Tiểu luận Tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp theo quy định hiện nay và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân

MỤC LỤC

 

 

LỜI CẢM ƠN

LỜI NÓI ĐẦU

Chương 1: Tổ chức Hội đồng nhân dân các cấp Trang 1

I. Tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Trang 1

1. Cơ cấu, tổ chức của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Trang 1

2. Cơ cấu, tổ chức của các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Trang 2

3. Các tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Trang 3

II. Tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp huyện Trang 3

1. Cơ cấu, tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp huyện Trang 4

2. Cơ cấu, tổ chức của các Ban của Hội đồng nhân dân cấp huyện Trang 5

3. Các tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện Trang 5

III. Tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp xã Trang 6

Chương 2: Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp Trang 7

1. Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân Trang 7

2. Hoạt đông của Thường trực Hội đồng nhân dân Trang 11

3. Hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân Trang 16

4. Hoạt động của Ủy ban nhân dân cùng cấp Trang 17

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp Trang 18

 

doc20 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 21/01/2014 | Lượt xem: 7240 | Lượt tải: 80download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp theo quy định hiện nay và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
i đồng nhân dân năm 2005). Ngoài các Ban chuyên môn vừa nêu ở trên ra, tại kỳ họp đầu tiên của mỗi khoá, HĐND cấp huyện còn thành lập các Ban lâm thời (Ví du:Ban thẩm tra tư cách đại biểu nhân dân) và các Ban này sẽ tự giải tán khi xong nhiệm vụ. 3. Các Tổ đại biểu HĐND cấp huyện: Các tổ đại biểu HĐND cấp huyện được thành lập ở các địa phương để phối hợp công tác giữa 2 kỳ họp HĐND. Thường trực HĐND cấp huyện sẽ giữ vai trò điều hoà, phối hợp hoạt động của các Tổ đại biểu HĐND (Xem thêm phần hoạt động của đại biểu HĐND và Thường trực HĐND). Ví dụ: HĐND huyện Đak Pơ được tổ chức thành 7 tổ theo đơn vị xã. III. TỔ CHỨC CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN (GỌI CHUNG LÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ) Xem thêm phụ lục hình minh hoạ (phụ lục 3) : Theo quy định tại Điều 5 và Điều 52 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì HĐND cấp xã chỉ tổ chức Thường trực HĐND, không có các Ban chuyên môn như HĐND cấp tỉnh, cấp huyện. Thường trực HĐND cấp xã cũng chỉ có 02 thành viên là Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, không có ủy viên thường trực, trong đó Chủ tịch HĐND cấp xã hoạt động kiêm nhiệm nên chỉ có 01 chức danh trong thường trực HĐND hoạt động chuyên trách mà thôi. Cũng như quy định đối với cấp tỉnh và cấp huyện, các chức danh này do HĐND cấp xã bầu ra tại kỳ họp đầu tiên của mỗi khoá trong số các đại biểu HĐND cấp mình theo sự giới thiệu của Chủ tịch HĐND khoá trước. Khi nghiên cứu những quy định về tổ chức và hoạt động của HĐND trước đây (trước khi có Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003), chúng ta thấy rằng trước năm 1989 thì HĐND cấp xã không có Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND nên giữa 2 kỳ họp HĐND, UBND sẽ làm thay nhiệm vụ của cơ quan Thường trực của HĐND. Từ năm 1989 đến 2003 thì mặc dù HĐND cấp xã đã có Chủ tịch và Phó Chủ tịch nhưng đều hoạt động kiêm nhiệm và vẫn chưa được gọi là Thường trực HĐND cấp xã. Đến Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì chúng ta thấy có sự thay đổi, cụ thể theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì HĐND cấp xã có Thường trực HĐND. Việc ban hành những quy định này nhằm nâng cao vai trò của Thường trực HĐND cấp xã, giúp HĐND cấp xã hoạt động thường xuyên, hiệu quả hơn, cũng như duy trì mối quan hệ phối hợp công tác với các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức khác trong hệ thống chính trị (chúng ta sẽ nghiên cứu phần quan hệ phối hợp công tác trong phần sau). Chúng ta có thể tóm lược điểm mới về cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 so Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983. Tiêu chí so sánh Các luật trước Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989 (luật 1962, 1983) Cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989 Cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 Cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 Về tổ chức Không tổ chức ra Thường trực HĐND cấp xã Không tổ chức ra Thường trực HĐND cấp xã Không tổ chức Thường trực HĐND cấp xã Có tổ chức Thường trực HĐND cấp xã Về cơ cấu Không có các chức danh: - Chủ tịch HĐND - Phó Chủ tịch HĐND (kỳ họp do UBND cấp xã triệu tập) Không có các chức danh: - Chủ tịch HĐND - Phó Chủ tịch HĐND (kỳ họp do UBND cấp xã triệu tập) - Cơ cấu gồm Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND - Chủ tịch, Phó Chủ tịch làm việc kiêm nhiệm - Cơ cấu gồm Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND - Chủ tịch làm việc kiêm nhiệm, Phó Chủ tịch làm việc chuyên trách Quy định Xem thêm Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1962, 1983 Tại Điều 3 và Điều 18 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989 Tại Điều 5 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 Tại Điều 5, Điều 52 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 Các tổ đại biểu HĐND cấp xã được thành lập ở các địa phương để phối hợp công tác giữa 2 kỳ họp HĐND. Thường trực HĐND cấp xã sẽ giữ vai trò điều hoà, phối hợp hoạt động của các Tổ đại biểu HĐND (xem thêm phần hoạt động của đại biểu HĐND và Thường trực HĐND). Thông thường thì các tổ đại biểu HĐND cấp xã được thành lập theo các thôn, làng, các khu phố … CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP HĐND các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua việc triển khai các hoạt động của các bộ phận cấu thành, đó là: hoạt động của Đại biểu HĐND, hoạt động của Thường trực HĐND, hoạt động của các Ban của HĐND (Đối với HĐND cấp tỉnh và huyện). Các bộ phận trên hoạt động thông qua các hình thức như Kỳ họp (hình thức chủ yếu và quan trọng nhất), tổ chức giám sát (giám sát chuyên đề, giám sát đột xuất), tiếp xúc cử tri (trước và sau mỗi kỳ họp), chất vấn; tiếp nhận đơn thư của công dân, chuyển cho cơ quan chức năng và theo dõi quá trình giải quyết đơn thư … Tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ của HĐND từng cấp mà nội dung, phạm vi hoạt động của HĐND nói chung, hoạt động của các bộ phận cấu thành cũng có sự khác nhau. Tuy vậy, nhìn chung, HĐND các cấp đều thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua những phương thức hoạt động nhất định mà chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu để hiểu rõ hơn. Do vậy, khi trình bày về hoạt động của HĐND các cấp, chúng tôi không trình bày theo từng cấp mà để cho người đọc dễ theo dõi, nghiên cứu chúng tôi sẽ trình bày vấn đề này theo các phương thức hoạt động của HĐND. Khi đề cập đến hoạt động của HĐND các cấp là chúng ta đang đề cấp đến hoạt động của đại biểu HĐND, hoạt động của Thường trực HĐND (hoạt động của Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên thường trực) và hoạt động của các Ban của HĐND. Sau đây, chúng ta sẽ xem xét hoạt động của các bộ phận trên. 1. Hoạt động của Đại biểu HĐND: Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước (Điều 36 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003). Đại biểu HĐND của địa phương nào thì do nhân dân địa phương đó trực tiếp bầu ra và chịu sự giám sát của nhân dân địa phương. Hoạt động của đại biểu HĐND gồm những hoạt động trước kỳ họp, hoạt động trong kỳ họp và hoạt động sau kỳ họp. Tuy nhiên, khi nghiên cứu nội dung này, chúng tôi xin trình bày theo các nhóm hoạt động chính, cơ bản của người đại biểu HĐND như sau: 1.1 Tham dự Kỳ họp, phiên họp của HĐND: Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu của HĐND. Tại kỳ họp toàn thể (đa số) các đại biểu HĐND sẽ bàn bạc, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương. Thông qua kỳ họp, ý chí, nguyện của nhân dân địa phương được chuyển thành quyết định của cơ quan quyền lực, có giá trị bắt buộc thực hiện chung (các nghị quyết). Ngoài ra, kỳ họp còn quyết định các biện pháp để đảm bảo việc thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên tại địa phương; thực hiện quyền giám sát của HĐND đối với các cơ quan nhà nước tại địa phương trong việc thực hiện nghị quyết của HĐND. Tuy nhiên, cần lưu rằng, tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa HĐND thì nội dung chủ yếu là bầu ra các cơ cấu của HĐND, UBND nên kỳ họp này có thể coi là kỳ họp về tổ chức bộ máy chính quyền ở địa phương. Tại kỳ họp này, HĐND sẽ bầu ra Thường trực HĐND (Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực), các thành viên của UBND (Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên UBND), thành viên các Ban của HĐND, thư ký kỳ họp. Đại biểu HĐND có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các Kỳ họp thường kỳ, Kỳ họp chuyên đề, Kỳ họp bất thường của HĐND; tại kỳ họp, các đại biểu có trách nhiệm tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề liên quan đến nội dung, chương trình của kỳ họp HĐND. Khi đại biểu HĐND vắng mặt, phải có lý do và báo cáo Chủ tịch HĐND hoặc Chủ toạ phiên họp (Điều 38 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003). Thành phần quan trọng nhất của các kỳ họp là các đại biểu HĐND, do vậy việc đảm bảo số lượng tham dự kỳ họp là yêu cầu bắt buộc của các kỳ họp (phải có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu HĐND tham dự). Ngoài ra dự kỳ họp còn có các thành phần khác như Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND cấp trên được bầu tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, các đoàn thể cùng cấp, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn của UBND, lãnh đạo các ban ngành như Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và đại diện cử tri. Mặc dù các thành phần này cũng được phát biểu ý kiến nhưng không được biểu quyết. Để kỳ họp HĐND được tổ chức có chất lượng, hiệu quả, pháp luật quy định các đại biểu có trách nhiệm nghiên cứu trước dự kiến nội dung, chương trình kỳ họp, các văn bản liên quan đến nội dung kỳ họp như các báo cáo, các tờ trình, đề án, dự thảo nghị quyết của kỳ họp …; chuẩn bị ý kiến phát biểu về các vấn đề liên quan đến chương trình nội dung của kỳ họp. HĐND mỗi năm họp thường lệ 2 kỳ, ngoài ra, khi cần thiết, HĐND cũng có thể tổ chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường theo yêu cầu của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND cùng cấp hoăc khi có ít nhất 1/3 tổng số đại biểu HĐND cùng cấp yêu cầu (Điều 48 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003). Kỳ họp sẽ do thường trực HĐND triệu tập và chỉ được tiến hành khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu tham dự họp. Quy định này nhằm đảm bảo tính đa số trong việc bàn bạc, biểu quyết thông qua các nội dung quan trọng của kỳ họp (các nghị quyết của Hội đồng chỉ được thông qua khi có quá ½ tổng số đại biểu nhất trí biểu quyết). Kỳ họp của HĐND được tiến hành công khai, trừ khi cần thiết phải họp kín. Về nguyên tắc, tất cả nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND sẽ được HĐND quyết định tại kỳ họp. Tuy nhiên, trên thực tế không phải bất cứ vấn đề gì cũng được đem ra quyết định tại kỳ họp mà một số nội dung sẽ được HĐND giao cho cácThường trực HĐND, các ban của HĐND, Uỷ ban nhân dân giải quyết trong khuôn khổ của pháp luật. Vì Kỳ họp là hình thức hoạt động của yếu của Hội đông nhân dân nên việc các đại biểu HĐND tham dự đầy đủ các kỳ họp, tham gia thảo luận, quyết định những vấn đề quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá - giáo dục - y tế - thể dục thể thao …, củng cố quốc phòng - an ninh sẽ quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động chung của HĐND. Chính vì vậy, tại Điều 8 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 nêu “Hiệu quả hoạt động của HĐND được bảo đảm bằng hiệu quả của các Kỳ họp HĐND …” 1.2 Hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND: Một nội dung quan trọng của các kỳ họp, góp phần tích cực thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát việc thi hành pháp luật và nghị quyết của HĐND từ phía các cơ quan nhà nước ở địa phương, đó là hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND tại kỳ họp. Theo quy định của pháp luật, đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND và các thành viên khác của UBND cùng cấp, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Chánh án Toà án nhân dân, Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp (Điều 41 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003). Tại kỳ họp, các chất vấn của đại biểu HĐND sẽ được cơ quan, người bị chất vấn trả lời trực tiếp. Nếu cơ quan, người bị chất vấn chưa thể trả lời trực tiếp tại kỳ họp mà cần điều tra, xác minh thêm thì Hội đồng sẽ quyết định cho người bị chất vấn phải trả lời bằng văn bản đến đại biểu đã chất vấn và thường trực HĐND hoặc trả lời chất vấn tại kỳ họp sau. Hoạt động chất vấn có thể thực hiện trực tiếp tại các kỳ họp hoăc trong thời gian giữa các kỳ họp. Trong trường hợp chất vấn được thực hiện trong thời gian giữa các kỳ họp thì đại biểu HĐND gửi chất vấn đến Thường trực HĐND để chuyển đến cơ quan, người bị chất vấn. Về hình thức chất vấn, các đại biểu có thể chất vấn bằng văn bản hoặc bằng miệng. 1.3 Hoạt động tiếp xúc cử tri trước và sau mỗi kỳ họp thường lệ: Theo quy định tại Điều 39 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và Điều 38 của Quy chế Hoạt động của HĐND năm 2005 thì trước và sau mỗi kỳ họp, các đại biểu phải tiếp xúc cử tri. Việc tiếp xúc cử tri trước mỗi kỳ họp của đại biểu là để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng nhân dân nơi đại biểu ứng cử, tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử tri với kỳ họp và với các cơ quan nhà nước cấp trên. Sau kỳ họp, đại biểu phải tiếp xúc cử tri để báo cáo kết quả của kỳ họp, kết quả giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND và vận động nhân dân thực hiện nghị quyết đó. Ngoài ra, mỗi năm một lần vào cuối năm, kết hợp với việc tiếp xúc cử tri, các đại biểu HĐND phải báo cáo với cử tri nơi được bầu kết quả hoạt động của mình và của HĐND trong năm và phương hướng hoạt động trong năm tới. Như vậy, qua xem xét, nghiên cứu các quy định về tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND, chúng ta thấy rằng với hoạt động này sẽ đảm bảo cho các ý kiến, kiến nghị, phản ánh của nhân dân đến được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, qua đó giúp cho các cơ quan nhà nước hoàn thiện hiện thống pháp luật, củng cố tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động; giúp các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội được toàn diện hơn, đảm bảo sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền, các khu vực. Ngoài ra, qua hoạt động tiếp xúc cử tri, các chủ trưởng, chính sách, pháp luật mới và nghị quyết của HĐND đến với nhân dân một cách trực tiếp qua việc phổ biến, giải thích của đại biểu HĐND. Qua đó cũng góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc chấp hành pháp luật. Như vậy, rõ ràng, hoạt động tiếp xúc cử tri có tác dụng 2 chiều: thứ nhất: Giúp các cơ quan nhà nước phát hiện được những thiếu sót, khuyết điểm trong hệ thống chính sách, pháp luật để từ đó kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật; giúp các cơ quan nhà nước phát hiện các khâu yếu kém và kịp thời đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của mình; thứ hai: Thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giải thích về các chủ trương, chính sách, pháp luật mới, Nghị quyết của HĐND, đã góp phần đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật đến với nhân dân một cách trực tiếp, nhanh chóng, tạo thuận lợi cho các chủ trương, chính sách, pháp luật sớm đi vào cuộc sống, đồng thời qua đó nâng cao ý thức pháp luật cho các tầng lớp nhân dân. 1.4 Hoạt động tiếp nhận, xem xét, nghiên cứu, chuyển đơn thư của công dân đến các cơ quan chức năng; theo dõi, đôn đốc quá trình giải quyết đơn thư và báo cáo kết quả giải quyết với công dân: Ngoài các hoạt động như vừa trình bày trên, đại biểu HĐND còn thực hiện việc nhiệm vụ tiếp nhận, xem xét, nghiên cứu và kịp thời chuyển đến các cơ quan thẩm quyền giải quyết; đồng thời theo dõi, đôn đốc quá trình giải quyết và báo cáo kết quả giải quyết đơn thư cho công dân biết (Điều 40 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003). Cơ quan có thẩm quyền giải quyết có trách nhiệm phải báo cáo kết quả giải quyết cho đại biểu HĐND trong thời hạn do luật định. Với quy định này, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được đảm bảo thực hiện, tránh việc các cơ quan có thẩm quyền kéo dài, không giải quyết hoặc chậm trễ trong việc giải quyết, làm ảnh hưởng đến các quyền, lợi ích chính đáng của công dân. Cũng qua hoạt động này, HĐND sẽ thực tốt hơn chức năng giám sát của mình đối với các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác tại địa phương. Ví dụ: Nhà máy mỳ An Khê do không có hệ thống xử lý chất thải nên đã gây ô nhiễm môi trường nước tại khu vực dân cư. Người dân bức xúc, gửi đơn tố cáo đến HĐND thị xã An Khê. Sau khi xem xét, HĐND thị xã An Khê tổ chức đoàn giám sát và đã kết luận tố cáo của người dân là đúng sự thật. Do đó Hồi đồng nhân dân thị xã đã có văn bản yêu cầu Nhà máy Mỳ khắc phục ngay sự việc trên. 2. Hoạt động của Thường trực HĐND: Tuỳ theo cấp hành chính mà cơ cấu của Thường trực HĐND có khác, chẳng hạn Thường trực HĐND cấp xã chỉ có Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, đối với cấp tỉnh và cấp huyện, thì Thường trực HĐND gồm 3 chức danh: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên Thường trực. Thường trực HĐND các cấp hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tổ chức các hoạt động của HĐND, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp. Các thành viên Thường trực HĐND chịu trách nhiệm tập thể về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND; chịu trách nhiệm cá nhân trước Thường trực HĐND về nhiệm vụ, quyền hạn được Thường trực HĐND phân công. Chủ tịch HĐND chỉ đạo hoạt động của Thường trực HĐND cùng cấp; Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch HĐND. Việc phân công nhiệm vụ, quyền hạn cho từng thành viên trong Thường trực HĐND các cấp chưa có quy định cụ thể. Trên thực tế thì việc này do Chủ tịch HĐND phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho từng thành viên. Ví dụ: Chủ tịch HĐND huyện Đak Pơ đã phân công nhiệm vụ, quyền hạn cho từng thành viên như sau Xem Thông báo số 04/TB-HĐ, ngày 13-8-2004 của Thường trực HĐND huyện Đak Pơ v/v phân công nhiệm vụ của TT.HĐND huyện Đak Pơ khóa I, nhiệm kỳ 2004-2009 : * Chủ tịch HĐND huyện: - Lãnh đạo, điều hành mọi công việc của Thường trực HĐND huyện; - Chủ tọa các kỳ họp HĐND; chủ trì và kết luận các cuộc họp của Thường trực HĐND huyện; - Quyết định những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND; - Thường xuyên giữ mối quan hệ với Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh, Thường trực HĐND Huyện ủy, UBND huyện, UBMTTQ huyện, các ban ngành và đoàn thể của huyện; cấp ủy đảng, chính quyền, UBMTTQ và các đoàn thể các xã; các đơn vị quân đội và các ban ngành của TW, của tỉnh đứng chân trên địa bàn huyện; - Quản lý, điều hành kinh phí của HĐND huyện; - Theo dõi lĩnh vực an ninh – quốc phòng và các hoạt động của Ban Pháp chế HĐND huyện, công tác Dân tộc – Tôn giáo. * Phó Chủ tịch HĐND huyện: - Tham mưu giúp Chủ tịch HĐND huyện chỉ đạo, điều phối chung các hoạt động của Thường trực HĐND huyện; - Cùng Thường trực HĐND huyện chủ trì các kỳ họp HĐND huyện, các cuộc họp của Thường trực HĐND huyện khi Chủ tịch vắng mặt hoặc được Chủ tịch ủy quyền; - Phụ trách công tác đối ngoại của Thường trực HĐND huyện; - Theo dõi lĩnh vực kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ và môi trường và các hoạt động của Ban KT-NS HĐND huyện. * Ủy viên thường trực HĐND huyện: - Tham mưu giúp Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thường trực HĐND huyện chỉ đạo, điều phối chung các hoạt động của Thường trực HĐND huyện; - Tham gia chủ tọa các kỳ họp của HĐND huyện cùng với Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; - Tiếp nhận, xử lý các công văn, văn bản đến và đi thuộc phạm vi thẩm quyền của Thường trực HĐND huyện; - Theo dõi, chỉ đạo công tác của Văn phòng HĐND và UBND huyện; - Tổng hợp, trả lời ý kiến, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của cử tri; - Theo dõi, tham mưu cho Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thường trực HĐND huyện quản lý, điều phối kinh phí của HĐND huyện. Do đó, khi đề cập đến hoạt động của Thường trực HĐND các cấp thì điều này cũng có nghĩa là chúng ta đang nói đến hoạt động chung của cả tập thể Thường trực HĐND và hoạt động của từng chức danh trong Thường trực HĐND theo sự phân công của thường trực HĐND. Mặc dù trên lý thuyết là như thế, nhưng trên thực tế thì để hoàn thành nhiệm vụ chung của tập thể Thường trực HĐND thì mỗi thành viên phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công rồi nên việc phân ra hoạt động của Thường trực HĐND và hoạt động của từng thành viên là không cần thiết. Hoạt động của Thường trực HĐND các cấp thể hiện trên các nội dung sau: 2.1 Triệu tập, chủ toạ các kỳ họp của HĐND; phối hợp với UBND cùng cấp trong việc chuẩn bị cho kỳ họp. Theo quy định thì Thường trực HĐND có trách nhiệm phối hợp với UBND cùng cấp trong việc chuẩn bị cho kỳ họp của HĐND; triệu tập và chủ toạ các kỳ họp thường lệ, chuyên đề, đột xuất của HĐND (Điều 53 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003). Nói chung, hoạt động của HĐND các cấp chủ yếu là tại các kỳ họp. Do đó, việc chuẩn bị chu đáo nội dung, chương trình, các báo cáo, dự thảo các văn bản của HĐND, UBND như nghị quyết, đề án …là rất quan trọng. Nếu làm tốt khâu chuẩn bị, kỳ họp sẽ được tiến hành khoa học, trôi chảy, chất lượng và hiệu quả ….Còn ngược lại, sẽ ảnh hưởng kho nhỏ đến hiệu quả hoạt động của HĐND. 2.2 Kiểm tra, đôn đốc UBND, các cơ quan nhà nước khác tại địa phương trong việc thực hiện Nghị quyết của HĐND. Có thể nói đây là hoạt động khá quan trọng của Thường trực HĐND các cấp. Bởi vì, HĐND thường lệ chỉ họp 2 kỳ họp trong năm, do đó hoạt động giám sát việc thực hiện nghị quyết của HĐND cũng không thể duy trì thường xuyên được mà chủ yếu tập trung tại kỳ họp. Chính vì vậy, trong thời gian giữa các kỳ họp, hoạt động giám sát của HĐND do Thường trực HĐND, các ban của hội đồng, các đại biểu HĐND thực hiện. 2.3 Giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương: Trước hết cần lưu ý rằng nội dung này khác với nội dung vừa trình bày trên. Nội dung trên đề cập đến hoạt động giám sát việc thực hiện các Nghị quyết do chính HĐND ban hành, còn nội dung này đề cập đến hoạt động giám sát việc thi hành pháp luật nói chung. Bao gồm giám sát việc thi hành Hiếp pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTV Quốc hội, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, quyết định, chỉ thị thông tư của các Bộ và quyết định, chỉ thị của UBND cấp trên. Như vậy, xét về nội dung giám sát thì hoạt động này rất rộng, trên tất cả các lĩnh vực. Trước đây (trước khi Quốc hội thông qua Nghị quyết số 10/2001/QH10, ngày 25/12/2001 của Quốc hội khoá 10 về việc sửa đổi Hiếp pháp năm 1992), chức năng giám sát việc thi hành pháp luật thuộc HĐND các cấp và của Viện Kiểm sát các cấp. Tuy nhiên, hiện nay, Viện Kiểm sát các cấp chỉ còn chức năng kiểm sát việc thi hành pháp luật trong hoạt động tư pháp nên hoạt động giám sát chung tại địa phương do HĐND các cấp thực hiện. Việc HĐND các cấp thực hiện tốt chức năng này sẽ góp phần đảm bảo sự chấp hành nghiêm pháp luật từ phía các cá nhân, cơ quan, tổ chức, góp phần củng cố nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, thông qua đó đảm bảo bình đẳng xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân. Mặc dù vậy, như trên đã đề cập, HĐND các cấp hoạt động không thường xuyên nên phần lớn hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc vào hiệu quả, chất lượng hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND. Ví dụ: Từ năm 2004 đến nay, trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã và đang thực hiện Chương trình 134, 135 của Chính phủ, nếu trong quá trình triển khai thực hiện, HĐND các cấp thực hiện chức năng giám sát không sát, không tốt thì rất có thể ở một nơi nào đó, một khâu nào sẽ thực hiện không đúng, dẫn đến một vài nội dung của các Chương trình trên không đạt yêu cầu (thí vụ: việc xây nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn về nhà ở hay việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã vùng 3 không đảm chất lượng …). 2.4 Điều hoà, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND, xem xét kết quả giám sát của các Ban và báo cáo cho HĐND khi cần thiết: Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc điều hoà, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND, trong đó tập trung vào một số hoạt động sau: - Phân công cho các Ban thẩm tra các dự thảo nghị quyết, báo cáo, tờ trình, đề án trình do UBND và các ngành trình ra kỳ họp của HĐND. - Phân công cho các Ban đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của HĐND và các công việc khác. - Phân công cho các Ban một số nội dung trong chương trình giám sát của HĐND thông qua và Thường trực HĐND. - Điều hoà, phối hợp chương trình hoạt động của các Ban; đôn đốc các Ban hoạt động. - Xem xét kết quả giám sát của các Ban, trong trường hợp cần thiết thì báo cáo với HĐND để HĐND xem xét, quyết định. - Tổ chức tập huấn, trao đổi kinh nghiệm hoạt động của các ban nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Ban. 2.5 Giữ mối quan hệ với đại biểu HĐND, các Tổ đại biểu HĐND; tổng hợp chất vấn của đại biểu để báo cáo HĐND: - Đôn đốc các Tổ đại biểu HĐND tổ chức để đại biểu HĐND tiếp xúc cử tri, thu thập ý kiến, nguyện vọng của cử tri. - Tổ chức cho đại biểu HĐND tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ, nghiên cứu, quán triệt các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐND, các chủ trương, chính sách của nhà nước. - Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chính sách, chế độ đối với đại biểu HĐND. - Theo dõi, đôn đốc, tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri do các tổ đại biểu HĐND chuyển đến để chuyển đến các cơ quan nhà nước, các tổ chức hữu quan nghiên cứu giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết; báo cáo trước HĐND những ý kiến, kiến nghị đó và kết quả giải quyết của các cơ quan, tổ chức hữu quan. 2.6 Hoạt động tiếp dân, tiếp nhận, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân: Ngoài hoạt động giám sát, công tác phối hợp chuẩn bị các kỳ họp của HĐND, Thường trực cũng có giống như UBND, phải tổ chức hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận ý kiến, kiến nghị, đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân và chuyển cho các cơ quan hữu quan để giải quyết, đồng thời có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, xem xét tình hình giải quyết đơn thư và báo cáo kết quả giải quyết cho công dân và HĐND. Với hoạt động này của Thường trực HĐND đã góp phần tích cực trong việc giám sát tình hình giải quyết đơn thư của công dân từ phía các cơ quan, tổ chức hữu quan, hạn chế tình trạng trì trệ, chậm trễ thậm chí kéo dài thời hạn giải quyết đơn thư từ phía các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết. Qua thực tế cho thấy hằng năm, thường trực HĐND

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTieu Luạn.doc
  • docBia Tieu Luan.doc
  • docChương 1.doc
  • docDanh muc Tai lieu Tham khao.doc
  • dochuong dan.doc
  • docLoi Cam on.doc
  • docLoi noi dau.doc
  • docMỤC LỤC.doc
  • docPhụ lục 1.doc
  • docPhụ lục 2.doc
  • docPhụ lục 3.doc
  • docPhụ lục 4.doc
Tài liệu liên quan