọi cá nhân tham gia, tiếp xúc với một TTTC hiện đại, phát triển. III. PHÁT TRIỂN VÀ HOÀN THIỆN TTTC Ở VIỆT NAM. 1. Hoàn thiện TTTC ở Việt Nam là một tất yếu khách quan. Với bất cứ một quốc gia nào đi theo nền kinh tế thị trường, TTTC là "phong vũ biểu", là dấu hiện đặc trưng của nền kinh tế. Các tín nhiệm trên TTTC có ảnh hưởng lớn đến tâm lý tiêu dùng, đầu tư. TTTC lành mạnh, ổn định sẽ giúp, đảm bảo cho các hoạt động kinh tế bền vững, an toàn, tạo một không khí yên tâm, thoải mái trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Xuất phát từ nhu cầu cấp bách hiện nay, chúng ta phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần có một TTTC hoàn thiện nhằm phát huy mọi nguồn nội lực và ngoại lực, tài trợ đủ vốn, công nghệ kỹ thuật cho quá trình phát triển hoàn thành công nghiệp hoá đất nước. Xuất phát từ thực trạng nhỏ bé, yếu kém của TTTC Việt Nam hiện nay cần phải phát triển và hoàn thiện để có thể đáp ứng được yêu câùa đặt ra, từng bước nâng cao vai trò của mình đối với nền kinh tế và hội nhập vào quốc tế, khu vực. Xuất phát từ thực tiễn của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, hoàn thiện TTTC luôn là một điều tất yếu khách quan do tầm quan trọng cũng như tính nhạy cảm của nó. Đứng trước xu thế toàn cầu hoá, TTTC dễ chịu những cú sốc bên ngoài. Dù TTTC có phát triển ở một trình độ cao như Nhật Bản, Hàn Quốc thì vẫn chịu những hậu quả nặng nề từ cuộc khủng hoảng. Chính vì vậy, phát triển, hoàn thiện TTTC ở Việt Nam luôn là tất yếu. 2. Các giải pháp chung cho phát triển, hoàn thiện TTTC ở Việt Nam. + Để phát triển TTTC cần dựa trên một nền kinh tế thị trường hoàn thiện đây là điều hiển nhiên. TTTC vững mạnh góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, ngược lại kinh tế thị trường hoàn thiện sẽ tác động ngược trở lại chính TTTC và làm nền tảng cơ sở, làm môi trường cho TTTC phát triển bền vững. Để phát triển hoàn thiện kinh tế thị trường, từ ngay bây giờ cần có các chính sách cho phù hợp. Đường lối phát triển kinh tế đóng một vai trò quyết định bao trùm lên cả sự phát triển, điều này phụ thuộc lớn vào hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước. Phát triển đồng bộ các ngành, lĩnh vực dựa trên việc khai thác tối đa các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào và giá nhân công thấp. Mặc dù vậy vẫn phải hướng nền kinh tế vào mô hình hướng về xuất khẩu mà nhiều nước châu á (Nhật Bản, các nước NICs) đã rất thành công; ưu tiên vào các ngành mũi nhọn và ngành thế mạnh: chế biến nông lâm thủy sản, dệt may, dầu khí... và đặc biệt là điện tử - tin học, ngành học có nhiều triển vọng. Luôn luôn coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu do chúng ta có gần 80% dân số nông thôn, nâng cao thu nhập cho họ sẽ là tăng thu nhập cho một bộ phận rất lớn dân cư, từ đó tăng được tiêu dùng, tích lũy cho nền kinh tế và vượt được ra khỏi đường giới hạn khả năng sản xuất. Đối với Việt Nam, cần lưu ý rằng, phát triển hoàn thiện TTTC phải dựa trên một nền kinh tế thị trường XHCN đề cao vai trò của Nhà nước và thành phần kinh tế Nhà nước về quản lý kinh tế, dựa trên chế độ đa sở hữu song công hữu vẫn là ưu thế, đại bộ phận nhân dân làm chủ. + Nâng cao vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước, đặc biệt là NHTW cũng như kiện toàn hệ thống ngân hàng thương mại. Đối với Nhà nước, cần có biện pháp quản hành chính song song với quản lý kinh tế. Thông qua các chính sách tài khoá và tiền tệ có thể điều chỉnh ổn định nền kinh tế vĩ mô. Thực tiễn không chỉ đối với Việt Nam mà còn rất nhiều nhà nước khác, để đạt được mục tiêu kinh tế này thì lại bị ảnh hưởng mục tiêu kinh tế khác. Chẳng hạn, để giảm lạm phát thì có thể thất nghiệp tăng, để kích cầu nền kinh tế có thể dẫn đến thâm hụt ngân sách, lạm phát tăng, hay tăng thuế thì giảm thâm hụt ngân sách song kinh tế lại trì trệ vv... Chính vì vậy, cần chú ý rằng nhà nước đang theo đuổi mục tiêu vĩ mô nào, và khi thực thi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến TTTC - tiền tệ, vì hầu hết các chính sách vĩ mô đều tác động đến TTTC: lạm phát, tỷ giá hối đoái thâm hụt ngân sách, lãi suất chiết khấu.v.v... Tuỳ theo chế độ tỷ giá hối đoái mà áp dụng chính sách tài khoá mạnh hay chính sách tiền tệ mạnh. Ở nước ta, với NHTW cần từng bước nâng cao tính độc lập tự chủ. Hiện tại, mô hình NHTW t rực thuộc chính phủ vẫn là tối ưu vì nền kinh tế thị trường còn chưa phát triển, cần phát huy mạnh mọi nguồn lực xã hội. Tuy vậy tránh sự áp đặt hoạt động từ phía chính phủ, đặc biệt là chính phủ nên tự cân đối ngân sách, trong trường hợp khẩn cấp mới dựa vào cơ chế phát hành tiền của NHTW. + Tạo điều kiện cho mọi chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia vào thị trường bình đẳng. Điều này là cần thiết cho một TTTC XHCN. Tạo cho tất cả mọi chủ thể có cùng một cơ hội như nhau, khi đó sẽ tạo ra được môi trường cạnh tranh hoàn hảo, tất cả mọi chủ thể sẽ phát huy được năng lực của mình, góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Không được phân biệt nhà nước - tư nhân, trung ương - địa phương, có như vậy mới đảm bảo tính năng động của thị trường cũng như khai thác tối đa mọi nguồn lực của mọi thành phần kinh tế. + Hình thành cơ chế đồng bộ, về hoạt động cho TTTC Vi

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxThị trường tài chính và vai trò của thị trường tài chính trong việc góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài c.docx
Tài liệu liên quan