Tìm hiểu tác phẩm: Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

Biểu hiện thứ ba của tính sử thi ở truyện ngắn Rừng xà nu là nó đã miêu tả các sự kiện, các nhân vật anh hùng từ một cái nhìn chiêm ngưỡng, khâm phục. Các chi tiết đời thường ít được nhắc tới. Nhà văn chỉ tâm đắc với những chi tiết nào có khả năng làm phát lộ được phẩm chất anh hùng của nhân vật Cụ Mết – linh hồn của làng Xô Man – có bề ngoài oai phong lẫm liệt. Tác giả miêu tả nhân vật này với một tình cảm mến yêu, kính phục đặc biệt: Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược, ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn. Sáu mươi tuổi mà tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực Lúc cụ Mết nói, mọi người đều yên lặng lắng nghe. Tưởng như trong tiếng cụ nói có âm vang của tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng của núi rừng, của lịch sử. Và quả thật, cụ là hình ảnh tượng trưng của truyền thống vững bền. Mỗi lời cụ thốt ra kết tinh trải nghiệm của cả một dân tộc.

docx8 trang | Chia sẻ: binhan19 | Ngày: 18/03/2019 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tìm hiểu tác phẩm: Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TÌM HIỂU TÁC PHẨM: RỪNG XÀ NU (Nguyễn Trung Thành) TỔNG QUAN VỀ TÁC PHẨM: Tác giả: Nguyễn Trung Thành là một bút danh khác của nhà văn Nguyên Ngọc. Ông là nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp với tiểu thuyết nổi tiếng “Đất nước đứng lên”. Sáng tác của Nguyên Ngọc mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn, tập trung viết về hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, đề cập đến những vấn đề trọng đại của vận mệnh dân tộc và nhân dân, xây dựng những tính cách anh hùng. Tác phẩm: Truyện được in trong tập "Trên quê hương những người anh hùng Điện Ngọc" viết năm 1965. Đặc sắc nội dung- nghệ thuật: Với bút pháp nghệ thuật đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn kết hợp với lời văn trau chuốt, giàu tính tạo hình, tác phẩm đã tái hiện một bức tranh sinh động, giúp người đọc hình dung một thời kì rất đau thương mà anh dũng, bất khuất của dân tộc. Thông qua câu chuyện về những con người ở một bản làng hẻo lánh, bên cạnh những cánh rừng xà nu bạt ngàn, tác giả đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa lớn lao: Để giữ gìn sự sống của đất nước và nhân dân, không có cách nào khác là cùng nhau đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù. PHÂN TÍCH HÌNH TƯỢNG RỪNG XÀ NU: Đây là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn. Hình tượng cây xà nu- rừng xà nu nổi bật, xuyên suốt tác phẩm, vừa mang ý nghĩa cụ thể, vừa mang ý nghĩa biểu tượng. * Ý nghĩa cụ thể: Cây xà nu được miêu tả cụ thể, gắn bó với con người Tây Nguyên: + Cây xà nu hiện lên trong tác phẩm trước hết như một loài cây đặc thù, tiêu biểu của miền đất Tây Nguyên. Mở đầu và kết thúc tác phẩm cũng bằng hình ảnh của cây xà nu. Cây xà nu, rừng xà nu như chính dân làng Xôman, như người dân Tây Nguyên nơi núi rừng trùng điệp. + Cây xà nu gắn bó thân thiết với cuộc sống người dân Tây Nguyên trong sinh hoạt hàng ngày, trong kí ức của người Xô man, trong đấu tranh chống giặc; là lá chắn bảo vệ làng Xô man trước đạn pháo giặc. * Ý nghĩa biểu tượng: - Hình tượng Rừng xà nu đau thương nhưng vô cùng đẹp đẽ biểu tượng cho sự mất mát đau thương của đồng bào Tây Nguyên và cả dân tộc. + Mở đầu trang viết, hình tượng cây xà nu nổi bật lên trong đau thương của lửa đạn chiến tranh “Cả rừng xà nu .... thành từng cục máu lớn” -> Những dòng văn gấy ấn tượng cho người đọc về sự khốc liệt của chiến tranh. + Thương tích mà rừng xà nu phải gánh chịu do đại bác của kẻ thù gợi nghĩ đến những mất mát đau thương mà đồng bào Xôman đã phải trải qua trong thời kì cách mạng miền Nam bị khủng bố khốc liệt. Hình tượng cây xà nu được xây dựng như một nhân vật anh hùng, biểu tượng về vẻ đẹp, sức sống mãnh liệt của con người Xô-man. + Trong bom đạn chiến tranh, thương tích đầy mình cây xà nu vẫn hiên ngang vươn lên mạnh mẽ như người dân Tây Nguyên kiên cường bất khuất, không khuất phục trước kẻ thù. - Hình tượng cây xà nu giống như cũng giống như các thế hệ làng Xô-man sống dưới tầm đại bác của giặc nhưng họ vẫn khát khao sống và ham sống mãnh liệt, tinh thần đoàn kết khiến kẻ thù khiếp sợ. + Cây xà nu rắn rỏi, ham ánh nắng mặt trời tựa như người Xô man chân thật, mộc mạc, phóng khoáng yêu cuộc sống tự do. + Rừng xà nu bạt ngàn, rừng xà nu trùng trùng lớp lớp các thế hệ nối tiếp cũng chính là thể hiện sự gắn bó, sức mạnh đoàn kết và sự nối tiếp bất tận của các thế hệ, gợi liên tưởng đến sức sống vô tận, bền bỉ, bất diệt của con người Xô man + Rừng xà nu tạo thành một bức tường vững chắc hiên ngang truớc bom đạn cũng là biểu trưng cho sức mạnh đoàn kết của người dân Tây Nguyên khiến kẻ thù phải kiếp sợ. ­ Kết luận: + Cây xà nu tượng trưng cho số phận đau thương và phẩm chất anh hùng của dân làng Xô man nói riêng và nhân dân Tây Nguyên nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. + Được xây dựng với cảm hứng sử thi hoành tráng, bút pháp lãng mạn. + Kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm. PHÂN TÍCH NHÂN VẬT TNÚ: Nhân vật Tnú được tác giả tập trung khắc họa tính cách lẫn số phận, mang ý nghĩa tiêu biểu cho số phận và con đường giải phóng của nhân dân Tây Nguyên. Là một chú bé gan góc, táo bạo, trung thực, trung thành với Cách mạng (giặc khủng bố dã man vẫn cùng Mai hăng hái vào rừng nuôi cán bộ, quyết tâm học tập để làm cán bộ, gan dạ dũng cảm khi làm giao liên, bị giặc bắt, bị tra tấn, quyết không khai, chỉ tay vào bụng “Cộng sản ở đây” ). Khi lớn lên, Tnú trở thành người lãnh đạo dân làng Xô man bình tĩnh vững vàng chống Mỹ Diệm. Yêu thương vợ con, dân làng và quê hương. (Chứng kiến cảnh vợ con bị kẻ thù hành hạ, biết là thất bại, anh vẫn xông ra cứu. Xa làng Tnú nhớ làng, nhớ âm thanh và nhịp điệu sinh hoạt của làng ; khi về, anh nhớ tất cả mọi người). Biết vượt lên mọi đau đớn và bi kịch cá nhân để dũng cảm chiến đấu,trả thù cho quê hương và gia đình (Khi xông ra cứu vợ con, anh bị bắt, bị đốt mười đầu ngón tay, Tnú quyết không kêu van à tiếng thét của anh trở thành hiệu lệnh cho dân làng giết giặc. Dù mất vợ con, dù hai bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt, Tnú vẫn nén đau thương, tham gia lực lượng vũ trang để góp phần giải phóng quê hương). Có tinh thần kỷ luật cao : Ba năm đi bộ đội, dù nhớ làng nhưng được phép cấp trên mới dám về thăm làng. Khi được về thăm làng, dù rất lưu luyến song anh chấp hành đúng qui định, ở lại một đêm rồi ra đi * Tác giả đặc biệt miêu tả đôi bàn tay của Tnú, gây ấn tượng sâu sắc và đậm nét, qua đó hiện lên cả cuộc đời và tính cách nhân vật (bàn tay khi còn lành lặn là bàn tay trung thực, tình nghĩa: Cầm phấn học chữ, cầm đá mài giáo, đặt lên bụng khi bị tra tấn, cầm tay Mai; với hai bàn tay không xông ra cứu vợ con – Bàn tay bị giặc đốt cụt, trở thành chứng tích tội ác của kẻ thù – Bàn tay còn hai đốt vẫn cầm được súng để bảo vệ quê hương). => Tnú là một nhân vật độc đáo, giàu chất sử thi, tập trung những tác phẩm chất cao đẹp tiêu biểu cho nhân dân anh hùng của một dân tộc anh hùng. KHUYNH HƯỚNG SỬ THI VÀ CẢM HỨNG LÃNG MẠN TRONG TÁC PHẨM RỪNG XÀ NU: Khái niệm huynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn: Khuynh hướng sử thi là một khuynh hướng trong sáng tác nghệ thuật thiên về việc phản ánh những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân tộc. Nhân vật chính thường là những con người đại diện cho tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của dân tộc, tiêu biểu cho lí tưởng của cộng đồng hơn là lợi ích và khát vọng của cá nhân. Con người chủ yếu được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, ở lẽ sống lớn và tình cảm lớn. Lời văn sử thi cũng thường mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng. Khuynh hướng sử thi thường gắn liền với cảm hứng lãng mạn . Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng khẳng định cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc và hướng tới lí tưởng. Cảm hứng lãng mạn trong văn học từ năm 1945 đến năm 1975 chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Phân tích biểu hiện của hai khuynh hướng trên: Trong tác phẩm “Rừng xà nu”, khuynh hướng sử thi được thể hiện ở việc lựa chọn đề tài, việc xây dựng nhân vật, việc sử dụng hình ảnh lẫn giọng điệu của tác phẩm. Đề tài của truyện “Rừng xà nu” nói đến vấn đề sinh tử hết sức hệ trọng không chỉ của cả cộng đồng dân làng Xô Man mà của cả dân tộc Việt Nam. Truyện viết về một thời điểm lịch sử trọng đại của cách mạng Miền Nam những năm đen tối sau Hiệp định Giơ-ne-vơ cho đến lúc Đồng khởi, nhưng đây là thời điểm tức nước vỡ bờ, nhân dân Miền Nam chuẩn bị vũ trang chiến đấu, người dân Xô man không còn cách nào khác ngoài việc đứng lên chiến đấu. Đó cũng là chuyện chung của cả Tây Nguyên, cả miền Nam, cả nước trong những ngày chiến đấu chống đế quốc Mĩ. Tình thế bị o ép của làng Xô Man trước ngày đồng khởi là bức tranh sinh động về cuộc sống đau thương của đồng bào miền Nam trong những ngày Mĩ - Diệm thi hành luật 10-59, khủng bố dữ dội những người yêu nước, những người kháng chiến cũ. Khi làng Xô Man đứng dậy thì gương mặt của làng lúc này lại chính là gương mặt của cả nước trong những ngày quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ - một gương mặt rạng rỡ, tự tin, điềm tĩnh đón nhận những thử thách mới. Biểu hiện thứ hai của tính sử thi trong Rừng xà nu là truyện ngắn đã xây dựng thành công hình tượng một tập thể anh hùng. Những anh hùng được kể tới trong đó đều có tính đại diện cao, mang trong mình hình ảnh của cả một dân tộc. Tập thể anh hùng trong Rừng xà nu là tập thể đa dạng về lứa tuổi và giới tính. Mỗi gương mặt anh hùng đều có những nét riêng, thể hiện một số phận riêng trong cuộc đời chung. Tất cả họ đều giống nhau ở những phẩm chất cơ bản : gan dạ, trung thực, một lòng một dạ đi theo cách mạng. Chiến công của mỗi người tuy đa dạng mà thống nhất. Cuốn sử vẻ vang của làng Xô Man, của Tây Nguyên không phải do riêng một người mà do tất cả mọi người viết ra. Bản trường ca của núi rừng không chỉ trỗi lên một giọng mà là sự tổng hoà của nhiều giọng. Anh Quyết, cụ Mết, anh Tnú, chị Mai, cô Dít, bé Heng là những nhân vật tiêu biểu, nhưng bên cạnh họ, đằng sau họ còn có bao người khác nữa cũng không chịu sống mờ nhạt, vô danh. Tất cả họ đều thi đua lập công, đều muốn góp phần mình vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc. Dĩ nhiên, hình tượng văn học nào cũng là sự thống nhất giữa cái cá biệt và cái phổ quát, nhưng ở Rừng xà nu, cảm hứng hướng về cái chung đã mang tính chất chi phối. Những nhân vật trong tác phẩm, tiêu biểu như Tnú, cụ Mết, thực chất là những kết tinh cao độ những phẩm chất tiêu biểu của cả cộng đồng (gắn bó với dân làng, trung thành với cách mạng, căm thù giặc sâu sắc, kiên cường bất khuất, dũng cảm chiến đấu hi sinh ...) . Lí tưởng sống của những nhân vật này luôn gắn liền với vận mệnh của cả cộng đồng. Hơn nữa, các nhân vật ở đây cũng được xây dựng thể hiện sự tiếp nối giữa các thế hệ cách mạng làng Xô Man. Cụ Mết đại diện cho thế hệ cách mạng từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp, cụ truyền lại cho con cháu truyền thống oanh liệt đó của dân làng; Tnú tiêu biểu cho ý chí và sức mạnh của cả cộng đồng; Dít, Heng là thế hệ non trẻ tiếp nối cha anh ... Vì thế, tất cả số phận của mọi nhân vật đều thống nhất với nhau, thống nhất với số phận của cả cộng đồng. Điều đó cũng thể hiện rõ nét tính sử thi của tác phẩm . Trong tác phẩm, hình tượng cây xà nu - rừng xà nu cũng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn, được xây dựng với cảm hứng sử thi hoành tráng, bút pháp lãng mạn, kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm. Mở đầu tác phẩm, nhà văn tập trung giới thiệu về rừng xà nu, một rừng xà nu cụ thể được xác định rõ: "nằm trong tầm đại bác của đồn giặc", nằm trong sự hủy diệt bạo tàn: "Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào đồi xà nu cạnh con nước lớn".Truyện mở ra một cuộc đụng độ lịch sử quyết liệt giữa làng Xô Man với bọn Mĩ- Diệm. Rừng xà nu cũng nằm trong cuộc đụng độ ấy. Xà nu hiện ra với tư thế của sự sống đang đối diện với cái chết, sự sinh tồn đối diện với sự hủy diệt. Cách mở của câu chuyện thật gọn gàng, cô đúc mà vẫn đầy uy nghi tầm vóc. Tác giả đã chứng kiến nỗi đau của xà nu: "có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão". Rồi "có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người bị đạn đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loóng, vết thương không lành được cứ loét mãi ra, năm mười hôm sau thì cây chết". Thương tích mà rừng xà nu phải gánh chịu do đại bác của kẻ thù gợi nghĩ đến những mất mát đau thương mà đồng bào Xô man đã phải trải qua trong thời kì cách mạng miền Nam bị khủng bố khốc liệt. Trong bom đạn chiến tranh, thương tích đầy mình cây xà nu vẫn hiên ngang vươn lên mạnh mẽ như người dân Tây Nguyên kiên cường bất khuất, không khuất phục trước kẻ thù. Cây xà nu rắn rỏi, ham ánh nắng mặt trời tựa như người Xô man chân thật, mộc mạc, phóng khoáng yêu cuộc sống tự do. Rừng xà nu bạt ngàn, rừng xà nu trùng trùng lớp lớp các thế hệ nối tiếp cũng chính là thể hiện sự gắn bó, sức mạnh đoàn kết và sự nối tiếp bất tận của các thế hệ, gợi liên tưởng đến sức sống vô tận, bền bỉ, bất diệt của con người Xô man. Rừng xà nu tạo thành một bức tường vững chắc hiên ngang truớc bom đạn cũng là biểu trưng cho sức mạnh đoàn kết của người dân Tây Nguyên khiến kẻ thù phải kiếp sợ. Biểu hiện thứ ba của tính sử thi ở truyện ngắn Rừng xà nu là nó đã miêu tả các sự kiện, các nhân vật anh hùng từ một cái nhìn chiêm ngưỡng, khâm phục. Các chi tiết đời thường ít được nhắc tới. Nhà văn chỉ tâm đắc với những chi tiết nào có khả năng làm phát lộ được phẩm chất anh hùng của nhân vật Cụ Mết – linh hồn của làng Xô Man – có bề ngoài oai phong lẫm liệt. Tác giả miêu tả nhân vật này với một tình cảm mến yêu, kính phục đặc biệt: Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược, ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn. Sáu mươi tuổi mà tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực Lúc cụ Mết nói, mọi người đều yên lặng lắng nghe. Tưởng như trong tiếng cụ nói có âm vang của tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng của núi rừng, của lịch sử. Và quả thật, cụ là hình ảnh tượng trưng của truyền thống vững bền. Mỗi lời cụ thốt ra kết tinh trải nghiệm của cả một dân tộc. Nó cô đúc, sâu sắc, vang vọng như những chân lí. Chả thế mà cả làng Xô Man nghe như uống từng lời cụ nói và cả rừng xà nu cũng "ào ào rung động" như một sự hoà điệu, một sự tạo nền. Ngay cuộc đời của Tnú, một cuộc đời trải ra trong chính thời hiện tại cũng đã được lịch sử hoá và nhuốm màu huyền thoại. Đêm đêm bên bếp lửa nhà ưng, cụ Mết đã kể chuyện anh cho lũ làng, cho thế hệ con cháu nghe. Anh đã trở thành niềm tự hào của làng, là một biểu tượng sống động của người anh hùng được tất cả ngưỡng vọng, học tập. Cụ Mết là một thủ lĩnh quân sự tài ba, quyết đoán. Để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu, cụ Mết đã lãnh đạo dân làng Xô Man đêm đêm thức mài vũ khí, ban ngày đi phát rẫy, trồng củ pom chu và sắn xanh mượt cả núi rừng. Trong những giờ phút nghiêm trọng nhất giữa sự sống và cái chết, cụ Mết đã chỉ huy đội du kích từ trong rừng bất ngờ xông vào nhà ưng tiêu diệt lũ ác ôn. Tiếng hô của cụ Mết vang lên : Chém ! Chém hết ! Những cây rựa sáng loáng vung lên. Dưới lưỡi mác của cụ Mết, thằng Dục chỉ huy nằm gục trên vũng máu. Mười tên giặc bị giết chết, xác ngổn ngang quanh đống lửa xà nu giữa nhà ưng. Cụ Mết được tác giả miêu tả như một người anh hùng của buôn làng. Cụ đã thắp sáng ngọn lửa chiến đấu và chiến thắng và chân lí lịch sử: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo! Cụ đã nhắc nhở dân làng Xô Man phải giữ lấy truyền thống thương núi, thương nước và truyền lại cho con cháu sau này. Cụ Mết là một hình tượng nghệ thuật đặc sắc, chứng minh cho tài năng của tác giả trong việc khắc họa, xây dựng tính cách nhân vật đậm chất anh hùng của sử thi huyền thoại. Còn với Tnu’, Tnú là một chàng trai dũng cảm phi thường, là niềm tự hào của dân làng Xô Man. Cụ Mết đã nói về anh với tất cả tình yêu thương, tự hào: Đấy, nó đấy, nó đi giải phóng quân đánh giặc, nay nó về thăm làng một đêm Nó đấy. Nó là người Strá mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta. Cuộc đời Tnú đầy máu và nước mắt như cuộc đời cùa dân làng Xô Man dưới ách thống trị tàn bạo của Mĩ – Diệm. Con đường chiến đấu của Tnú là con đường quật khởi của quê hương anh. Hai lần Tnú đi bộ ba ngày đêm lên núi Ngọc Linh để lấy một xà lét đá trắng về làm phấn, lấy một gùi đá mài đem về cho dân làng Xô Man mài Vũ khí. Hành động ấy nói lên khao khát ánh sáng cách mạng và tự do của anh. Phẩm chất anh hùng của Tnú được rèn luyện trong máu lửa chiến tranh. Thuở nhỏ Tnú vào rừng tiếp tế và bảo vệ anh Quyết, một cán bộ cách mạng họat động bí mật. Tnú được anh dạy chữ. Tuy còn nhỏ nhưng Tnú đã tin rằng: Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn. Đi giao liên, lúc thì Tnú xé rừng mà đi, vượt qua vòng vây của giặc, lúc thì cưỡi lên thác, băng băng như một con cá kình Bị giặc bắt, Tnú nhanh trí nuốt ngay thư bí mật. Bị giặc tra tấn dã man, bắt khai ra ai là cộng sản, cộng sản ở đâu ? Tnú đã đặt tay lên bụng mình và nói: Ở đây này. Lưng đầy vết chém của quân thù nhưng Tnủ vẫn bất khuất, hiên ngang, giữ vững lòng trung thành với cách mạng. Khi dân làng Xô Man âm thầm mài vũ khí chuẩn bị quật khởi đứng lên chống Mĩ – Diệm thì Tnú trở thành chỉ huy đội du kích. Bọn giặc ở đồn Đắc Hà sợ hãi, gọi anh là con cọp Tnú căm thù sôi sục quân giặc dã man. Mắt anh trở thành hai cục lửa lớn khi chứng kiến lũ ác ôn giáng trận mưa cây sắt xuống vợ con anh. Anh coi bọn thằng Dục là đồ ăn thịt người. Tnú đã nhảy xổ vào lũ giặc để cứu vợ con, hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Cảnh tượng Tnú bị giặc bắt và tra tấn, đốt cháy mười đầu ngón tay bằng giẻ tẩm nhựa xà nu đă gây xúc động mạnh mẽ tâm hồn người đọc bởi tính chất bi tráng của nó : Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc. Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, trừng trừng. Anh không kêu lên Người cộng sản không thèm kêu van Khí phách của Tnú là khí phách của người anh hùng trong các sử thi Tây Nguyên. Ở đọan văn sau, tác giả kể tình tiết Tnú xông xuống hầm ngầm giặc, không dùng súng, không dùng dao mà chì giết thằng chỉ huy ác ôn bằng mười ngón tay, ngón nào cũng bị cháy mất một đốt – đã nói lên ý chí căm thù giặc không bao giờ nguôi trong lòng anh. Lòng căm thù đã tiếp thêm sức mạnh cho Tnủ chiến đấu và chiến thắng. Nguyễn Trung Thành có chủ ý khắc họa đôi bàn tay Tnú để tô đậm phẩm chất anh hùng của đứa con yêu quý của dân làng Xô Man. Ngọn lửa xà nu cháy rừng rực trên mười ngón tay Tnú đã làm sáng bừng lên dũng khí và tinh thần bất khuất của anh. Dưới ngòi bút vừa hiện thực vừa trữ tình của Nguyễn Trung Thành, nhân vật Tnú mang vẻ đẹp huyền thoại. Mai và Dit là hình ảnh người phụ nữ mới của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thời đánh Mĩ. Thuở bé, Mai đã vào rừng tiếp tế và bảo vệ cán bộ. Mai học chữ rất giỏi, ba tháng đọc được chữ, sáu tháng làm dược toán hai con số. Khi đã trở thành người vợ, người mẹ, Mai đã dũng cảm lấy thân mình để bảo vệ đứa con thơ trước trận mưa cây sắt của thằng giặc khát máu. Dit là em gái của Mai. Lớn lên, Dit càng giống Mai. Dit bị giặc bắt khi vào rừng tiếp tế cho du kích. Lũ giặc đã biến Mai thành tẩm,bia sống. Chúng bắn sượt qua tai, bắn sém tóc Dit. Váy áo Dit bị xé rách từng mảng, Dit vẫn đứng yên, đôi mắt mở to. Từ viên đạn thứ mười trở đi, Dit chùi nước mắt, im bặt, nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng. Chỉ ba năm sau, Dit đã trở thành bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội, chỉ huy dân làng Xô Man đánh giặc. Có thể nói Mai và Dit tiêu biểu cho những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Tây Nguyên đã gắn bó cuộc đời mình với cuộc kháng chiến đau thương mà oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc. Đọc truyện Rừng xà nu, người đọc cũng không thể nào quên cậu bé Heng, mặc dù tác giả chỉ phác họa về em một vài nét. Đó là một chú bé nhanh nhẹn, thông minh, thuộc mọi con đường, những hầm chông, những giàn thò, những “ác chiến điểm” của làng mình như thuộc lòng bàn tay. Heng đeo chéo một khẩu súng trường mát ngang lưng, ra vẻ một người lính thực sự. Dẫn đường cho Tnú về đến làng, Heng tháo cây súng chống xuống đất và vui vẻ gọi to: Người già ơi, có khách đấy! Nhân vật cậu bé Heng chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc nhưng đầy ấn tượng. Đó là cái tài của Nguyễn Trung Thành trong miêu tả nhân vật. Bé Heng đã trưởng thành cùng cuộc chiến đấu vũ trang của dân làng Xô Man. Tuy còn nhỏ nhưng trong em đã hình thành phẩm chất cùa người anh hùng. Heng giống như cây xà nu mới mọc, vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã bởi bom đạn giặc. Tính sử thi của Rừng xà nu còn thể hiện ở giọng văn tha thiết, trang trọng mà tác giả đã sử dụng khi kể về sự tích của làng Xô Man. Giọng văn ấy cũng thấm đượm trong việc miêu tả thiên nhiên, khiến cho hình ảnh rừng xà nu bỗng thổi tới trong lòng người đọc một cảm giác say sưa. Ta bị cuốn theo câu chuyện không gì cưỡng nổi, tưởng mình đang được tắm trên một dòng sông mênh mang, tràn trề sinh lực, hoặc tưởng mình đang bị thôi miên bởi một bản nhạc giao hưởng hùng tráng Khuynh hướng sử thi trong tác phẩm Rừng xà nu có sự kết hợp chặt chẽ với cảm hứng lãng mạn, tạo nên chất trữ tình cách mạng. Giọng điệu chung của tác giả là trang trọng, say mê ca ngợi hòa quyện với suy tư sâu lắng. Vùng đất và con người Tây Nguyên mà nhà văn gắn bó máu thịt đã trở thành nguồn đề tài vô tận để nhà văn viết nên những tác phẩm thể hiện rõ tài năng và phong cách nghệ thuật của mình. ------------------Hết------------------

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxTuan 22 Rung xa nu_12300756.docx
Tài liệu liên quan