Tiểu luận Tranh chấp thương mại và các phương thức giải quyết

Về thẩm quyền giải quyết của trọng tài : Điều 2 Luật trọng tài thương mại quy định gồm có : Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài. Một tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài ngoài điều kiện trên còn phải đáp ứng điều kiện giữa các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài. Luật Trọng tài thương mại đã khắc phục những tồn tại của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003: khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài đối với các tranh chấp thương mại, trên cơ sở đó bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành. Luật TTTM đã dỡ bỏ hạn chế của Pháp lệnh TTTM về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thương mại của Trọng tài thông qua việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên (Điều 2 Luật TTTM). Đây là một trong những điểm mới quan trọng nhất của Luật TTTM so với Pháp lệnh TTTM và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn sử dụng Trọng tài của các nước trên thế giới.

doc15 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 22/08/2013 | Lượt xem: 3326 | Lượt tải: 49download
Tóm tắt tài liệu Tiểu luận Tranh chấp thương mại và các phương thức giải quyết, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
giải, trọng tài hoặc tòa án theo quy định của pháp luật…” Các Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam – Ấn Độ, Việt Nam – Bungari, Việt Nam – Lào…đều khuyến khích việc sử dụng các phương thức giải quyết ngoài tòa án như là những phương thức giải quyết phù hợp với các bên tranh chấp. Như vậy, cả pháp luật trong nước lẫn điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, ký kết đều đã ghi nhận thương lượng, hòa giải là những phương thức giải quyết tranh chấp thương mại giữa các bên song còn nhiều nội dung liên quan chưa được quy định cụ thể. Chủ thể của thương lượng, hòa giải Chủ thể của hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại bằng các phương thức thương lượng, hòa giải là các nhà kinh doanh hoặc đại diện ủy quyền, các nhà thương nhân. Các nhà kinh doanh khi tham gia hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, khi có tranh chấp xảy ra, họ là người đầu tiên có trách nhiệm xử lý, giải quyết. Tuy nhiên, khi các tranh chấp thương mại phát sinh không nhất thiết phải do các đại diện có thẩm quyền của các bên đứng ra giải quyết mà có thể có cơ chế ủy quyền. Các bên tranh chấp cần có các nhà thương lượng để thay mặt, giúp đỡ họ trong quá trình thương lượng, đó là những người đủ các phẩm chất cần thiết để thực hiện nhiệm vụ thương lượng của mình. Chủ thể của hoạt động giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa giải còn là người trung gian – hòa giải viên. Đó là các cá nhân, pháp nhân được các bên yêu cầu đứng ra làm trung gian hòa giải để giải quyết tranh chấp. Pháp luật hiện chưa có quy định về phẩm chất, điều kiện cần có của một nhà thương lượng, một hòa giải viên, tuy nhiên nếu họ là luật sư hay hòa giải viên thì phải đáp ứng được điều kiện được quy định trong điều 10 Luật luật sư 2006 và Điều 12 Pháp lệnh trọng tài Thương mại 2003. Điều kiện của thương lượng, hòa giải: Các bên đương sự được đảm bào quyền tự định đoạt, có quyền tự thương lượng, hòa giải với nhau mà không bị giới hạn bởi điều luật nào, nếu không thành thì sẽ được giải quyết bằng con đường trọng tài hay tòa án. Điều kiện để thương lượng, hòa giải một tranh chấp thương mại, trước hết phải xem xét thỏa mãn : có tranh chấp thương mại xảy ra, các bên mong muốn loại bỏ mâu thuẫn, khắc phục tổn thất, tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác và các bên đều có tinh thần thiện chí, nhân nhượng, tôn trọng và giữ gìn uy tín cho nhau. Các tranh chấp sử dụng phương thức này thường có giá trị nhỏ, ít phức tạp, chưa trở nên gay gắt, các bên hiểu về nhau, sẵn sàng nhân nhượng và duy trì mối quan hệ lâu dài. Nói vậy không có nghĩa là các tranh chấp phức tạp, giá trị tài sản lớn, liên quan đến nhiều tổ chức, quốc gia thì không thể thương lượng hòa giài mà vấn đề là các bên phải có thiện chí hợp tác mà mong muốn dùng phương pháp này để giải quyết nhanh chóng các tranh chấp đó. Phương pháp thương lượng, hòa giải: Pháp luật không có quy định nào về phương pháp tiến hành thương lượng, hòa giải, nhưng trên thực tế chủ thể có thể tiến hành các phương pháp như: - Chủ động khai thác yếu tố tâm lý, tình cảm; khéo léo thuyết phục, khuyên nhủ; mềm mỏng, kiên trì, sáng tạo; phân tích rõ lợi hại, cho thấy thiện chí đôi bên…Điều này làm cho các bên ôn hòa, nhường nhịn, thông cảm cho nhau, dễ tìm được tiếng nói chung để giải quyết tranh chấp. Nhanh chóng đưa ra được nhiều phương án giải quyết để các bên cùng lựa chọn, quyết định; dành cho nhau những khoảng thời gian hợp lý để chọn được phương án tối ưu, biết dung hòa các lợi ích khác biệt, đáp ứng mong muốn của cả đôi bên. Kết hợp đàm phán trực tiếp với việc đưa ra các tài liệu, dẫn chứng. Điều này thể hiện việc giải quyết tranh chấp linh động, khôn khéo, vừa có lý vừa có tình, tạo ra sự tin tưởng và tính thuyết phục đối với mỗi bên. Luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các bên cùng được thể hiện quan điểm, nguyện vọng, ý tưởng của mình để dễ dàng hơn trong việc tìm ra tiếng nói chung và đi đến thống nhất, có như vậy vụ tranh chấp mới được giải quyết nhanh chóng và thỏa đáng. Nội dung của thương lượng, hòa giải: Có thể nêu ra một số công việc cần tiến hành như : xác định trách nhiệm cụ thể đối với các bên; xác định những biện pháp chế tài nếu một bên hoặc các bên không thực thi đầy đủ kết quả thương lượng, hòa giải đã thống nhất. Ngoài ra, các bên có thể phải tiến hành nhiều công việc khác tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể. Mọi công việc tiến hành không trái đạo đức xã hội, không gây tổn hại cho bất kỳ ai. Hiệu lực của thương lượng, hòa giải: Thương lượng, hòa giải là các phương thức giải quyết tranh chấp trên cơ sở tự nguyện của các bên. Biên bản thỏa thuận, hòa giải không phải là một bản án nên việc thực hiện phương án thương lượng, hòa giải mà các bên đã đạt được không mang tính cưỡng chế. Đây là điểm làm hạn chế hiệu lực thi hành các kết quả thu được từ quá trình giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải. Về vấn đề này, pháp luật hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ. Ưu, nhược điểm: Thương lượng: Ưu điểm nổi bật của phương thức giải quyết này là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém. Mặt khác, giải quyết tranh chấp bằng thương lượng còn bảo vệ uy tín cho các bên tranh chấp cũng như bí mật kinh doanh của các nhà kinh doanh. Các nhà kinh doanh hơn ai hết tự biết bảo vệ quyền lợi của bản thân, hiểu rõ những bất đồng và nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên quá trình đàm phán, thương lượng dễ hiểu và cảm thông với nhau hơn để có thể thỏa thuận các giải pháp tối ưu theo nguyện vọng mỗi bên mà không phải cơ quan tài phán nào cũng làm được. Bởi vậy, nếu thương lượng thành công không những các bên đã loại bỏ được những bất đồng phát sinh mà mức độ phương hại đến mối quan hệ kinh doanh giữa các bên cũng thấp, tăng cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau trong tương lai. Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế nhất đinh. Thương lượng thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết, thái độ thiện chí, hợp tác của các bên. Khi một hoặc các bên thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực đang tranh chấp, không nhận thức được vị thế của mình, khả năng thắng thua nếu phải theo đuổi vụ kiện tại cơ quan tài phán hoặc không có thái độ nỗ lực hợp tác, thiếu sự thiện chí, trung thực trong quá trình thương lượng thì khả năng thành công là rất mong manh, kết quả thường bế tắc. Hòa giải: Ưu điểm của phương thức hòa giải là đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, sự linh hoạt, hiệu quả, ít tốn kém. Hòa giải còn có thêm ưu điểm vượt trội do người thứ ba (thường là người có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, am hiểu lĩnh vực đang tranh chấp) mang lại. Họ sẽ là người biết cách làm cho ý chí của các bên dễ gặp nhau trong quá trình đàm phán để loại trừ tranh chấp. Trường hợp các bên tranh chấp khả năng nhận thức hạn chế trong lĩnh vực đang tranh chấp thì dùng phương thức hòa giải sẽ có khả năng thành công cao hơn thương lượng. Kết quả hòa giải được ghi nhận và chứng kiến của người thứ ba nên mức độ tôn trọng và tuân thủ các cam kết đạt được trong quá trình hòa giải cũng cao hơn. Hạn chế của hòa giải là dù có sự trợ giúp của người thứ ba làm trung gian mà một bên không trung thực, thiếu sự thiện chí, hợp tác trong quá trình đàm pashn thì hòa giải cũng khó có thể đạt được kết quả mong đợi. Ngoài ra, chính phải sử dụng đến bên trung gian nên uy tín, bí mật kinh doanh cũng dễ bị ảnh hưởng hơn quá trình thương lượng. Bên cạnh đó, chi phí cho quá trình giải quyết bằng hòa giải cũng tốn kém hơn do phải trả phí cho bên trung gian. Trọng tài thương mại: Giới thiệu chung về phương thức trọng tài thương mại: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán phi chính phủ do các đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại. Trọng tài chính là bên trung gian thứ ba được các bên tranh chấp chọn ra để giúp các bên giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ trên cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên. Cũng giống như thương lượng và hòa giải, phương thức trọng tài bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sử tự nguyện. Để đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết các bên phải có thoả thuận trọng tài. Sau khi xem xét sự việc, trọng tài có thể đưa ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên. Nhằm khuyến khích các bên sử dụng Trọng tài trong giải quyết các tranh chấp thương mại và các tranh chấp khác, nhà nước đã ban hành một đạo luật mới về trọng tài thương mại - Luật Trọng tài thương mại để thay thế Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 trên cơ sở kế thừa những chế định tiến bộ, phù hợp kết hợp với những quy định mới, hoàn chỉnh hơn. Hình thức tồn tại: Trọng tài thương mại tồn tại dưới 2 hình thức: trọng tài vụ việc (trọng tài ad – hoc) và trọng tài vụ việc. Trọng tài vụ việc: Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp. Bản chất của trọng tài vụ việc thể hiện qua các đặc trưng cơ bản: Một là, trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong tranh chấp; Hai là, trọng tài vụ việc không có cơ sở thường trực, không có bộ máy điều hành, không có danh sách trọng tài viên; Ba là, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình. Ưu thế của trọng tài vụ việc là có thể giải quyết nhanh chóng và ít tốn kém vì nó vẫn chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của các bên tranh chấp; quyển lựa chọn trọng tài viên của các bên không bị giới hạn bởi danh sách trọng tài viên như trọng tài quy chế; các bên tranh chấp có quyền rộng rãi trong việc xác định quy tắc tố tụng để giải quyết tranh chấp giữa các bên, khi nếu lựa chọn hình thức trọng tài quy chế, các bên sẽ bị ràng buộc bởi quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài. Trọng tài quy chế: Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của Luật trọng tài thương mại và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó. Luật trọng tài thương mại sử dụng thuật ngữ trọng tài quy chế để thay cho khái niệm Hội đồng trọng tài được thành lập tại Trung tâm trọng tài. Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định. Các trung tâm trọng tài có một số các đặc trưng cơ bản: là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nươc; có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau; tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ; luật mới cho phép các Trung tâm trọng tài được ban hành quy tắc tố tụng trọng tài phù hợp với quy định của Luật và đảm bảo đặc thù của mỗi Trung tâm để tăng thêm tính hấp dẫn đối với các bên tranh chấp, mỗi trung tâm tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố tụng riêng; và hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các trọng tài viên của trung tâm. Các nguyên tắc tố tụng trọng tài: Một là, nguyên tắc thỏa thuận trọng tài. Điều 3 khoản 2 Luật trọng tài quy định: “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”. Điều 5 khoản 1 luật trọng tài quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.” Thỏa thuận trọng tài được xem là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc áp dụng phương thức trọng tài. Không có thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, và thỏa thuận này có thể được ghi trong hợp đồng hoặc là thỏa thuận riêng, có thể là một phụ lục đính kèm tại thời điểm ký hợp đồng hoặc được các bên ký kết sau khi phát sinh tranh chấp. Quy định như vậy là thông thoáng, linh hoạt cho các bên khi lựa chọn. Hai là, nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan. Khoản 2 điều 4 Luật trọng tài thương mại quy định: “Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật.” Điều 42 quy định về việc thay đổi Trọng tài viên: “1. Trọng tài viên phải từ chối giải quyết tranh chấp, các bên có quyền yêu cầu thay đổi Trọng tài viên giải quyết tranh chấp trong các trường hợp sau đây:a) Trọng tài viên là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên; b) Trọng tài viên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp; c) Có căn cứ rõ ràng cho thấy Trọng tài viên không vô tư, khách quan; d) Đã là hòa giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản.2. Kể từ khi được chọn hoặc được chỉ định, Trọng tài viên phải thông báo bằng văn bản cho Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài và các bên về những tình tiết có thể ảnh hưởng đến tính khách quan, vô tư của mình.” Ba là, nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật. Trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp, tư tưởng chỉ đạo đối với trọng tài viên là pháp luật, nếu trọng tài viên không căn cứ vào pháp luật, nhận hối lộ, có hành vì vi phạm đạo đức trọng tài bên thì các bên có quyền yêu cầu đổi trọng tài. Chỉ có dựa vào pháp luật, trọng tài viên mới giải quyết được tranh chấp một cách chính xác, công bằng và hợp lý. Bốn là, nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên tranh chấp. Trong quá trình giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài, các bên có quyền quyết định hoặc thỏa thuận quyết định về những vấn đề liên quan tới tranh chấp. Đây là nguyên tắc cốt lõi của toàn bộ quá trình tố tụng vì thực chất sự hình thành trọng tài là do ý chí tự nguyện của cấc bên đương sự. Năm là, nguyên tắc giải quyết một lần. Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, và chỉ bị hủy theo quyết định của Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài. Luật mới hạn chế nguy cơ phán quyết của Trọng tài bị Tòa án tuyên hủy bởi quy định không phù hợp của Pháp lệnh TTTM như quy định về quyền của một bên được gửi đơn lên Toà án yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu “không đồng ý với quyết định trọng tài”, bởi vì các quy định này của Pháp lệnh đã làm cho tố tụng trọng tài trở nên rất rủi ro và làm mất đi tính chung thẩm của phán quyết trọng tài mà pháp luật của hầu hết các nước đều công nhận. Thẩm quyền của trọng tài Về thẩm quyền giải quyết của trọng tài : Điều 2 Luật trọng tài thương mại quy định gồm có : Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài. Một tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài ngoài điều kiện trên còn phải đáp ứng điều kiện giữa các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài. Luật Trọng tài thương mại đã khắc phục những tồn tại của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003: khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài đối với các tranh chấp thương mại, trên cơ sở đó bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành. Luật TTTM đã dỡ bỏ hạn chế của Pháp lệnh TTTM về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thương mại của Trọng tài thông qua việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên (Điều 2 Luật TTTM). Đây là một trong những điểm mới quan trọng nhất của Luật TTTM so với Pháp lệnh TTTM và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn sử dụng Trọng tài của các nước trên thế giới. Khi các bên đã thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài, họ trao cho trọng tài thẩm quyền giải quyết tranh chấp và phủ định thẩm quyền xét xử đó của tòa án trừ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc các bên hủy thỏa thuận trọng tài. Thủ tục tố tụng trọng tài Thủ tục tố tụng trọng tài được Luật trọng tài thương mại quy định có sự khác nhau giữa hai phương thức trọng tài là trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế. Những nội dung cơ bản của thủ tục tố tụng trọng tài bao gồm: Khởi kiện và thụ lý đơn kiện Thông báo đơn khởi kiện Bị đơn gửi bản tự bảo vệ. Bị đơn gửi đơn kiện lại nguyên đơn (có thể có hoặc không) Thành lập hội đồng trọng tài Chuẩn bị giải quyết tranh chấp Hòa giải Phiên họp giải quyết tranh chấp Ra quyết định trọng tài. Thi hành quyết định trọng tài Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài, tuy nhiên nếu hết thời hạn thi hành phán quyết mà các bên không tự nguyện thi hành, cũng không yêu cầu hủy phán quyết thì luật quy định bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài. Việc đảm bảo thi hành trên thực tế quyết định trọng tài bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước là yếu tố quyết định khắc phục những hạn chế của phương thức tài phán trọng tài. Ưu, nhược điểm: Giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài có nhiều ưu điểm: thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng; các bên tranh chấp có khả năng tác động đến quá trình trọng tài; khả năng chỉ định trọng tài viên giúp cho các bên lựa chọn được trọng tài viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp qua đó có điều kiện giải quyết tranh chấp nhanh chóng, chính xác; nguyên tắc trọng tài không công khai giúp cho các bên hạn chế sự tiết lộ bí mật kinh doanh, giữ được uy tín của các bên trên thương trường. Trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước nên rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, việc giải quyết bằng trọng tài cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định: trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước vì vậy cso thể gặp khó khăn trong quá tình giải quyết tranh chấp như xác minh, thu thập chứng cứ, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời… Tòa án: Giới thiệu chung về phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án: Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.Việc giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án không những phải tuân thủ các quy định về thẩm quyền khá rắc rối mà còn phải tuên theo một thủ tục rất nghiêm ngặt của luật tố tụng. Việc giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại tòa án bao gồm nhiều quy định khác nhau. Khi có tranh chấp, người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nếu muốn tòa án bảo vệ quyền và lợi ích cho mình thì phải gửi đơn kiện đến đúng cấp tòa án có thẩm quyền. Tòa án sẽ xem xét vụ việc và xét xử theo thủ tục sơ thẩm và ra bản án sơ thẩm. Nếu các bên không đồng ý với bản án sơ thẩm thì có quyền kháng cáo yêu cầu tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Việc giải quyết tại tòa án còn có thể được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm và giám đốc thẩm. Thẩm quyền của Tòa án: Thẩm quyền của Tòa án về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại được phân định theo vụ việc, theo cấp tòa án, theo lãnh thổ, theo sự lựa chọn của nguyên đơn và đã được quy định củ thể trong BLDS. Ở đây ta xem xét khía cạnh thẩm quyền của tòa án theo vụ việc. Điểm b tiểu mục 1.1 Mục 1 phần I Nghị quyết số 01/20056/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 31/3/2005 về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phán những quy định chung của BLTTDS 2004 thì tòa kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo quy định tại Điều 29 BLTTDS, cụ thể là những tranh chấp kinh doanh, thương mại sau: Thứ nhất, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, bao gồm 14 lĩnh vực: ký, gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biên; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác. Thứ hai, tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Trong trường hợp này cần phân biệt hai loại tranh chấp. Một là, tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty: là các tranh chấp về vốn góp của mỗi thành viên đối với côn g ty; về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối với mỗi công ty cổ phần; về quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp của công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc nghĩa vụ chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về yêu cầu công ty đổi các khoản nợ hoặc thanh toán các khoản nợ của công ty, thanh lý tài sản và thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thể công ty; về vấn đề khác liên quan đến thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức công ty. Hai là, tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau: là các tranh chấp về việc trị giá phần vốn góp vào công ty giữa thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên của công ty hoặc về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty của thành viên công ty đó cho người khác không phải là thành viên công ty; về việc chuyển nhượng cổ phiếu không ghi tên và cổ phiếu có ghi tên; về mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành và trái phiếu của công ty cổ phần hoặc về quyền sở hữu tài sản tương ướng với số cổ phiếu của thành viên công ty; về quyền được chia lợi nhuận và về nghĩa vụ chịu lỗ, thành toán nợ của công ty; về việc thanh lý tài sản, phân chia nợ giữa các thành viên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Thứ ba, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Với vaai trò quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc BLTTDS quy định tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ là một loại tranh chấp kinh doanh, thương mại là phù hợp và cần thiết. Thứ tư, các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định. Xuất phát từ hoạt động kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường rất đa dạng, phức tạp nên các tranh chấp thương mại cũng phong phú, đa dạng. Vì vậy các nhà làm luật khó có thể liệt kê được mọi tranh chấp kinh doanh, thương mại. Mặt khác, để phù hợp với tính lạc hậu của pháp luật với tư cách là bộ phận của kiến trúc thượng tầng so với cơ sở hạ tầng, các nhà làm luật đã đưa ra quy định các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại. Đây là quy định mở, mang tính dự phòng và đón đầu của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội luôn biến động đặc biệt là các quan hệ kinh doanh và các tranh chấp kinh doanh, thương mại. Hiện nay, những tranh chấp trong kinh doanh, thương mại khác mà chưa xác định là loại tranh chấp nào, chúng sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án cấp tỉnh hay cấp huyện cũng chưa được pháp luật đề ra những tiêu chí nhất định. Do đó, để hạn chế sự chồng chéo và đùn đẩy lẫn nhau giữa tòa án các cấp, ngay từ bây giờ cần phải có quy định cụ thể về vấn đề này theo hướng các tranh chấp khác nếu phát sinh trên thực tế sẽ do tòa án nhân dân cấp tỉn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docKhái quát về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại theo quy định của pháp luật hiện hành.doc
Tài liệu liên quan