Tiểu luận Tổng quan về amiang

MỤC LỤC:

A Mở đầu 1

B Nội dung 2

I Tổng quan về amiang 1

1. Khái niệm 1

2. Tính chất và phân loại 1

2.1 Tính chất 2

2.2 Phân loại 3

2.3 Phân bố 6

3. Môi trường chứa amiang 7

3.1 Môi trường nước 7

3.2 Môi trường không khí 8

3.3 Môi trường đất 9

II Tính nguy hại của amiang 9

1. Bệnh bụi amiang 9

1.1 Dịch tể học 9

1.2 Bệnh học 10

1.3 Sinh bệnh học 10

1.4 Triệu chứng lâm sàng 11

1.5 Chuẩn đoán 11

1.6 Điều trị và tiên lượng 11

2. Các bệnh khác do bụi amiang gây ra 12

III. Tấm lợp A-C và vấn đề môi trường 15

1. Tấm lợp A-C 15

2. Xử lý môi trường 16

2.1 Bụi 16

2.2 Chất thải rắn 17

2.3 Nước thải 18

3. Một số vấn đề vệ sinh lao động trong sản xuất tấm lợp amiang-ximang ở Việt Nam hiện nay 19

3.1 Một số nội dung vệ sinh lao động doanh nghiệp đã thực hiện được 19

3.2 Một số vấn đề tồn tại 20

4. Nguyên nhân tồn tại 21

5. Biện pháp khắc phục 22

 

doc30 trang | Chia sẻ: netpro | Ngày: 19/04/2013 | Lượt xem: 2598 | Lượt tải: 15download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Tổng quan về amiang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thường xuyên với bụi amiăng chrysotile nồng độ lớn, thiếu các biện pháp bảo hộ hiệu quả có thể mắc bệnh nghề nghiệp – bệnh bụi phổi.Vì vậy ,việc sử dụng amiăng chrysotile phải được kiểm soát, nồng độ bụi phải được khống chế thấp hơn tiêu chuẩn cho phép. Công ước 162 và bản hướng dẫn 172 về “An toàn trong sử dụng amiăng “năm 1986 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), cho phép sử dụng amiăng chrysotile với những biện pháp kiểm soát và bảo vệ sức khoẻ người lao động. 2.2.2 Nhóm Amphiboles: Là một nhóm khoáng chất có cấu trúc silicat, trong đó các khối tứ diện SiO4 liên kết với nhau bằng cách phân chia chung các oxy để tạo ra các mạch thẳng dài vô hạn. Chúng tồn tại phổ biến dưới dạng khoáng chất trong đá như các loại đá biến chất và đá hỏa thành. Nhóm Amphiboles hiện còn khoảng hơn 60 loại khác nhau được ghi nhận và hầu hết là chúng có thành phần hóa học khác nhau. Công thức chung: XY2Z5(Si, Al, Ti)8O22(OH,F)2 X: đại diện cho các ion Na+ hoặc K+. Y: đại diện cho các ion như Na+, Ca2+, Fe2+, Li+, Mn2+, Al3+, Mg2+, Zn2+, Ni2+, Co2+. Z: đại diện cho các ion như Fe3+, Mn2+, Cr3+, Al3+, Ti4+, Fe2+, Li2+, Mn2+. Một số loại khoáng thuộc nhóm này: Amosite: 5,5FeO1,5MgO8SiO2H2O( amiang nâu) Actinolite: Ca2(Mg, Fe2+)5Si8O22(OH)2 Anthophyllite: (Mg, Fe)7Si8O22(OH)2 Arfvedsonite:Na3(Fe2+)4Fe+3Si8O22(OH)2 Crocidolite:Na2Fe3+Si8O22(OH)2 Cummingtonite: Mg7Si8O22(OH)2 Edenite:NaCa2Mg5Si8O22(OH)2 Fluorrichterite:Na(NaCa)MgSi8O22F2 Glaucophane:Na2(Mg3Al2)Si8O22(OH)2 Hornblende: Ca2(Mg,Fe2+)4(Al,Fe3+)Si7AlO22(OH)2 Riebeekite: Na2Fe+23FE+3Si8o22(oh)2 Tremolite: Ca2Mg5Si8O22(OH)2 Trong đó thì Crocidolite( amiang xanh) là loại khoáng màu xanh, là hỗn hợp silicat với natri và sắt. sợi khoáng này có độ cứng cao khi bề ngoài của nó bóng nhẵn và có nhiều màu sắc óng ánh, đó là cấu trúc sợi của nó. Do đó loại đá này chủ yếu được làm đồ trang sức. Do thành phần hóa học và cấu tạo dạng thẳng, hình kim, chu kỳ bán tiêu hủy chậm, nên các sợi thuộc nhóm amphibole có thể là nguyên nhân gây ra ung thư và ung thư trung biểu mô gây hại cho con người. Công ước 162 của Tổ chức Lao Động Quốc Tế (ILO) cấm sử dụng hoàn toàn amiăng Amphibole màu nâu và màu xanh. Hầu hết các nước trên thế giới đều cấm sử dụng amiăng amphibole. 2.3 Phân bố: Amiang được tìm thấy tại nhiều nơi trên thế giới như châu Phi, Úc, Canada, Nga, Mỹ và Trung Quốc. Thông thường, Amiang tồn tại trong các loại đá như đá serpentine, đá mafic, đá siêu mafic, đá đôlômít biến dạng, chất xâm nhập kiềm và carbonate. Ở dạng tự nhiên, amiang nằm sâu trong các lớp đất đá. Trên thực tế, người ta tìm thấy amiang trong số hai phần ba lượng đá trên toàn thế giới. Amiang được phát hiện tại 20 bang của Mỹ trong đó quá trình khai thác đang diễn ra tại 17 bang bao gồm khu vực Appalachian, California và Oregon. Amiang cũng được khai thác nhiều tại Quebec, British Columbia, Nga, Ý, Hy Lạp và đảo Sýp. Khai thác amiang tại Nga năm 2005 chiếm 40% sản lượng khai thác trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, sản lượng khai thác tại Trung Quốc và Kazakhstan cũng chiếm một con số đáng kể. Tại Ấn Độ, người ta vẫn khai thác tremolite với số lượng nhỏ. Tại Việt nam, phát hiện 17 điểm quặng Amiang ở các tỉnh Cao Bằng, Hòa Bình, Sơn La, Thanh Hóa, Phú Thọ với tổng chữ lượng khoảng 0,37 triệu tấn nhưng chất lượng kém. Phần lớn là Amiang amphibole và một lượng nhỏ Amiang chrysotile (amiang trắng) nên không có giá trị thương mại. Bản đồ phân bố Amiang trên thế giới 3. Môi trường chứa amiang: 3.1 Môi trường nước: 4.1.1 Môi trường nước biển: Cùng với sự phát triển của con người thì vấn đề giải quyết rác thải là vấn đề đang được quan tâm. Giải pháp cho việc xử lý các rác thải này là xử lý chúng rồi thải xuống biển tạo thành các “đá ngầm nhân tạo” vừa giải quyết được rác thải vừa tạo được nơi cư ngụ cho các sinh vật thủy sinh ở đây. Nhưng một vấn đề được đặt ra đó là việc phát thải amiang từ các thiết bị của ôtô sau khi thải xuống biển. thông tin này có từ một bản báo cáo của tổ chức làm sạch môi trường biển COA gởi tới tổ chức GTFAR. Trong cuộc họp, vấn đề quan tâm lớn nhất đó là sự hiện diện của aminang trong “đá ngầm nhân tạo” và đánh giá mức độ nguy hiểm của amiang đối với môi trường nước biển. COA đã bày tỏ quan tâm đến mối quan hệ giữa amiang trong nước biển và những hoạt động của con người. Có rất nhiều những nghiên cứu về ảnh hưởng của amiang đến sinh vật biển. theo Batterman, A.R., P.M Cook, 1981 “ xác định nồng độ của sợi khoáng amiang trong các mô ở cá”. Nghiên cứu này chỉ ra rằng: tiêu hóa là con đường chính gây nên sự tích lũy amiang và được giữ lại chủ yếu trong các mô thận của cá. Nguyên nhân là những sinh vật này đã ăn những thức ăn có amiang. Belanger, S.E, D.S Cherry, J Cairns(1990): “ Sự suy yếu về chức năng và những bệnh lý của loài cá Medaka, Nhật Bản khi tiếp xúc với amiang trắng trong một thời gian dài”. Theo nghiên cứu này đã chỉ ra rằng sợi amiang là một tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước cần quan tâm… 4.1.2 Môi trường nước uống: Hầu hết mọi người đã nhận thấy được sự nguy hiểm do hít phải những sợi amiang trong các tấm lợp hay vật liệu cách ly… Nhưng hiện nay, amiang được phát hiện trong nước và có nguy cơ gây nguy hiểm đến sức khỏe con người. amiang là một loại sợi khoáng được sử dụng làm vật liệu cách nhiệt, tăng độ kết dính trong ximang và trong các đường ống dẫn nước. Amiang thường được tìm thấy trong một vài loại đá, giếng nước và ở bề mặt gần những mỏ khai thác amiang đang hoạt động. Amiang có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, hoặc đường miệng. Khi nước di chuyển trong các ống bằng ximang, sự ăn mòn có thể giải phóng nhiều sợi amiang từ thành ống, những sợi amiang sẽ được mang đến vòi nước. Không thể phát hiện amiang trong nước bằng các giác quan mà tốt nhất là phân tích chất lượng nước. 3.2 Môi trường không khí: Đa phần những sợi amiang tồn tại trong không khí đều do các thiết bị chứa amiang phóng thích ra. Những thiết bị có thể chứa amiang bao gồm: Ống dẫn hơi nước, nồi đun, ống dẫn nhiệt của các lò sưởi thường phủ một lớp amiang. Những thiết bị này có thể phóng thích ra những sợi amiang trong không khí khi chúng bị hư hỏng. sữa chữa, vứt bỏ không đúng cách. Vật liệu lót sàn có tính đàn hồi( nhựa vinyl, nhựa đường, cao su) Những vật liệu cách nhiệt của lò sưởi và lò gốm như tấm lợp, bìa cứng, giấy. việc sửa chữa hoặc vứt bỏ các thiết bị trên có thể làm phát tán sợi amiang. Miếng đệm ở cửa của những lò sưởi điện, lò sưởi bằng củi và than khi bị mòn, hỏng chúng có thể phát thải những sợi amiang. Vật liệu cách âm hoặc vật liệu để trang trí nhà cửa như sơn, vôi, bột trét tường. khi không còn khả năng bám dính, chúng sẽ bị vỡ vụn và gây ô nhiễm. Tấm lợp, ván ốp tường và lớp ván gỗ của giàn khung là những sản phẩm hầu như không phát tán bụi amiang trừ khi chúng ta cưa, khoan hoặc cắt nó ra. Tàn tro hay than nhân tạo được bán cho những vật phẩm cũ trong nhà như: găng tay chịu nhiệt, máy sấy tóc…có thể có chứa amiang. Những miếng đệm trong bộ phận hãm của xe ôtô, vỏ xe. 3.3 Môi trường đất: Amiang tồn tại trong đất xây dựng, đất nông nghiệp, đất tại khu vực khai thác mỏ…Việc kiểm soát amiang trong đất rất khó thực hiện. Làm sạch đất ô nhiễm quanh các mỏ và nhà máy amiang còn khó hơn nhiều việc dỡ các tấm amiang ra khỏi các ta nhà. III. TÍNH NGUY HẠI CỦA AMIANG: 1. Bệnh bụi amiang: 1.1 Dịch tể học: Bệnh bụi amiang là một viêm phổi mô kẽ và xơ hóa do tiếp xúc với những sợi amiang, gặp ở 10%công nhân làm các vật liệu cách ly có chứa amiang với thời gian tiếp xúc từ 10-19 năm, ở 73%tiếp xúc từ 20-29 năm, và ở 92% có thời gian tiếp xúc từ 40 năm trở lên. Một mối quan hệ liều lượng phản ứng tương tự cũng được được tìm thấy trong ngành kỹ nghệ ximang có chứa amiang. Ở Việt Nam, trong những công nhân tiếp xúc bụi trên 10 năm ở một nhà máy ngói ximang, đã phát hiện có 4,5% bị bệnh bụi amiang. 1.2 Bệnh học: Đặc điểm về phương diện bệnh học của bệnh bụi amiăng là sự xơ hóa mô kẽ, sự gia tăng số lượng thể amiăng màu nâu đỏ và những sợi amiăng không bị bao bọc. Thể màu nâu đỏ là những sợi amiăng được bao bọc chất sắt protein . Bệnh bụi amiăng thường bắt đầu dưới màng phổi, ở vùng đáy phổi. Nếu tiến triển, nó có thể xơ hóa lan tỏa cả hai phổi. Ở những giai đoạn cuối, phổi có thể có hình dạng lỗ chỗ như tổ ong, và có thể không phân biệt được về phương diện X-quang với những dạng xơ mô kẽ khác. Những nghiên cứu gần đây gợi ý rằng phản ứng tạo xơ với những sợi amiăng hít vào đã bắt đầu ngay trong vài giờ tiếp xúc, sau đó là thương tổn hóa học, cơ học, viêm, miễn dịch qua trung gian đại thực bào ở mức độ tế bào phế nang. Hút thuốc lá có thể ành hưởng đến bệnh bụi amiăng. Những người hút thuốc lá hoặc đã bỏ thuốc lá có một tỉ lệ xuất hiện những hình mờ trên phim lồng ngực có liên quan đến bụi amiăng cao hơn so với những đồng nghiệp không hút. Tương tự, tỉ lệ tử vong do bệnh bụi amiăng ở những công nhân tiếp xúc với amiăng có hút thuốc cao hơn những đồng nghiệp không hút thuốc. Nguy cơ giảm nếu người công nhân bỏ thuốc. Cơ chế liên hệ giữa amiăng và hút thuốc lá chưa rõ. Tuy vậy, khói thuốc lá có thể can thiệp vào việc làm sạch amiăng hít vào, gây tăng hậu quả trên phổi của bụi. 1.3 Sinh bệnh học: Các sợi amiăng thường lắng đọng ở các chỗ chia đôi của khí đạo, ở các tiểu phế quản hô hấp và ở các phế nang, sau đó chúng di chuyển vào mô kẽ, một phần thông qua một tiến trình có liên quan đến các tế bào biểu mô phế nang type I, điều này làm huy động các đại thực bào gây ra viêm phế nang đại thực bào. Sau đó, hầu như các sợi này bị quét sạch, không để lại dấu vết gì. Nhưng nếu sự làm sạch đó không hoàn toàn, tiến trình xơ hóa có thể xảy ra. Mức độ xơ hóa trong bệnh bụi amiăng, nói chung, có liên quan đến lượng bụi phổi. Nếu số lượng này nhỏ, phản ứng mô có thể giói hạn, bệnh có thể nhẹ và không tiến triển. Nếu lượng bụi này lớn, phản ứng mô và viêm phế nang đại thực bào nặng nề hơn, thương tổn lớn hơn, bệnh phổi tiến triển và mãn tính có thể phát triển. 1.4 Triệu chứng lâm sàng: Khó thở khi gắng sức là triệu chứng sớm nhất, gần như hằng định, và luôn luôn là triệu chứng trầm trọng nhất của bệnh bụi amiăng. Kèm theo có ho kéo dài, có thể do co thắt phế quản, và khạc đàm. Có thể có khò khè, ít gặp cảm giác ép ngực. Các ran thường có ở hai bên phổi, từ cuối cho đến toàn thì hít vào, nghe rõ nhất ở vùng đáy phổi, phía sau và không mất khi ho. Ngón tay dùi trống. Trong bệnh bụi amiăng, phim X-quang lồng ngực trước-sau tiêu chuẩn cho thấy những hình mờ lưới-nốt hai bên, chiếm ưu thế ở những vùng phổi dưới, có hoặc không kèm theo dày màng phổi .Phân loại X-quang Quốc tế về Bệnh Bụi phổi năm 1980 của Tổ chức Lao động Quốc tếá (ILO) đã trình bày những đề mục cho việc đọc phim X-quang bệnh bụi amiăng; tuy nhiên, việc thiếu những bằng chứng rõ ràng vẫn không loại trừ được chẩn đoán. Một số nghiên cứu bệnh học lâm sàng đã chứng minh bệnh bụi amiăng trên sinh thiết phổi ở 10 – 20% bệnh nhân có hình ảnh X-quang lồng ngực bình thường. Chụp cắt lớp điện toán với lát cắt mỏng, độ phân giải cao (HRCT) có thể cung cấp những bằng chứng khách quan về bệnh mô kẽ trên các đối tượng có X-quang lồng ngực bình thường, hoặc nghi ngờ, hoặc có bất thường nhu mô nhẹ. Năm biểu hiện HRCT của bệnh bụi amiăng đã được xác định là: đường cong dưới màng phổi, các vàch trong thùy gia tăng, các bóng mờ phụ thuọc, các dãi nhu mô cùng các cấu trúc lõi liên thùy, và hình tổ ong. Các xét nghiệm chức năng phổi có thể cho thấy một tổn thương hạn chế với sự sút giảm các thể tích phổi (đặc biệt là dung tích sống gắng sức và tổng dung tích phổi), khả năng khuếch tán CO, và giảm Ôxygen máu động mạch. Tắc nghẽn khí đạo nhẹ cũng có thể được phát hiện ở những người mắc bệnh bụi amiăng không hút thuốc lá. Chức năng phổi của những bệnh nhân này thường biểu hiện một thương tổn hạn chế, gia tăng thể tích đồng lưu và một sự gia tăng kháng lực ngược dòng. Sinh thiết phổi mở gợi ý tình trạng tắc nghẽn có thể do xơ hóa quanh tiểu phế quản vì có sự thâm nhiễm quanh tiểu phế quản của các đại thực bào và sự xơ hóa lan tỏa vào mô kẽ xung quanh. Như vậy, không có gì đáng ngạc nhiên là ở những mức độ nhẹ hơn của bệnh bụi amiăng lại biểu hiện bất thường hỗn hợp giữa hạn chế và tắc nghẽn. Bất thường sớm nhất của xét nghiệm chức năng phổi là giảm compliance (nghĩa là độ cứng gia tăng). Xét nghiệm gắng sức giúp xác định bệnh phổi có biểu hiện lâm sàng trên những cá nhân có khó thở mà chức năng phổi tương đối bình thường. 1.5 Chuẩn đoán: Một chẩn đoán bệnh bụi amiăng trên bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng nêu trên đòi hỏi phải có: Một tiền sử tiếp xúc với amiăng ở một mức độ đủ để bệnh nhân có nguy cơ phát triển hội chứng này: thời gian bắt đầu tiếp xúc, tổng thời gian tiếp xúc, loại và mức độ tiếp xúc; thường thời gian tiếp xúc từ 10 – 20 năm đủ để gây bệnh. Phải chứng tỏ có xơ phổi. Phim X-quang lồng ngực trước-sau là yếu tố quan trọng nhất trước đây.Khi thay đổi trên phim X-quang và xét nghiệm chức năng phổi không giúp chẩn đoán chắc chắn, người ta dùng CT. scanner, phương tiện này thường cho thấy các đặc điểm nhu mô bất thường, các mãng ở màng phổi và/hoặc sự xơ màng phổi. Những thương tổn này, nhất là khi có cả hai bên, là những gợi ý rất giá trị về sự tiếp xúc với amiăng. Sinh thiết phổi mở được chỉ định khi bệnh nhân không có tiền sử tiếp xúc đầy đủ với amiăng, hoặc khi các triệu chứng lâm sàng không rõ ràng. 1.6 Điều trị và tiên lượng: Những nguyên nhân chính gây hoành hành triệu chứng và tử vong ở những bệnh nhân mắc bệnh bụi amiăng là do sự tiến triển của bệnh phổi có sẵn, sự phát triển của ung thư phổi và u trung biểu mô ác tính. Những nghiên cứu dọc trên những nhân viên mậu dịch có tiếp xúc với amiăng cho thấy chức năng phổi bị giảm nhanh chóng. Hiện chưa có phương cách điều trị bệnh bụi amiăng, nhưng cũng cần theo dõi các bệnh nhân này do các nguy cơ mắc ung thư phổi và trung biểu mô. 2. Các bệnh khác liên quan đến amiang: Amiăng là một chất sinh ung thư phổi chuyên biệt. Những công nhân không hút thuốc có tiếp xúc với amiăng có nguy cơ tử vong do ung thư phổi cao gấp 5 lần so với những công nhân không hút thuốc khác. Những công nhân có tiếp xúc với amiăng hút thuốc lá một gói một ngày có nguy cơ cao gấp 90 lần so với những công nhân khác không tiếp xúc với amiăng và không hút thuốc. Bụi amiăng là tác nhân gây bệnh quan trọng nhất của u trung biểu mô. Dù chưa xác định được cụ thể, người ta cho rằng có một ngưỡng tiếp xúc với amiăng cần thiết để tạo ra u trung biểu mô. Hút thuốc lá không phải là một yếu tố nguy cơ. Sự tiếp xúc với amiăng có tính chất nghề nghiệp, như trong ngành dệt, khai thác mỏ, làm vật liệu cách ly, công ngiệp xây dựng, hoặc do môi trường đối với người sống gần các mỏ khai thác và xay nghiền amiăng. Tiếp xúc với amiăng còn xảy ra khi các thành viên trong gia đình của những công nhân làm việc với amiăng đụng chạm vào quần áo của họ. Kích thước của sợi có lẽ quan trọng trong sinh u trung biểu mô vì người ta tìm thấy những sợi dài và nhỏ sinh u nhiều hơn là những sợi dày và ngắn mặc dù mọi loại amiăng đều có thể sinh u trung biểu mô. Thời gian trung bình giữa tiếp xúc và biểu hiện bệnh là 29 năm đối với những công nhân làm việc tại công xưởng và là 48 năm đối với các tiếp xúc do môi trường sống. Nguy cơ u trung biểu mô gia tăng theo thời gian tiếp xúc với amiăng. Bệnh màng phổi hay “xơ màng phổi” là thể thường gặp nhất của tổn thương phổi có liên quan với amiăng. Về phương diện bệnh học, người ta nhận thấy có những vùng sẹo màng phổi khu trú (mãng màng phổi) có thể có đóng vôi. Những mãng màng phổi thường ở hai bên có liên quan đến 1/3 giữa và dưới của lồng ngực. Những mãng này thường được tìm thấy trên bề mặt lá thành màng phổi và không gây bất thường trên xét nghiệm chức năng phổi. Những mãng màng phổi lớn có thể đưa đến bệnh phổi hạn chế đặc biệt nếu có sẵn bệnh ở nhu mô phổi. Dày màng phổi lan tỏa là một tiến trình riêng biệt đưa đến dày hoặc xơ hai lá màng phổi. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều các bằng chứng khoa học chứng minh các bệnh về phổi liên quan đến amiăng đều có ngưỡng nhất định. Việc sử dụng một cách có kiểm soát amiăng chrysotile (amiăng trắng) không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Không thể phủ nhận sự tích tụ của sợi có thể dẫn đến quá trình ủ và hình thành bệnh. Những nghiên cứu mới nhất đều nhận định rằng nguy cơ hình thành bệnh là rất thấp dù con người có tiếp xúc một lượng lớn sợi chrysotile trong thời gian ngắn. Trong khi hầu hết các sợi tự nhiên và nhân tạo hít vào phổi đều bị đào thải ra ngoài, thì vẫn có một số loại khác “trú ngụ” lại trong phổi. Những loại sợi này sẽ tích tụ và là nguyên nhân dẫn đến các bệnh u, viêm. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hít thở, tăng khả năng dẫn đến ung thư phổi. nhưng các sợi khi vào phổi bị đào thải nhanh chóng lại giảm đáng kể nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Sự tồn tại hay bị loại bỏ trong cơ thể cũng như trong môi trường của sợi được gọi là “Độ bền sinh học”. Tính trơ của sợi khi tồn tại trong phổi bị coi là nguyên nhân chính cho những những căn bệnh tiềm tàng nguy hại. Liên minh Châu Âu chỉ rõ trong điều 97/69/EC, mục phân loại hàng hóa, đóng gói và dán nhãn các chất nguy hại rằng chúng phải được kiểm tra một cách cẩn thận nhằm đánh giá và phân lọai các sợi.   Amiang trắng bị đào thải nhanh chóng ra khỏi phổi. Những thí nghiệm gần đây nhất trên động vật được tiến hành nghiêm ngặt (theo quy chuẩn của Liên minh Châu Âu) từ năm 2003 đến 2006 tại các nước Brazil, Canada và Mỹ. Kết luận nêu rõ sau khi hít phải sợi amiang trắng, sợi sẽ nhanh chóng thải ra khỏi phổi trong khoảng thời gian 10 ngày. Còn đối với các loại sợi amiang thuộc nhóm amphibole (amiăng nâu và xanh), chúng sẽ tích tụ và tồn đọng trong thời gian dài, có thể là 1 năm hoặc hơn thế. Thử nghiệm dựa trên động vật là minh chứng củng cố mạnh mẽ cho những phân tích từ trước đên nay của các nhà nghiên cứu khoa học. Hơn thế nữa, nó cũng khẳng định chắc chắn những công bố trong tài liệu của Hodgson và Darnton (2000) rằng các sợi amiăng thuộc nhóm amphibole có nguy hại gấp 100 lần so với amiang trắng. Dẫn chứng cũng chỉ rõ quá trình tích tụ của amiang thấp hơn rất nhiều so với hầu hết các loại sợi công nghiệp khác (sợi xenlulo, sợi gốm, sợi len). Những nghiên cứu, minh chứng về bệnh tật, tử vong, và các bệnh bụi phổi đã nhận định rõ khả năng gây bệnh từ amiang trắng thấp hơn rất nhiều so với các sợi amiang thuộc nhóm amphibole (amiăng nâu và xanh). Có không dưới 25 báo cáo trong vòng 25 năm trở lại đã chỉ ra sự khác biệt về độ trơ sinh học cũng như khả năng tiềm ẩn của amiang trắng so với các loại amiang khác. Một trong số những nghiên cứu quan trọng được thực hiện bởi Liddell, McDonald & McDonald vào năm 1997. Kết quả nhận định: không có bằng chứng nào chứng minh việc tiếp xúc với amiăng trắng ở mức độ (1sợi/ml, trong trung bình 8 tiếng) làm tăng nguy cơ ung thư phổi. Đó cũng là kkhuyến cáo được đưa ra bởi nhóm các chuyên gia thuộc Tổ chức Y tế thế giới tại Oxford (1989).  IV. TẤM LỢP A-C VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG 1. Tấm lợp A-C: Ngành Công nghiệp Tấm lợp Fibrô -ximăng thâm nhập vào VN từ những năm 1966 - 1968 với 2 nhà máy Tấm lợp Biên Hòa tỉnh Đồng Nai và nhà máy Tấm lợp Thủ Đức - Tp. Hồ Chí Minh. Dây chuyền sản xuất của 2 nhà máy đều mua của Pháp - Ý, sợi amiăng nhập từ các nước Châu Âu. Tổng công suất ban đầu của 2 nhà máy là trên 6 triệu m2/ năm. Ngày nay đã lên đến 16 triệu m2/năm. Trong 6 năm đầu thế kỷ 21 lại có thêm 16 cơ sở sản xuất Tấm lợp A-C tiếp tục xuất hiện, hầu hết là của tư nhân, nâng số lượng nhà máy lên 41, phân bố trên 23 tỉnh thành với 70 dây chuyền, công suất 100 triệu m2/ năm. Các nguyên liệu chính để sản xuất tấm lợp fibrô-ximăng là sợi amiăng, ximăng (với tỷ lệ 1:10) và một vài phụ gia như bột giấy, sợi thủy tinh. Nguyên liệu chính dùng trong sản xuất tấm lợp AC Đơn vị tính: Tấn TT NĂM VẬT LIỆU 2005 2006 2007 1 Amiăng Chrysotile AC 57.776 61.862 59.186 2 Ximăng 708.428 724.801 740.836 3 Bột giấy 2.300 2.355 2.675 4 Sợi Thủy tinh 430 840 1.250 Amiăng được sử dụng nhiều nhất là trong ngành công nghiệp composit amiăng-ximăng, chiếm 90% sản lượng amiăng toàn thế giới. Các nhà máy sản xuất Tấm lợp A-C Việt nam đều áp dụng công nghệ ướt của Haasheck- chuyên gia người Áo đề ra năm 1950, rất ít phát tán bụi . Hơn bất kỳ loại sợi nào khác, sợi amiăng có diện tích phủ rộng, dai, trương nở lớn và đồng tương thích với ximăng (kiềm tính) nên khi được khuấy trộn với ximăng trong nước, sợi amiăng sẽ bám dính các hạt ximăng tạo ra huyền phù rất tốt thuận lợi cho quá trình xeo thành tấm. Sau 28 ngày dưỡng hộ tấm A-C hoàn toàn đông cứng, đạt cường độ tối đa, có thể cung cấp cho người tiêu dùng . Thực hiện công ước 162 tháng 6 năm 1986 của Tổ chức Lao động Thế giới ILO, Chính phủ VN chỉ cho phép sử dụng amiăng AC ( amiăng trắng) thuộc nhóm Secpentile, có kiểm soát và nghiêm cấm việc nhập khẩu sử dụng amiăng nhóm amphibol (amiang xanh, nâu) theo Thông tư liên tịch số 1529 ngày 17.10.1998 của Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên Môi trường và đặc biệt là QĐ 133/2004/ TTg của Chính Phủ. 2. Xử lý môi trường: Trong qúa trình sản xuất tấm lợp thì thải ra các chất thải nguy hại ảnh hưởng đến môi trường. Dưới sự chỉ đạo của chính phủ, ngành tấm lợp không ngừng đầu tư thiết bị và công nghệ mới để xử lý môi trường. và dưới đây là một số giải pháp mà các nhà máy sử dụng để xử lý môi trường: 2.1. Bụi: Chủ yếu phát sinh trong giai đoạn nghiền AC và trộn phối liệu. Các giải pháp đã thực hiện để hạn chế bụi : TT CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ LÀM Số đơn vị Tỷ lệ % 1 Làm ẩm AC trước khi vận chuyển và mở bao 42/42 100 2 Nghiền AC và trộn phối liệu ở dạng kín, có nắp đậy 35/42 83 3 Lọc bụi bằng máy Cyclon và lọc bụi tay áo ở nơi nghiền 25/42 60 4 Dùng máy tự động xé bao AC 2/42 7 5 Nạp ximăng rời tư xilô bằng vít tải kín 24/42 57 6 Phun sương khu vực sản xuất 32/42 76 7 Trồng cây xanh trong khu vực nhà máy 35/42 83 Ngoài ra, Hiệp hội đã kết hợp với Viện máy - Bộ CN chế tạo gần 20 máy tạo sóng bằng hút chân không, theo mô hình của Pháp – Ý đang được dùng ở công ty Đồng Nai và Nam Việt nhưng có cải tiến, làm giảm 50% nhân công và hạn chế tối đa sự tiếp xúc của người lao động đối với xi măng và amiang trong công đoạn này. 2.2 Chất thải rắn: Chủ yếu là ba-via ( chất thải còn ướt), mảnh vỡ và chất lắng đọng khi vệ sinh máy( chất thải khô), chất thải rắn thường chiếm 1-2 % nguyên liệu đầu vào, khoảng 6.000 tấn/năm. TT CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN SỐ ĐƠN VỊ TỶ LỆ % 1 Thu gom chất thải ướt để tái SXTL 42/42 100 2 Nghiền Chất thải khô để làm gạch block hay chất độn Klinke XM 23/42 58 3 Chôn lấp 10/42 24 Vừa qua, theo đề xuất của Hiệp hội Tấm lợp VN, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa Bộ NN & PTNT đã nghiên cứu su dung làm chất cải tạo đất ở Thái Bình. Ban đầu có kết quả tốt. 2.3 Nước thải Chủ yếu từ vệ sinh máy và dưỡng hộ sản phẩm. Các giải pháp đã thực hiện để hạ thấp pH và chất lơ lửng để tái sử dụng: TT Các giải pháp đã thực hiện Số đơn vị Tỷ lệ % 1 Làm hệ thống bể lọc để tái sử dụng 36/42 86 2 Sục khí CO2 từ lò vào bể chứa nước thải hoặc dùng H2SO4để hạ pH xuống < 9 32/42 76 Hàng năm các nhà máy sản xuất Tấm lợp fibro-ximăng đều có mời Cơ quan quản lý Môi trường của Tỉnh về đo kiểm tra môi trường. Hầu hết các thông số như tiếng ồn, mật độ bụi, nồng độ pH của các nhà máy đều đạt tiêu chuẩn quy định của Nhà nước. Từ lâu, ngành Tấm lợp ximăng-sợi (Fibrôximăng) đã tiến hành thí nghiệm với các loại sợi hữu cơ như gai đay, bột giấy, xơ dừa nhưng kết quả không thành công, khả năng chịu lực của các sợi này kém và độ thấm nước của chúng rất cao nên thời gian sử dụng ngắn. Từ 1995 đến nay, Nhà nước đã đầu tư nghiên cứu sử dụng các loại sợi tổng hợp để làm tấm lợp. Dựa vào kinh nghiệm của các nước Châu Âu, Việt Nam đã thử nghiệm với 2 loại sợi là thủy tinh và sợi PVA. Sau nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học VN đã đưa ra một quy trình công nghệ hợp lý, để sản xuất Tấm lợp Ximăng - PVA. Sản phẩm đã ra đời và được cơ quan Nhà nước thẩm định nhưng giá thành cao (trên 40%) và thời gian sử dụng chưa được kiểm định, nhưng chắc chắn là ngắn hơn tấm lợp AC nên rất khó tiêu thụ. Trong mấy năm qua, ngành Tấm lợp A-C nhìn chung đã có nhiều tiến bộ trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và xử lý môi trường đạt chỉ tiêu quy định của Nhà nước. 3. Một số vấn đề vệ sinh lao động trong sản xuất tấm lợp amiang-ximang ở Việt Nam hiện nay: Amiang được xếp vào bảng độc hại có yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh lao động của Việt Nam. Hiện Việt Nam vẫn cho phép sử dụng amiang để sản xuất tấm lợp theo hướng “sử dụng có kiểm soát” theo Công ước quốc tế 162. Năm 2008 Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có kế hoạch thanh tra 14/40 doanh nghiệp sản xuất tấm lợp amiăng - xi măng và đến nay đã tiến hành được 8 doanh nghiệp. Qua thanh tra 8 cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng - xi măng, Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thấy có một số ưu điểm và tồn tại cần khắc phục về vệ sinh lao động như sau: Một số nội dung vệ sinh lao động doanh nghiệp đã thực hiện được Hầu hết các doanh nghiệp đều chấp hành việc báo cáo đánh giá

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTổng quan về amiang.doc