Tiểu luận Vận dụng lý luận về hàng hoá vào sự phát triển thị trường hàng hoá

MỤC LỤC

 

LỜI NÓI ĐẦU 1

NỘI DUNG:

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ 2

1) Lý luận của MAC-LÊNIN về sự phát triển sản xuất hàng hoá 2

1.1. Sự ra đời của sản xuất hàng hoá.2

1.2. Hàng hoá.5

1.3. Kinh tế hàng hoá.6

2. Những ưu điểm của kinh tế hàng hoá 6

II. THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ 7

1. Phát triển kinh tế hàng hoá theo hướng mở rộng quan hệ kinh nước ngoài 7

2. Thực trạng thị trường kinh tế hàng hoá ở các quốc gia.8

3. Những giải pháp cụ thể.10

3.1 Đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá thị trường.10

3.2 Đẩy mạnh quá trình phân công lao động xã hội.11

3.3 Tạo lập phát triển đồng bộ yếu tố thị trường.11

3.4 Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.12

3.5 Gĩư ổn định chính trị,pháp luật.12

3.6 Đào tạo các nhà quản lý giỏi.13

3.7 Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.13

4. Đối với Việt Nam.14

III. Kết luận.14

 

 

 

doc15 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 11286 | Lượt tải: 58download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Vận dụng lý luận về hàng hoá vào sự phát triển thị trường hàng hoá, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ THÔNG QUA SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ. 1. Lý luận của chủ nghĩa Mac- Lênin về sự phát sinh phát triển của sản xuất hàng hoá. 1.1. Sự ra đời của sản xuất hàng hoá. * Quá trình chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá sản xuất tự cung tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế đầu tiên mà loài người sử dụng để giải quyết vấn đề để sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai. Sản xuất tư cung tự cấp là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó sản phẩm của người lao động làm ra được dùng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của nội bộ từng hộ gia đình, từng công xã hay từng cá nhân riêng lẻ. Sản xuất tự cung tự cấp còn được gọi là sản xuất tự cấp tự túc hoặc kinh tế tự nhiên. Đây là kiểu tổ chức sản xuất khép kín nên nó thường gắn với sự bảo thủ, trì trệ, nhu cầu thấp, kỹ thuật thô sơ lạc hậu. Nền kinh tế tự nhiên tồn tại ở các giai đoạn phát triển thấp của xã hội (công xã nguyên thủy, nô lệ, phong kiến). Tuy nhiên, khi lực lượng sản xuất phát triển cao, phân công lao động được mở rộng thì dần dần xuất hiện trao đổi hàng hoá. Khi trao đổi hàng hoá trở thành mục đích thường xuyên của sản xuất thì sản xuất hàng hoá ra đời. * Sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để bán trên thị trường. Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sản xuất phân phối - trao đổi - tiêu dùng; sản xuất ra cái gì, như thế nào và cho ai đều thông qua việc mua bán, thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định. Cơ sở kinh tế - xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá là phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa người sản xuất này và người sản xuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định. Phân công lao động xã hội là việc phân chia người sản xuất vào các ngành nghề khác nhau của xã hội. Hoặc nói cách khác đó là chuyên môn hoá sản xuất. Do phân công lao động, xã hội nên mỗi người chỉ sản xuất một hay một vài sản phẩm nhất định. Song, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của mọi người đều cần có nhiều loại sản phẩm. Vì vậy họ đòi hỏi phải có mối liên hệ trao đổi sản phẩm cho nhau, phụ thuộc vào nhau. Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài. Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản đơn dựa trên kỹ thuật thủ công và lạc hậu. Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, sản xuất hàng hoá giản đơn chuyển thành sản xuất hàng hoá quy mô lớn. Quá trình chuyển biến này diễn ra trong thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản. * Thị trường và cơ chế thị trường. Ngày nay sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội phổ biến để phát triển kinh tế của một quốc gia. Sản xuất hàng hoá luôn gắn chặt với thị trường. Vậy thị trường là gì? Thị trường là một lĩnh vực trao đổi hàng hoá mà trong đó các chủ thể kinh tế thường cạnh tranh với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá làm ra. Thị trường thường được gắn với một địa điểm nhất định như chợ, cửa hàng, văn phòng giao dịch... thị trường hoạt động dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự do: thuận mua vừa bán. Thị trường đầu vào của sản xuất bao gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, sức lao động... Thị trường đầu ra bao gồm: lương thực, thực phẩm và những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó các vấn đề kinh tế được giải quyết thông qua thị trường (mua bán và trao đổi hàng hoá), cơ chế thị trường hoàn toàn đối lập với nền kinh tế tự nhiên. Trong cơ chế thị trường người sản xuất và người tiêu dùng thường tác động lẫn nhau để giải quyết 3 vấn đề trung tâm của một tổ chức kinh tế: sản xuất ra cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Trong thị trường có 3 yếu tố chính: hàng hoá, tiền tệ, người mua bán. Động lực hoạt động của con người trong cơ chế thị trường là lợi nhuận, nó bị chi phối bởi một số quy luật như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ. Ưu thế của sản xuất hàng hoá. Thứ nhất, sự phát triển của sản xuất hàng hoá làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá ngày càng tăng,mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ. Từ đó, nó xoá bỏ tính tự cấp tự túc, bảo thủ trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình xã hội hoá sản xuất và lao động. Thứ hai, tính cách biệt kinh tế đòi hỏi người sản xuất hàng hoá phải năng động trong sản xuất, kinh doanh để sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Muốn vậy, họ phải ra sức cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến quy cách, mẫu mã hàng hoá, tổ chức tốt quá trình tiêu thụ... Từ đó làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Thứ ba, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, với quy mô ngày càng lớn làm cho hiệu quả kinh tế đối với xã hội ngày càng cao và ưu thế của nó so với sản xuất nhỏ ngày càng tăng lên về quy mô, trình độ kỹ thuật và khả năng thoả mãn nhu cầu sản xuất hàng hoá quy mô lớn góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế ở trong nước và nước ngoài, hội nhập với nền kinh tế thế giới. Với những tác dụng kể trên, hiện nay trên thế giới có rất nhiều nước (trong đó có Việt Nam) đã và đang tập trung cho việc phát triển kinh tế hàng hoá.Là bước ngoặt để tập trung mở rộng thị trường hàng hoá. 1.2. Hàng hoá. Hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và được và được sản xuất ra để bán. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Trong đó giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên, còn giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hoá. Hai thuộc tính này là hai mặt đối lặp cùng tồn tại trong hàng hoá. Cũng từ hai thuộc tính ấy mà lao động sản xuất hàng hoá mang tính hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng. * Giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng là những công dụng khác nhau của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên của nó mang lại. Giá trị tự sử dụng của vật phẩm được thể hiện ra khi ta mang tiêu dùng chúng. Khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày càng phát triển dần dần người ta tìm thấy thêm được nhiều thuộc tính có ích. Giá trị sử dụng của hàng hoá rất phong phú, vừa thoả mãn nhu cầu về vật chất, của thoả mãn nhu cầu về mặt tinh thần. Nó là một phạm trù vĩnh viễn nhưng trong nền kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng đồng thời là vật mang tính giá trị trao đổi. Giá trị hàng hoá là một phạm trù rất trừu tượng vì nó là thuộc tính xã hội của hàng hoá và muốn hiểu được giá trị hàng hoá ta phải xuất phát từ việc nghiên giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lượng mà một giá trị tự sử dụng này trao đổi với một giá trị tự sử dụng khác. Ví dụ như 1 Rìu= 20 kg thóc Hai hàng hoá có còng dụng khác nhau mà được đem ra trao đổi với nhau là do chúng có một thuộc tính chung duy nhất, chúng đều là sản phẩm của lao động của con người. Việc trao đổi hàng hoá chính là việc trao đổi lao động của người sản xuất hàng hoá được kết tinh trong hàng hoá. Thông qua trao đổi chúng ta phát hiện ra thuộc tính thứ hai của hàng hoá, đó là giá trị. Vậy thực thể của giá trị hàng hoá là lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá. * Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá. Lao động cụ thể: là lao động được tiến hành dưới một hình thức nhất định, có mục đích, phương pháp hoạt động, đối tượng và kết quả riêng biệt. Lao động trừu tượng: Đó là sự hao phí lao động nói chung của người sản xuất hàng hoá (hao phí sức thần kinh và sức cơ bắp). Khi có những lao động nào sản xuất ra hàng hoá thì mới quy thành lao động trừu tượng. Không phải có hai thứ lao động cùng kết tinh trong hàng hoá mà là lao động sản xuất hàng hoá mang tính hai mặt. 1.3. Kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó hình thái phổ biến của sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm để bán để trao đổi trên thị trường. Kinh tế hàng hoá đối lập với kinh tế tự nhiên và kinh tế chỉ huy. Khi sản xuất hàng hoá, lượng sản phẩm hàng hoá lưu thông trên thị trường ngày càng dồi dào, phong phú, thị trường được mở rộng, khái niệm thị trường được hiểu ngày đầy đủ hơn. Đó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ làm môi giới. Ở đây người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường. 2. Những ưu điểm của kinh tế hàng hoá. So với kinh tế tự nhiên, một loại hình kinh tế còn in đậm dấu vết ở nước ta, kinh tế hàng hoá có những ưu thế sau. Một là, thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất nhanh chóng, làm cho sự phân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất càng sâu sắc, hình thành các mối liên hệ kinh tế và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp và người sản xuất, tạo tiền đề cho sự hợp tác lao động ngày càng chặt chẽ. Hai là, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, buộc người sản xuất phải năng động, luôn cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm, nâng cao nâng suất lao động, cải tiến chất lượng và hình thức mẫu mã cho phù hợp với nhu cầu xã hội... Kết quả là thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, gắn sản xuất với thị trường. Ba là, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập chung sản xuất. Mở rộng giao lưu kinh tế trong nước và hội nhập thế giới. Có tác dụng lớn trong việc tuyển chọn các doanh nghiệp và cac cá nhân quản lý kinh doanh giỏi. Bốn là, giải phóng các mối quan hệ kinh tế ra khỏi sự trói buộc của nền sản xuất khép kín đã từng kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, tạo những điều kiện cần thiết cho việc tổ chức và quản lý một nền kinh tế phát triển ở trình độ cao thực hiện dưới hình thức quan hệ hàng hoá tiền tệ. Cơ chế thị trường tự điều tiết kinh tế rất linh hoạt, mềm dẻo, uyển chuyển. Tạo môi trường kinh doanh và gia tăng động lực phát triển kinh tế xã hội mà thành tựu đạt được là đưa nước ta ra khỏi thời kỳ khủng khoảng và suy thoái kéo dài. Tuy nhiên, kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật của nó. trên thị trường chưa đựng tính tự phát, chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, mất cân đối. Vì chạy theo lợi nhuận, các nhà sản xuất kinh doanh có thể gây nhiều hậu quả sấu, môi trường bị huỷ hoại, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, phá sản, thất nghiệp, phân hoá xã cao, lợi ích công cộng bị coi nhẹ, các vấn đề công bằng xã hội không được bảo đảm, tệ nạn xã hội tăng v.v... Vì vậy, để phát huy ưu thế, khắc phục những khuyết tật của nó, cần phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước. II) THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ Ở MỖI QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI. 1. Phát triển kinh tế hàng hoá theo hướng mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài. Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá đã làm phá vỡ các mối quan hệ kinh tế truyền thống của nền kinh tế khép kín, kém phát triển, bảo thủ, trì trệ. Đặc biệt đến giai đoạn tư bản chủ nghĩa sự phát triển của kinh tế hàng hoá đã làm cho thị trường dân tộc hoạt động gắn bó với thị trường thế giới. Việc mở rộng quan hệ hợp tác với nước ngoài là tất yếu vì sản xuát và trao đổi hàng hoá tất yếu vượt qua phạm vi quốc gia, mang tính chất quốc tế, đồng thời đó cũng là tất yếu sự phát triển nhu cầu. Biệt lập trong sự phát triển kinh tế dẫn đến đói nghèo. Do đó mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài dưới nhiều dạng khác nhau đối với nước ta như là một tất yếu trong sự phát triển, khi trình độ khoa học kỹ thuật của thế giới cho phép đáp ứng nhu cầu cả về sản xuất lần tiêu dùng. Thông qua mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài để biến nguồn lực bên ngoài thành nguồn lực bên trong. Mở rộng quan hệ kinh tế với nước bằng nhiều hình thức như tăng cường hoạt động ngoại thương, hợp tác, liên doanh, liên kết đề thu hút vốn đầu tư cho nước ta. Gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực. Tranh thủ nắm bắt những mặt hàng mũi nhọn có tương lai, gắn với công nghệ mới, tiến tới có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới., nhanh chóng đưa nền kinh tế nước mình hội nhập vào nhịp điệu của nền kinh tế thế giới. Việc “mở cửa” về kinh tế phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đảm bảo chủ quyền và cũng có lợi. 2. Thực trạng kinh tế hàng hoá ở hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay. Nền kinh tế thị trường thế giới đang từng bước phát triển đặc biệt đối với các nước đang trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH .Tuy nhiên nó không phải là một liều thuốc vạn năng,song song với những ưu điểm nó vẫn còn tồn tại những khuyết điểm,cụ thể nó mang những đặc điểm sau: Một là, kinh tế thị trường bao gồm nhiều loại hình đan xen nhau: nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức sở hữu khác nhau tham gia vào nền kinh tế thị trường. Mỗi kiểu hàng hoá, tham gia vào nền kinh tế thị trường có những nét đặc thù về bản chất kinh tế - xã hội và trình độ phát triển, nhưng nó đều là các bộ phận khác nhau của nền kinh tế quốc dân thống nhất. Bởi vậy chúng ta vừa hợp tác, vừa cạnh tranh nhau, bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ Hai là, nền kinh tế phát triển theo hướng hoà nhập vào thị trường thế giới và khu vực. Cách mạng khoa học - kỹ thuật công nghệ càng phát triển càng làm cho lực lượng sản xuất phát triển trình độ xã hội hoá cao, dẫn đến quá trình khu vực hoá, quốc tế hoá nền kinh tế ngày càng mở rộng. Do vậy, phát triển kinh tế thị trường không phải chỉ dựa trên cơ sở điều kiện trong nước mà còn phải tính đến quan hệ quốc tế, đến xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế. Nền kinh tế thị trường của mỗi quốc gia muốn phát triển không thể không gắn với thị trường thế giới. Bất cứ một quốc gia nào, cho dù là nước phát triển nhất cũng không thể sản xuất tất cả các loại hàng hoá. Vì vậy mỗi nước phải tùy theo lợi thế của mình lựa chọn mặt hàng xuất khẩu có hiệu quả và cạnh tranh được trên thị trường thế giới. Một quốc gia sẽ phát triển nếu biết cách thu hút vốn đầu tư nước ngoài và áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới để khai thác những tiềm năng của nền kinh tế. Muốn vậy, con đường đúng đắn là phát triển nền kinh tế mở: hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu có hiệu quả. Phát triển kinh tế hàng hoá gắn liền với nền kinh tế mở là tất yếu, nhưng trong quá trình đó, bên cạnh việc tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, thì cũng có nguy cơ du nhập những yếu tố văn hoá xa lạ với truyền thống, đặc điểm của dân tộc. Muốn giữ được nền kinh tế thị trường mang bản sắc văn hoá của riêng quốc gia mình phải thực hiện có hiệu quả sự quản lý vĩ mô của nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận lối sống thực dụng với sự chi phối tất cả của đồng tiền, không chấp nhận thương mại hoá mọi hoạt động của đời sống xã hội kết hợp sự chọn lọc tinh hoa của văn minh nhân loại với giữ gìn những yếu tố tinh tuý của văn hoá dân tộc, xây dựng những yếu tố văn hoá của riêng quốc gia đó. Sự tác động của Nhà nước vào nền kinh tế là một tất yếu của sự phát triển kinh tế xã hội. Thiếu sự “cạn thiệp” của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường tự do hoạt động, thì sự điều hành kinh tế nước ta sẽ không có hiệu quả, cũng giống như ta muốn vỗ tay mà chỉ dùng một “bàn tay”. Nhà nước sử dụng luật pháp vào các công cụ vĩ mô khác để quản lý kinh tế làm cho nền kinh tê “lành mạnh” hơn, giảm bớt những thăng trầm, đột biến xấu trên con đường phát triển của nó, khắc phục được tình trạng phân hoá bất bình đẳng, bảo vệ được tài nguyên môi trường của đất nước. Như vậy, sự vận động của nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là sự vận hành được điều tiết bởi sự thống nhất giữa cơ chế thị trường - bàn tay vô hình “và sự quản lý của Nhà nước - bàn tay hữu hình”. 3. Những giải pháp cụ thể. 3.1. Trước hết cần đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá các chế độ sở hữu, tạo điều kiện pháp triển mạnh nền kinh tế hàng hoá mỗi quốc gia. Cơ sở tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau, về tư liệu sản xuất quy định. Vì vậy, để phát triển kinh tế thị trường phải đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong nền kinh tế. Đó là phát triển kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác xã, kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước. Thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta. Khu vực kinh tế Nhà nước cần phải sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức quản lý, kinh doanh có hiệu quả, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai trò chủ đạo và chức năng của một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước. Đối với những cơ sở không cần giữ hình thức kinh tế Nhà nước cần chuyển sang hình thức sở hữu khác hoặc giải thể, đồng thời giải quyết việc làm và đời sống cho người lao động. * Đối với kinh tế hợp tác, cần phải có sự tổng kết, rút kinh nghiệm về bài học hợp tác xã kiểu cũ và xây dựng mô hình kinh tế hợp tác và hợp tác xã kiểu mới đang được phát triển hiện nay, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động có hiệu quả thiết thực, phát triển rộng rãi và đa dạng trong các ngành nghề, với quy mô hợp tác hoá khác nhau để huy động nguồn lực vào phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường ở mỗi quốc gia. Đối với loại hình sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ. Một mặt, thông qua cơ chế, chinh sách và hướng dẫn phát triển của Nhà nước khuyến khích sự phát triển của thành phần kinh tế này. Mặt khác cần tăng cường công tác quản lý để xây dựng nề nếp sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đối với thành phần tư bản tư nhân. Cần có chính sách khuyến khích thành phần kinh tế này để các nhà tư bản yên tâm và mạnh dạn đầu tư vào nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá tiêu dùng suất khẩu. Đối với thành phần kinh tế Nhà nước. Nhà nước cần phải có chính sách khuyến khích thành phần kinh tế này phát triển kể cả với tư bản Nhà nước trong nước và tư bản nhà nước nước ngoài. Vận dụng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước là phương thức để chúng ta huy động sức mạnh dân tộc của các thành phần kinh tế khác. 3.2. Đẩy mạnh quá trình phân công lại lao động xã hội ở các quốc gia. Phân công lao động xã hội là điều kiện của sản xuất hàng hoá, của phát triển KTTT. Vì vậy, quá trình phát triển KTTT ở mỗi nước đòi hỏi phải đẩy mạnh phân công lại lao động xã hội. Muối khai thác mọi nguồn lực cần phải phát triển nhiều ngành nghề, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có và tạo việc làm cho người lao động. Phân công lại lao động giữa các ngành theo hướng chuyên môn hoá sản xuất, hợp tác hoá, lao động công nghiệp và dịch vụ tăng tuyệt đối và tương đối, lao động nông nghiệp giảm tuyệt đối giữa lao động và tài nguyên, bảo vệ và phát triển môi trường sinh thái. Cùng với mở rộng phân công lao dộng trong nước tiếp tục mở rộng phân công và hợp tác lao động quốc tế. 3.3.Tạo lập và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường. Đây là biểu hiện và tiền đề quan trọng nhất để phát triển KTTT. Thị trường là sản phẩm tất yếu của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển thị trường càng mở rộng. Sản xuất, lưu thông hàng hoá quyết định thị trường, song thị trường cũng tác động trở lại, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá. Để mở rộng thị trường và tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường cần tôn trọng quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xây dựng thị trường thống nhất và thông suốt cả nước; phát triển mạnh thị trường hàng hoá và dịch vụ, trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu mà tăng quy mô, chủng loại, nâng cao chất lượng, tăng sức cạnh tranh của hàng tiêu dùng để thoả mãn nhu cầu trong nước và mở rộng kim ngạch xuất khẩu. Ngoài ra phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tạo điều kiện giảm giá cả hàng hoá, tăng thu nhập, tăng sức mua, làm cho dung lượng thị trường nhất là thị trường nông thôn tăng lên. Hình thành và phát triển thị trường sức lao động, vốn, tiền tệ, chứng khoán. Để các thị trường này phát triển cần triệt đẻ xoá bỏ bao cấp, thực hiện nguyên tắc tự do hoá giá cả, tiền tệ hoá tiền lương, mở rộng cao loại thị trường, thực hiện giao lưu hàng hoá thông suốt cả nước, lành mạnh hoá thị trường, khắc phục tình trạng kinh tế ngầm, kiểm soát và xử lý nghiêm minh các vi phạm thị trường. 3.4. Đẩy mạnh cách mạng khoa học công nghệ, nhằm phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chỉ có thể đứng vững trong cạnh tranh nếu thường xuyên tổ chức lại sản xuất, đổi mới thiết bịi, công nghệ nhằm tăng năng suất lao động, hạ thấp chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Muốn vậy, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu mới của cách mạng khoa học - công nghệ vào sản xuất và lưu thông, đảm bảo cho hàng hoá đủ sức cạnh tranh trên thị trường tiếnhành công nghiệp hoá, hiện đại hoá để tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển. 3.5. Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới chính sách tài chính tiền tệ giá cả. Đây là những nhân tố quan trọng để phát tiển KTTT, để các nhà sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước yên tâm đầu tư. Nhà nước cần hạn chế can thiệp trực tiếp vào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, mà tập trung làm tốt các chức năng tạo môi trường, hướng dẫn, hỗ trợ những yếu tố cần thiết để doanh nghiệp phát triển. Nhà nước cần tăng cường kiểm soát việc sử dụng mọi nguồn lực nhằm bảo toàn và phát triển những tài sản quốc gia. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ rất quan trọng để quản lý nền KTTT nhiều thành phần. Nó tạo hành lang pháp lý cho tất cả mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Với hệ thống pháp luật đồng bộ, các doanh nghiệp chỉ có thể làm giàu trên cơ sở tuân thủ pháp luật. 3.6. Đào tạo đội ngũ bao gồm các nhà quản lý kinh doanh giỏi. Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm, thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội. Con người lao giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ bản nhất của xã hội. Con người vừa là kết quả, vừa là đièu kiện để sản xuất phát triển. Mỗi cơ chế quản lý có đội ngũ cán bộ quản lý, kinh doanh tương ứng. Chúng ta cần đẩy mạnh việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, kinh doanh cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế trong thời kỳ mới. Cần sử dụng bồi dưỡng, đãi ngộ đúng đắn với đội ngũ cán bộ nhằm nâng cao nghiệp vụ, bản hình quản kinh doanh của họ. Cơ cấu đỗi ngũ cán bộ cần chú trọng đảm bảo cán bộ quản lý lẫn cán bộ kinh doanh cả ở phạm vi vĩ mô lẫn vi mô. 3.7. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để phát triển kinh tế thị trường. Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế, mọi quốc giá muốn thúc đẩy KTTT phát triển phải hoà nhập kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới (mở rộng thị trường ngoài nước , mở rộng hợp tác đầu tư với nước ngoài). Muốn vậy phải đa dạng hoá hình thức, đa phương hoá đối tác, phải quán triệt nguên tắc đôi bên cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và phân không biệt chế độ chính trị - xã hội phải triệt để khai thác lợi thế so sánh của đất nước trong quan hệ kinh tế nhằm khai thác tiềm năng lao động, tài nguyên thiên nhiên của đất nước, tăng suất khẩu để nhập khẩu, thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý. 4. Đối với Việt Nam. Việt Nam cũng không nằm ngoài sự phát triển chung của thế giới.Cùng với nhịp đập của thị trường hàng hoá thế giới đang ngày một phát triển ở Việt Nam cũng đang từng bước đổi mới,chạy đua với nền kinh tế thế giới.Tuy nhiên Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH chuyển từ nền kinh tế kém phát triển, mang nặng tính tự cấp tự túc và quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường.Vì vậy ở Việt Nam đây vừa là phương pháp phát triển nền kinh tế hiệu quả vừa là khó khăn thử thách đối với một quốc gia còn đang từng bước phát triển,đổi mới. III) KẾT LUẬN: Có thể nói việc các nhà đầu tư và sản xuất TBCN cũng như XHCN biết phát triển nền kinh tế quốc gia bằng việc phát triển nền kinh tế thị trường hàng hoá là một chính sách đúng đắn.Bởi họ nắm rõ được tầm quan trọng của nền kinh tế thị trường .Tuy nhiên không phải lúc nào nền kinh tế thị trường cũng giải quyết được cho chúng ta mọi vấn đề khuyết thiếu,đơn giản đó không thể là liều thuốc vạn năng. Cùng với sự kích thích sản xuất phát triển, kinh tế thị trường cũng là môi trường thuận lợi cho việc nảy sinh và phát triển nhiều loại tiêu cực xã hội. Đã xuất hiện khuynh hướng làm giàu bằng bất cứ giá nào, kể cả lừa đảo, gây tội ác vi phạm pháp luật sẵn sàng chà đạp lên lương tâm và nhân phẩm, lối sống trụy lạc, chạy theo những thị hiếu thấp hèn, văn hoá không lành mạnh và những hủ tục mê tín, dị đoan đang phục hồi và phát triển. Trong thế hệ trẻ có một bộ phận phai nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng. Một bộ phận không ít cán bộ, đảng viên có chức có quyền, trong đó có cả những người đã từng đóng góp đáng kể cho cách mạng, cũng bị sa ngã và thoái hoá, biến chất... MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 NỘI DUNG: I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ 2 1) Lý luận của MAC-LÊNIN về sự phát triển sản xuất hàng hoá 2 1.1. Sự ra đời của sản xuất hàng hoá.................................................................2 1.2. Hàng hoá.........

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docVận dụng lý luận về hàng hoá vào sự phát triển thị trường hàng hoá.doc
Tài liệu liên quan