Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy tại TP Hồ Chí Minh

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích đất nông nghiệp ở các huyện ngoại thành đã giảm rất nhiều trong thời gian qua và xu hướng này vẫn tiếp tục trong thời gian tới với mức bình quân là 1.400ha/năm.Thành phố hiện có khoảng 116.000ha đất nông nghiệp, trong đó đất có khả năng sản xuất chỉ còn khoảng gần 78.000ha và đất trồng lúa chỉ còn gần 42.00ha, tập trung ở 5 huyện ngoại thành Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ.Tuy nhiên, những năm gần đây tốc độ đô thị hóa ngày càng lan nhanh ra vùng ngoại thành với hàng trăm dự án lớn nhỏ được quy hoạch trên đất nông nghiệp để xây dựng các khu dân cư, khu đô thị mới, các khu công nghiệp, sân golf.

- Đặc biệt, các công trình giao thông trọng điểm, công trình giao thông công cộng đang được mở rộng ra nhiều quận vùng ven, huyện ngoại thành. như triển khai 3 dự án đường vành đai 1, 2, 3 các dự án mở rộng, nâng cấp các tuyến đường nối với các cầu Phú Mỹ, đường Nguyễn Văn Linh, mở rộng các tỉnh lộ 9, 10. đã làm cho đất nông nghiệp các huyện ngoại thành bị giảm khá nhanh.Thực trạng sản xuất NN ở TP.Hồ Chí Minh chỉ tập trung vào sản xuất rau sạch, hoa màu phục vụ nhu cầu thiết yếu của thành phố, chuyển hầu hết diện tích trồng lúa sang trông hoa màu để tiết kiệm nước tưới mà hiểu quả kinh tế lại cao. Do đó nhu cầu nước tưới cho NN không thật sự cấp bách và ít ảnh hưởng đến nguồn nước mặt.

- Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn còn chưa có ý thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý chất thải nước thải, phần lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thấm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm.

 

doc19 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 09/07/2013 | Lượt xem: 2798 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy tại TP Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết, trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷ đồng. - Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại. Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy... có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp... cũng gây khó khăn cho nền kinh tế. Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn. 2.Dân cư: - Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 Thành phố Hồ Chí Minh có dân số 7.123.340 người, gồm 1.812.086 hộ dân, bình quân 3,93 người/hộ. Phân theo giới tính: Nam có 3.425.925 người chiếm 48,1%, nữ có 3.697.415 người chiếm 51,9% . Dân số thành phố tăng nhanh, trong 10 năm từ 1999-2009 dân số thành phố tăng thêm 2,086.185 người, bính quân tăng gần 209.000 người/năm, tốc độ tăng 3,53%/năm, chiếm 22% số dân tăng thêm của cả nước trong vòng 10 năm. Quận Bình Tân có dân số lớn nhất với 572.796 người, tương đương với dân số một số tỉnh như: Quảng Trị, Ninh Thuận; huyện Cần Giờ có dân số thấp nhất với 68.213 người. Không chỉ là thành phố đông dân nhất Việt Nam, quy mô dân số của Thành phố Hồ Chí Minh còn hơn phần lớn các thủ đô ở châu Âu ngoại trừ Moscow và London. Theo số liệu thống kê năm 2004, 85,24% dân cư sống trong khu vực thành thị và Thành phố Hồ Chí Minh cũng có gần một phần năm là dân nhập cư từ các tỉnh khác. Cơ cấu dân tộc, người Kinh chiếm 92,91% dân số thành phố, tiếp theo tới người Hoa với 6,69%, còn lại là các dân tộc Chăm, Khmer... Những người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh cư trú ở khắp các quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tại Quận 5, 6, 8, 10, 11 và có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thành phố. - Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều, ngay cả các quận nội ô. Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10, 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km² thì các quận 2, 9, 12 chỉ khoảng 2.000 tới 6.000 người/km². Ở các huyện ngoại thành, mật độ dân số rất thấp, như Cần Giờ chỉ có 96 người/km². Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 1,9%. Theo ước tính năm 2005, trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu khách vãng lai tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2010, có số này còn có thể tăng lên tới 2 triệu. Mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh có thu nhập bình quân đầu người rất cao so với mức bình quân của cả Việt Nam, nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày các lớn do những tác động của nền kinh tế thị trường. Những người hoạt động trong lĩnh vực thương mại cao hơn nhiều so với ngành sản xuất. Sự khác biệt xã hội vẫn còn thể hiện rõ giữa các quận nội ô so với các huyện ở ngoại thành 3.Môi trường: - Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, ý thức người dân kém..., Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường. Cũng như Hà Nội, hiện tượng nước thải ở Thành phố Hồ Chí Minh không được xử lý, đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi rất phổ biến. Nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn cũng chưa có hệ thống xử lý nước thải. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi chất thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m³/ngày. Sông Sài Gòn, mức độ ô nhiễm vi sinh chủ yếu do hoạt động nuôi trồng thuỷ sản gây ra vượt tiêu chuẩn cho phép đến 220 lần. Cho tới 2008, vẫn chưa có giải pháp cụ thể nào để chấm dứt tình trạng ô nhiễm này. Lượng rác thải ở Thành phố Hồ Chí Minh lên tới 6.000 tấn/ngày, trong đó một phần lượng rác thải rắn không được thu gom hết. Kết quả quan trắc năm 2007 cho thấy, so với năm 2006, sự ô nhiễm hữu cơ tăng 2 đến 4 lần. Các phương tiện giao thông, hoạt động xây dựng, sản xuất... còn góp phần gây ô nhiễm không khí. Khu vực ngoại thành, đất cũng bị ô nhiễm do tồn đọng thuốc bảo vệ thực vật từ sản xuất nông nghiệp gây nên. Tình trạng ngập lụt trong trung tâm thành phố đang ở mức báo động cao, xảy ra cả trong mùa khô. Diện tích khu vực ngập lụt khoảng 140 km2 với 85% điểm ngập nước nằm ở khu vực trung tâm. Thiệt hại do ngập nước gây ra ước tính 8 tỷ đồng mỗi năm. Nguyên nhân là do hệ thống cống thoát nước được xây cách đây 50 năm đã xuống cấp. Ngoài ra, việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị ở khu vực phía nam – khu vực thoát nước của thành phố này đã làm cho tình hình ngập càng nghiêm trọng hơn Sơ lược vai trò của dòng chảy sông ngòi tới sự phát triển TP.Hồ Chí Minh Cung cấp nước cho mọi hoạt động sản xuất cũng như sinh hoạt hằng ngày của con người Cà tuyến giao thông vận tải thủy rất quan trọng của thành phố Cải thiện môi trường sống, điều hòa khí hậu và cảnh quan đô thị cho thành phố B.Hiện tượng dòng chảy sông ngòi: I.Tìm hiểu về dòng chảy sông ngòi: 1.Sự hình thành dòng chảy sông ngòi: - Nước mưa rơi xuống lưu vực, một phần chảy trên mặt đất(dòng chảy mặt), một phần ngấm xuống đất rồi tập trung thành mạch nước ngầm(dòng chảy ngầm) chảy vào sông. - Dòng chảy mặt: Đều do mưa rơi xuống lưu vực tạo thành, tuy nhiên lượng mưa rơi xuống lưu vực không phải đều sinh r dòng chảy, có một phần bị ngấm vào đất và giữ lại trong đất, một phần đọng lại trên lá cây và những hố trũng trên lưu vực, một phần bốc hơi vào khí quyển. Các quá trình này gọi chung là qua trình tổn thất trên lưu vực. - Nước mưa chảy tràn trên sườn dốc rồi tập trung vào sông, sau đó lại tiếp tục chảy trong sông qua cửa ra của lưu vực.Giai đoạn chảy trong sông gọi là quá trình tập trung dòng chảy trong sông. 2.Các nhân tố ảnh hưởng: a.Nhân tố khí hậu: Nhiệt độ mặt đệm và không khí Áp suất không khí, Độ ẩm không khí, Gió - Bão Bốc hơi : ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành dòng chảy qua quá trình tổn thất dòng chảy Mưa : Là nhân tố quan trọng nhất, là nguyên nhân chủ yếu sinh ra dòng chảy ở nước ta, chi phối quy luật dòng chảy theo thời gian b.Nhân tố mặt đệm: Vị trí địa lý và địa hình lưu vực : có tác dụng điều hòa dòng chảy, ảnh hưởng tốc độ dòng chảy. Lưu vực càng lớn thì dòng chảy ngầm càng lớn Đặc tính thổ nhưỡng và địa chất lưu vực : ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình tổn thất dòng chảy do thấm Lớp phủ thực vật : làm tăng lượng nước ngấm vào đất, bảo vệ chống xói mòn đất Hồ ao và đầm lầy : có tác dụng điều tiết dòng chảy c.Sự hoạt động của loài người ảnh hưởng đến dòng chảy Biện pháp nông nghiệp Biện pháp lâm nghiệp Biện pháp thủy lợi 3.Những đại lượng đặc trưng dòng chảy: Lưu lượng (Q) Tổng lượng dòng chảy (W) Độ sâu dòng chảy (Y) Môđun dòng chảy (M) Hệ số dòng chảy (α) Đặc điểm hệ thống sông ngòi, kênh rạch TP.Hồ Chí Minh: Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất phát triển. Sông Ðồng Nai hợp lưu với sông La Ngà, sông Bé có diện tích lưu vực F= 45.000 km2, lưu lượng bình quân Qtb= 200-500 m3/s Qmax= 10.000 m3/s, hàng năm cung cấp W0= 15 tỷ m3, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố.Sông Sài Gòn bắt nguồn từ Tây Ninh, chảy qua Bình Dương, và đổ vào sông Đồng Nai ở huyện Nhà Bè, có L= 256 km, F= 5.000 km², Qtb= 54 m3/s. Btb= 225m đến 370m và độ sâu tới 20m. Đoạn đầu nguồn của sông có hồ thủy lợi Dầu Tiếng,đoạn chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km và nối thông với Sông Ðồng Nai ở phần nội thành bởi hệ thống kênh Rạch Chiếc. Hệ thống các chi lưu của sông Sài Gòn cũng rất nhiều, sông này còn có các cảng lớn thuộc hệ thống Cảng Sài Gòn. Sông Nhà Bè hình thành từ chỗ hợp lưu của sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn, cách trung tâm thành phố khoảng 5km về phía Ðông Nam chảy ra biển Ðông bằng ngả Soài Rạp dài 59km, bề rộng trung bình 2km, lòng sông cạn, tốc độ dòng chảy chậm và ngả Lòng Tàu đổ ra vịnh Gành Rái, dài 56km, bề rộng trung bình 0,5km, lòng sông sâu, là đường thủy chính cho tàu bè ra vào bến cảng Sài Gòn. Sông Vàm Cỏ Đông là một chi lưu của sông Vàm Cỏ, thuộc hệ thống sông Đồng Nai. Sông có chiều dài L= 220 km ( lãnh thổ Việt Nam dài hơn 150 km), diện tích lưu vực F= 8.500 km², Q0= 96 m³/s. Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi...Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành. II.Hiện trạng dòng chảy sông ngòi: 1.Tài nguyên nước ở TP.Hồ Chí Minh: a. Nước mặt: Là nguồn nước từ các Sông lớn như Sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông với hệ thống kênh rạch dài khoảng 7.880km, tổng diện tích mặt nước 35.500 ha. Nước nhạt được khai thác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất. b. Nước dưới đất: Riêng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trữ lượng tiềm năng nước dưới đất tại các tầng chứa nước là: 2.501.059m3/ngày. Phân bổ như sau: Trữ lượng nước dưới đất trong các tầng chứa nước (đơn vị tính:1000m3/ngày) Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện có trên 100.000 giếng khai thác nước ngầm, đa số khai thác tập trung ở tầng chứa nước Pleistocen và Pliocen. 56,61% tổng lượng nước khai thác dùng cho mục đích sản xuất, còn lại dùng trong sinh hoạt. 2.Hệ thống tiêu thoát nước đô thị: - Hệ thống tiêu thoát nước của TP.HCM bao gồm các hệ thống cống ngầm từ cấp 4 đến cấp 2 và các kênh hở kết nối ra các sông chính. Tổng chiều dài cống thoát nước cấp 2-3 hiện nay tại TP.HCM là 777km; xả ra 27 hệ kênh chính và 16 hệ kênh nhánh. Toàn thành phố có 169 cửa xả ra kênh rạch trong đó có 91 cửa xả chính có đường kính > 0,6m. Mật độ xây dựng cống của Quận I là 170m/ha, của Quận Tân Bình có 32m/ha, Phú Nhuận có 43m/ha, quận Bình Thạnh mới chỉ có 10m/ha, mạng lưới đường cống chủ yếu tập trung ở khu trung tâm Quận. Trong Thành phố có 4 hệ thống kênh rạch chính: (1) Tham Lương - Bến Cát, chảy phía Bắc thành phố. (2) Nhiêu Lộc - Thị Nghè, chảy qua khu trung tâm. (3) Tân Hoá – Lò Gốm phía Tây Thành phố. (4) Kênh Đôi – Kênh Tẻ - Tàu Hủ - Bến Nghé, chảy phía Nam Thành phố. - Tổng chiều dài các kênh rạch là 68km.. Hầu hết các kênh rạch đổ nước ra sông Sài Gòn. Một phần rút ra sông Chợ Đệm và rạch Cần Giuộc hoặc xuống các rạch dọc Cây Khô, Xóm Củi rồi đổ ra sông Nhà Bè.Hai con sông Vàm Cỏ ở phía Tây Thành Phố và song Đồng Nai cũng có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tiêu thoát nước của hệ thống. 3.Triều cường và ngập úng: - Hầu hết các sông rạch Thành phố Hồ Chí Minh đều chịu ảnh hưởng thủy triều (bán nhật triều) của biển Ðông. Triều biến đổi theo ngày, theo tháng, theo năm, theo chu kỳ nhiều năm… Tại Phú An mực nước triều bình quân cao nhất là Htb=1,10m, mực nước đỉnh triều cao nhất là Hđmax=1.49m, mực nước đỉnh triều thấp nhất là Hđmin= 0.5m, mực nước chân triều cao nhất là Hcmax=-0.2m, mực nước chân triều thấp nhất là Hcmin= -2.2m. Tháng có mực nước cao nhất là tháng 10-11, thấp nhất là các tháng 6-7. Ngoài độ cao thủy triều cần quan tâm đến dạng và chu kỳ triều và sự luân chuyển của chân triều, tận dụng tiêu khi triều xuống và chân triều (hay xuất hiện vào ban đêm). Và cần lưu ý là không tạo ra các kênh cụt , các kênh thông hai đầu có sóng cùng pha, cùng biên độ sẽ hình thành các sóng dừng( dòng triều đứng yên ) tức là vùng giáp nước, gây trở ngại cho việc tiêu nước ra sông - Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) nằm ở hạ lưu lưu vực sông Đồng Nai và giáp với biển Đông, nơi có địa hình thấp và khá bằng phẳng với gần 75% diện tích có cao độ dưới +2 m, chịu tác động trực tiếp dòng chảy lũ từ thượng lưu thông qua các sông Đồng Nai, Sài Gòn cũng như những tác động trực tiếp từ triều biển Đông nên thường xuyên xảy ra tình trạng ngập úng. Tính đến tháng 11/2006, toàn thành phố còn 105 điểm ngập (47 điểm ngập do mưa, 51 điểm ngập do mưa kết hợp với triều, một số điểm ngập do không có cống). Các trường hợp ngập điển hình như ở khu vực Bùng binh Cây Gõ - Tân Hoà Đông - Bà Hom (quận 6); khu vực Bình Thạnh (đường Nguyễn Hữu Cảnh); quận 2 (phường Thảo Điền); Ngã tư Bốn Xã (quận Bình Tân); kênh Ba Bò (quận Thủ Đức), đường Đỗ Xuân Hợp (quận 9),… - Trong những ngày đầu tháng 11-2006 mà đỉnh điểm là ngày 7-11-2006, triều cường đã gây ra ngập tại TPHCM trên diện rộng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt, sức khoẻ của người dân và gây cản trở giao thông của thành phố. Triều cường đã gây ngập tại hơn 40 điểm trong nội đô, đáng chú ý là đã phát sinh thêm 6 điểm ngập mới. Ở vùng ngoại thành, triều cường đã phá vỡ đê bao làm ngập cho các vùng canh tác nông nghiệp gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp. Gần đây nhất những ngày cuối năm 2007, do triều cường TP.HCM lại vỡ đê bao làm ngập nhiều khu vực như quận Thủ Đức (phường Hiệp Bình Chánh), quận 12 (phường Thạnh Lộc, Thạnh Xuân, An Phú Đông, Thời An), huyện Hóc Môn (xã Nhị Bình, Tân Hiệp), quận Gò Vấp (phường 5). Ngoài ra, ô nhiễm môi trường trên các kênh rạch, đặc biệt là các kênh rạch nội thành như Nhiêu Lộc - Thị Nghè, Tân Hóa - Lò Gốm, Kênh Tàu Hủ - Bến Nghé, Kênh Đôi - Kênh Tẻ, Tham Lương - Bến Cát,... ngày càng trở nên nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng dân cư cũng như phát triển kinh tế. Do vậy, ngập úng, đặc biệt là khu vực nội thành, vấn đề tiêu thoát nước đô thị, tiêu thoát nước thải trở thành nỗi “ám ảnh”, thách thức lớn không chỉ của các cấp lãnh đạo Đảng, Chính quyền ở cả cấp trung ương cũng như địa phương (thành phố, quân huyện) mà còn là nỗi nơm nớp lo sợ của người dân mỗi khi có các đợt triều cường và mùa mưa đến. C.Tác động của con người tới dòng chảy sông ngòi: Nguồn cung cấp nước Tổng lượng nước ngầm, nước mặt cho SH & CN TP.Hồ Chí Minh 2003 2010 2020 Nhà máy nước Sài Gòn 1.74 6.94 10.5 Kênh Đông Củ Chi 0.69 33.3 3.3 Nước ngầm 6.07 8.32 8.53 Nhà máy nước Thủ Đức 8.68 12.15 12.15 Nhà máy nước BOT L.D.E 3.47 3.47 3.47 Nhà máy nước BOT Bình An 1.16 1.16 1.16 TỔNG CỘNG 21.81 35.29 39.14 I.Hoạt động Nông-Lâm-Ngư nghiệp: - Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích đất nông nghiệp ở các huyện ngoại thành đã giảm rất nhiều trong thời gian qua và xu hướng này vẫn tiếp tục trong thời gian tới với mức bình quân là 1.400ha/năm.Thành phố hiện có khoảng 116.000ha đất nông nghiệp, trong đó đất có khả năng sản xuất chỉ còn khoảng gần 78.000ha và đất trồng lúa chỉ còn gần 42.00ha, tập trung ở 5 huyện ngoại thành Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ.Tuy nhiên, những năm gần đây tốc độ đô thị hóa ngày càng lan nhanh ra vùng ngoại thành với hàng trăm dự án lớn nhỏ được quy hoạch trên đất nông nghiệp để xây dựng các khu dân cư, khu đô thị mới, các khu công nghiệp, sân golf... - Đặc biệt, các công trình giao thông trọng điểm, công trình giao thông công cộng đang được mở rộng ra nhiều quận vùng ven, huyện ngoại thành... như triển khai 3 dự án đường vành đai 1, 2, 3 các dự án mở rộng, nâng cấp các tuyến đường nối với các cầu Phú Mỹ, đường Nguyễn Văn Linh, mở rộng các tỉnh lộ 9, 10... đã làm cho đất nông nghiệp các huyện ngoại thành bị giảm khá nhanh.Thực trạng sản xuất NN ở TP.Hồ Chí Minh chỉ tập trung vào sản xuất rau sạch, hoa màu phục vụ nhu cầu thiết yếu của thành phố, chuyển hầu hết diện tích trồng lúa sang trông hoa màu để tiết kiệm nước tưới mà hiểu quả kinh tế lại cao. Do đó nhu cầu nước tưới cho NN không thật sự cấp bách và ít ảnh hưởng đến nguồn nước mặt. - Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn còn chưa có ý thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý chất thải nước thải, phần lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thấm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm. - Việc nuôi các bè cá, bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt sông rạch đã làm ô nhiễm nguồn nước do một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư thừa, sự khuấy động nguồn nước, sự cản trở lưu thông dòng mặt. - Hệ thống thủy lợi TP.Hồ Chí Minh khá phát triển với nhiều kênh rạch chằng chịt và các đập trạm bơm ngăn triều, hệ thống bờ bao chúng úp ...vv. Tuy nhiên phần lớn hệ thống này chỉ phục vụ cho tiêu thoát nước đô thị, chống ngập úng, triều cường và ngăn ngừa xâm nhập mặn là chủ yếu. Chỉ một số ít phục vụ cho hoạt động sản xuất NN. - Nhiều giếng khoan ngoài ruộng vườn để tưới tiêu không đảm bảo kỹ thuật gây nhiễm bẫn, nhiễm các hóa chất và thuốc trừ sâu … - Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong phân bón, các loại thuốc kích hoạt phát triển cây… Nhiều hệ thống kênh mương tưới tiêu nội đồng đã bị ô nhiễm nguồn nước và phát tán rộng. - Hệ thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu không hợp lý là nguyên nhân gây thất thoát lưu lượng nước lớn trong ngành trồng trọt. Diện tích rừng chiếm 18,5% diện tích tự nhiên TP.Hồ Chí Minh. Rừng phân bố tập trung ở Cần Giờ, Bình Chánh và Củ Chi. Tổng diện tích đất tự nhiên của TP quy hoạch cho lâm nghiệp đến thời điểm ngày 31/12/2007 là 209.198 ha , gồm: -Đất lâm nghiệp là:                          36.394,50 ha trong đó           +Đất rừng phòng hộ:          31.628,70 ha           +Đất rừng đặc dụng :               24,90 ha           +Đất rừng sản xuất:              4.740,90 ha -Đất có rừng:                              35.361,20 ha           +Diện tích rừng phòng hộ:          30.594,40 ha           +Diện tích rừng đặc dụng:         24,90 ha           +Diện tích rừng sản xuất:     4.740,90 ha -Đất trống, đồi núi không có rừng:: gồm 1033,30 ha trong quy hoạch đất rừng phòng hộ. -Đất khác: 172.803,50 ha Phân loại rừng:           -Rừng tự nhiên: 13.821,10 ha gồm           +Rừng tự nhiên ngập mặn phòng hộ: 10.976,60 ha ( trong đó Rừng đước 527,9 ha ; Rừng hỗn giao 5.118,9 ha ; Rừng khác 5.329,8 ha)           +Rừng ngập mặn sản xuất:            2.838,5 ha           +Rừng phòng hộ trên núi đá :                6,60 ha           -Rừng trồng:           +Rừng trồng phòng hộ:               19.612,80 ha           +Rừng trồng đặc dụng:                   24,90 ha           +Rừng trồng sản xuất:              2.838,50 ha - Để gia tăng môi trường sống, con người phá rừng lấp đất, sang ruộng cất nhà làm đường dẫn đến mất khả năng giữ nước của đất, lượng nước bề mặt không được thấm bổ cập vào nước ngầm mà chảy vào sông rạch ra biển. Ngoài ra còn gây ngập lụt, trược lỡ đất. II.Công nghiệp hóa: - Việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn đến nhu cầu về nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập trung về. Đặc biệt ở các khu vực chưa có hệ thống cấp nước, mật độ khai thác nước dưới đất sẽ gia tăng nhanh, từ đó dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn nước và sụp lún đất. - Các chất thải công nghiệp như khối, bụi…tạo nên mưa axít không những làm thay đổi chất lượng nước ngọt, lượng mưa mà còn ảnh hưởng xấu đến dòng chảy, đến đất và môi trường sinh thái. - Việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu chế xuất khu công nghiệp chưa được xử lý vào sông rạch, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất, làm giảm tốc độ dòng chảy và dòng thấm. Thậm chí có nơi còn cho nước thải chảy tràn trên mặt đất để tự thấm xuống đất hoặc đào các hố dưới đất để xả nước thải làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tầng nước dưới đất. Diện tích đất sản xuất CN TP.Hồ Chí Minh tăng rất nhanh trong vài năm trở lại đây do nhu cầu phát triển kinh tế. Nhiều khu CN mới hình thành, bên cạnh đó quy mô của các khu CN cũ cũng được mở rộng. Tính đến năm 2007, tổng diện tích phục vụ sản xuất CN khoảng 8.172ha (trong đó đất khu công nghiệp tập trung 7.032ha và đất cụm công nghiệp, làng nghề truyền thống khoảng 1.140ha) tăng gấp hơn 2.4 lần so với năm 2001. Với tốc độ công nghiệp hóa rất nhanh như vậy, đã mang lại rất nhiều hệ lụy liên quan đến địa chất thủy văn, dòng chảy sông ngòi và môi trường thành phố : CN phát triển nhu cầu nước phục vụ sản xuất CN tăng mạnh, diện tích san lấp mặt bằng phục vụ CN tăng nhanh, nước thải chưa qua xử lý hơn 40% thải trực tiếp ra kênh rạch ao hồ... làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước mặt dữ trữ, nước ngầm, ảnh hưởng đến sự điều tiết dòng chảy tự nhiên, sự thấm của nước vào đất, làm sụt giảm đáng kể nguồn nước. Nước thải bẩn chứa nhiều kin loại, hóa chất độc hại, rác CN...ảnh hưởng đến sự lắng đọng tự nhiên, bốc hơi nước, môi trường đất bị thay đổi có thể gây tắt nghẽn dòng chảy hoặc sạt lở bờ sông. Công nghiệp hóa còn gây biến đổi khí hậu rất nghiêm trọng : nhiệt độ càng nóng, không khí ô nhiễm làm thay đổi khi hậu , nhất là ảnh hưởng đến mưa. Mưa sẽ ít xảy ra theo quy luật mà sẽ xuất hiện mưa trái mùa thường xuyên hơn, chất lượng mưa cũng bị ảnh hưởng, mưa chứa nhiều chất độc hại(mưa axit) III.Quá trình đô thị hóa: - Quá trình đô thị hoá thành phố đã làm giảm sự điều tiết tự nhiên của bề mặt lưu vực. Đối với nội thành, phần lớn đất đai được bê tông hoá, nhựa hoá xây dựng nhà, công xưởng, đường sá. Do vậy, khi mưa xuống, hầu như toàn bộ mưa đều tập trung thành dòng chảy (đường trở thành sông cũng chính vì vậy), không thể thấm xuống đất để giảm bớt lượng dòng chảy tập trung   Tệ hơn, hệ thống kênh rạch, ao hồ bị san lấp vô tội vạ như  rạch Ông Kích, rạch Bà Lài, rạch Cụt, Bình Tiên, Bà Lài, Đầm Sen, ao Sen, v.v…Nhiều kênh rạch khác đang ở trong tình trạng báo động đỏ như rạch Lăng, rạch Bình Lợi, rạch Văn Thánh,… - Người dân thường có những hành vi như xả rác bừa bãi ra đường dẫn đến bít đường ống tiêu thoát nước làm cho tình trạng tiêu thoát nước khó khăn. Bên cạnh đó, TP.HCM cũng đang trong quá trình phát triển và đang là “đại công trường xây dựng” với rất nhiều xe cộ thực hiện vận chuyển các vật liệu xây dựng như cát sỏi gây vương vãi, khi mưa đến tập trung vào các hố ga, miệng cống làm giảm tiết diện tải nước cũng như làm tăng độ nhám của hệ thống, cản trở quá trình di chuyển của dòng chảy làm cho tình trạng ngập úng trầm trọng hơn. Mặt khác nhiều kênh rạch bị san lấp làm mất thể tích trữ nước. - Các dòng nước mặt (sông, kênh rạch…) đặc biệt là ở vùng đô thị đều bị ô nhiễm trầm trọng bởi rác thải, nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư xả vào kênh rạch chưa qua xử lý. Tình trạng lấn chiếm lòng, bờ sông kênh rạch để sinh sống, xả rác và nước thải trực tiếp trên bề mặt gây ô nhiễm nước mặt, cản trở lưu thông của dòng chảy, tắc nghẽn cống rãnh tạo nước tù. Môi trường yếm khí gia tăng phân hủy các hợp chất hữu cơ, không những gây mùi hôi thối, ô nhiễm nguồn nước và môi trường mà còn gây khó khăn trong việc lấy nguồn nước mặt để xử lý thành nguồn nước sạch cấp cho nhu cầu xã hội. - Nhu cầu nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động khác của con người gia tăng, dẫn đến tình trạng khai thác nước dưới đất tràn lan gây cạn kiệt nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường như sụp lún, nhiễm mặn… Hệ thống tiêu thoát nước đô thị -Phần nhiều các đô thị ở Nam Bộ đều có cao trình mặt đất tương đối thấp, tương đương với mực nước đỉnh thuỷ triều trong vùng với mực nước đỉnh thuỷ triều trong vùng với chế độ bán nhật triều, nên việc tiêu thoát nước rất khó khăn, trong mùa mưa thường bị ngập úng mà thành phố Hồ Chí Minh là một ví dụ điển hình. Cao trình mặt đất ở TP.HCM thay đổi từ + 1,2m đến + 10m, nội thành thành phố có gần 100km kênh rạch. Xưa kia mạng lưới song rạch ở đây dày đặc, đóng vai trò thoát nước cho cả vùng, phục vụ giao lưu buôn bán giữa Sài Gòn – Gia Định - Chợ Lớn với Đồng Nai, Lục Tỉnh. Sự phát triển đô thị cùng với sự gia tăng dân số ồ ạt trong những năm vừa qua, dẫn đến việc khai thác mặt bằng không quy hoạch, kênh rạch như một bộ phận năng động nhất của thiên nhiên trở thành nơi thuận lợi để con người trút xuống mọi phế thải. Hậu quả là rác bẩn tích luỹ, kênh rạch bồi lấp, mặt thoáng bị chiếm dụng, dòng chảy cản trở. Trong khi đó, hệ thống tiêu thoát nước được xây dựng theo kiểu chắp và do lịch sử phát triển của thành phố, do đó có nhiều tồn tại trong tính toán, xây dựng, quản lý v.v... nên thường cứ đến mùa mưa là nhiều nơi trong thành phố bị ngập úng. Đáng chú ý là tình nhiều miệng cống, hố ga bị rác rưởi lầp đầy, và hàng chục nghìn hộ gia đình xây nhà lấn chiếm lòng kênh. Việc mợ rộng thành phố trong thời gian qua theo hướng Nam, mà công việc đơn giản chỉ là san lấp để có cao trình xây dựng trên mực nước đỉnh triều, nhưng các vấn đề tiếp theo là đất san lấp lấy ở đâu ra một khối lượng lớn như vậy, các vùng đất bị san lấp thì môi trường sinh thái của vùng hoặc của lưu vực đó bị bồi lắng và sẽ nhanh chóng trở thành đầm lầy. Lượng nước cần tiêu thoát Lượng nước cần tiêu thoát từ nội thành TP.HCM có hai nguồn gốc: Nước mưa; Nước thải (bao gồm, nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất). Theo tính toán sơ bộ thì lượng nước mưa trân trong khu vực nội thành ứng với tần suất 10% vào khoảng 5 triệu m3/ ngày – đêm. Lượng mưa đó sẽ sản sinh ra 2,6 triệu m3 dòng chảy mặt (trong điều kiện hiện tại), tương ứng với lưu lượng bình quân trong thờI gian cấp nước là 31,0m3/s. Lượng nước cung cấp cho sinh hoạt và công nghiệp hiện tạI vào khoảng gần

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến dòng chảy tại TPHồ Chí Minh - Nhân tố con người.doc
Tài liệu liên quan