Tình hình hoạt động và phát triển của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả

Lời mở đầu. 1

Phần I: Quá trình hình thành và phát triển, hệ thống tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả 2

I. Quá trình hình thành, phát triển , chức năng, nhiệm vụ của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả. 2

1. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả. 2

2. Các giai đoạn hình thành và phát triển của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả. 3

3. Quy trình công nhgệ của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả. 4

II. Hệ thống tổ chức của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả. 5

1. Sơ đồ tổ chức của công ty. 5

2. Phòng tổ chức lao động của công ty. 7

2.1. Sơ đồ tổ chức của phòng. 7

2.2. Chức năng, nhiệm vụ của phòng tổ chức lao động 7

Phần II. Thực trạng sản xuất của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả trong giai đoạn hiện nay. 12

I. Tình hình sử dụng và phát huy năng lực hiện có của công ty. 12

1. Kết quả của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công ty. 12

1.1. Về sản xuất. 12

1.2. Về lao động. 15

2. Những mặt hạn chế của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả. 17

II. Hệ thống các vấn đề hiện nay công ty đang nghiên cứu và giải quyết. 18

Phần III. Những vấn đề đổi mới và phương hướng và phát triển của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả 20

I. Những vấn đề đổi mới của công ty. 20

II. Phương hướng phát triển trong tương lai. 21

III. Biện pháp thực hiện. 23

Kết luận.

doc32 trang | Chia sẻ: huong.duong | Ngày: 07/08/2015 | Lượt xem: 642 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tình hình hoạt động và phát triển của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
xuất với giám đốc những biện pháp giải quyết các yêu cầu về thuyên chuyển, cho thôi việc, cho nghỉ hưu, về mất sức đối với cán bộ cho hợp tình hợp lí và đúng chính sách, chế độ. Phân tích các nguyên nhân làm biến đổi đội ngũ cán bộ, đề xuất với giám đốc những biện pháp cụ thể để khắc phục sự biến động này. Thống kê theo dõi việc nâng lương của cán bộ công nhân viên. Tổ chức việc xét duyệt nâng lương cho cán bộ công nhân viên theo đúng chính sách chế độ và hợp tình hợp lý. Về công tác tổ chức cán bộ Bố trí, điều phối lực lượng lao động giữa các đơn vị trong công ty đảm bảo cân đối giữa nhiệm vụ sản xuất với sức lao động, xử lý hợp lý nhất nghề nghiệp, sức khoẻ, tuổi đời, giới tính của người công nhân. Cùng các đơn vị tổ chức ca làm việc, nơi làm việc sao cho có sự thống nhất, đồng bộ giữa các khâu trong dây chuyền sản xuất. Tham gia tổ chức các loại tổ sản xuất đảm bảo gọn và phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý tổ sản xuất trong từng thời kỳ. Quản lý và nắm vững đội ngũ công nhân, cán bộ kĩ thuật, xác định tỉ lệ hợp lý giữa lao động chính, lao động phục vụ, phụ trợ. Nghiên cứu, đề xuất những biện pháp tổ chức sản xuất mới, thường xuyên và định kỳ tổng kết rút kinh nghiệm về công tác tổ chức, lao động phổ biến những điển hình tốt và các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp. Chuẩn bị cho giám đốc công ty ban hành các quyết định thành lập tổ chức mới, giải thể những tổ chức cũ xét thấy không còn phù hợp hoặc cải tiến những tổ chức cũ cho phù hợp vời yêu cầu nhiệm vụ mới. Trên cơ sở cơ cấu tổ chức bộ máy, chế độ chức trách công tác đã được quy định, xúc tiến việc điều chỉnh, sắp xếp, đề bạt, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Về công tác kế hoạch Hàng năm vào cuối quý III căn cứ vào tình hình thực tế đã thực hiện nhu cầu nhân lực cho năm kế hoạch SXKD tới phòng tổ chức lao động phải xây dựng các kề hoạch sau: -Kế hoạch lao động và tiền lương. -Kế hoạch quản trị quỹ lương. -Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, nâng bậc, cập nhật kiến thức cho cán bộ công nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ. -Kế hoạch về chính sách, chế độ đối với nghười lao động. Hàng quý chủ động xây dựng các kế hoạch cụ thể từng thời gian theo quy định, theo chức năng nhiệm vụ, kế hoạch năng suất lao động, kế hoạch lao động tiền lương, kề hoạch sử dụng thời gian lao động hiệu quả phải được quan tâm. Tất cả các kế hoạch dài hạn từ 3 đến 5 năm cho đến kế hoạch quý sau khi được duyệt phải nhanh chóng đăng kí với các cơ quan kiểm soát và với các bộ phận có liên quan để tổ chức thực hiện. Về công tác định mức Căn cứ vào quy trình công nghệ sản xuất, căn cứ vào tài liệu định mức sản phẩm và điều kiện cụ thể của từng nội dung công việc để xây dựng định mức. Cùng với các đơn vị sản xuất và các bộ phận điều hành sản xuất tổ chức áp dụng các mức vào sản xuất. Thống kê theo dõi tình hình thực hiện định mức lao động, phân tích những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến việc đạt, vượt, và không thực hiện được định mức để đề ra các biện pháp đIều chỉnh và sửa đổi. Nghiên cứu các phương pháp định mức tiên tiến, khoa học phổ biến và áp dụng trong công ty. Về công tác tiền lương, tiền thưởng Căn cứ vào loại sản phẩm, căn cứ vào tình hình tổ chức sản xuất cụ thể của các đơn vị trong công ty để áp dụng các hình thức trả lương, trả thưởng đảm bảo việc tăng năng suất lao động phải nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương. Xây dựng các phương án, quy chế giao khoán quỹ lương cho các đơn vị sản xuất, quản lý điều hành trên cơ sở chính sách của Nhà nước, các quy định, hướng dẫn của tổng công ty và kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị. Lập các báo cáo thường kỳ và đột xuất theo quy định về công tác tổ hức cán bộ, lao động tiền lương gửi lên cấp trên đảm bảo đầy đủ, chính xác, kịp thời. ãNhiệm vụ của các nhân viên trong phòng Lao động tiền lương: Hàng tháng phải lập báo cáo lao động trong danh sách của toán Công ty và của các phân xưởng. Hàng ngày kiểm tra, lập báo cáo sủ dụng thời gian lao động của Công ty. Căn cứ vào báo cáo thực hiện kế hoạch hàng tháng của Công ty có kế hoạch tiền lương từng kì trong tháng, căn cứ theo mưc độ hoàn thành kế hoạch của các phân xưởng tiến hành giao, duyệt lương cho các phân xưởng. Tính toán các khoản tiền thưởng theo quỹ lương, thưởng từ lợi nhuận, thưởng tiết kiệm nguyên vật liệu để phân chia cho các bộ phận giúp Giám đốc quản lý sử dụng tiền thưởng bảo đảm đúng chế độ. Định mức viên: Xây dựng các định mức lao động phù hợp với công nghệ và các điều kiện thực tế sản xuất. Tiến hành chỉnh lí và ban hành các định mức đã được Bộ, Tổng Công ty và các phòng hữu quan của Công ty biên soạn. Theo dõi việc thực hiện các định mức lao động ở các phân xưởng kịp thời chỉnh lý các định mức chưa hợp lý. Lập các báo cáo về định mức lao động gửi cho Giám đốc và cấp trên. Cán bộ nhân viên theo dõi về chế độ: Nghiên cứu các chế độ chính sách của nhà nước, các quy định ,quy chế của các cơ quan quản lý cấp trên, của công ty. . . Theo dõi thông kê việc: nghỉ tự túc,nghỉ phép, bỏ việc, chuyên đổi… Xét duyệt các chế độ bồi dưỡng hiện vật cho các nghề độc hại, các công việc nặng nhọc theo quy định của Nhà nước. Hàng năm lập kế hoạch về bồi dưỡng hiện vật . Xây dựng kế hoạch bảo hộ lao động của Công ty. Làm các thủ tục về trợ cấp khó khăn, nghỉ hưu, nghỉ mất sức cho cán bộ công nhân viên. Duyệt các bảng công của bộ phận gián tiếp toàn Công ty. Cán bộ theo dõi về nhân lực, quản lý hồ sơ, khen thưởng kỉ luật: Hàng quý làm báo cáo chi tiết về số lượng và chất lượng của công nhân kĩ thuật theo ngành nghề. Quản lý hồ sơ lí lịch của công nhân, cập nhật các quyết định điều động nội, ngoại Công ty. Theo dõi tình hình sử dụng lao động tại các đơn vị và đề xuất với lãnh đạo các đơn vị về dự kiến điều động hoặc đào tạo, bổ sung lực lượng lao động cho các đơn vị. Lập các kế hoạch về nhu cầu lao động cân đối với nhiệm vụ sản xuất đã được duyệt cho các phân xưởng và toàn Công ty. Thống kê theo dõi việc nâng lương của cán bộ công nhân viên. Tổ chức việc xét duyệt nâng lương cho cán bộ công nhân viên theo đúng chính sách, chế độ và hợp tình, hợp lý. Tập hợp hồ sơ các vụ vi phạm kỉ luật lao động để kịp thời trình duyệt và tổ chức họp hội đồng sử lý. Công tác đào tạo: Trên cơ sở của công tác quy hoạch cán bộ, các dự án ngắn, trung và dài hạn của Công ty để xây dựng đề án, kế hoạch, tuyển dụng, đào tạo, cập nhật kiến thức, bổ túc nâng cao trình độ lý thuyết và tay nghề cho các đối tượng lao động nhằm đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao cho sản xuất. Phần II. Thực trạng sản xuất của công ty cơ khí Trung tâm Cẩm Phả trong giai đoạn hiện nay. I.Tình hình sử dụng và và phát huy năng lực hiện có của công ty. 1.Kết quả của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công ty. 1.1Về sản xuất Khi Đảng và nhà nước chủ trương chuyển toàn bộ nền kinh tế từ cơ chế quản lý theo kế hoạch tập trung sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, cũng là lúc ngành than và ngành cơ khí mỏ ( lúc này công ty cơ khí Trung tâm Cẩm Phả trực thuộc tổng công ty cơ khí năng lượng và mỏ ) gặp khó khăn chưa thể giải quyết ngay được. Để củng cố và ổn định được sản xuất, công ty đã chủ động tổ chức lại sản xuất như thiết lập dây chuyền sản xuất mới, điều chỉnh lại cơ cấu mặt hàng, mở rộng mặt hàng và thị trường tiêu thụ…nhằm nhanh chóng ổn định được sản xuất trước sự hẫng hụt đáng kể của mặt hàng truyền thống. Mặt khác khai thác có hiệu quả năng lực cơ sở vật chất hiện có. Với hướng đó trong những năm đó công ty đã từng bước khẳng định vị trí của mình trên nhiều lĩnh vực sản xuất trong cơ chế thị trường mới lạ. Những công trình công ty đã tham gia thực hiện trong những năm qua là một đóng góp không nhỏ phục vụ kịp thời những yêu cầu bức bách của nền kinh tế đất nước trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà. Cụ thể: ãSản lượng sản phẩm phục vụ ngành than hàng năm đã dần được cải thiện và tăng lên với con số bình quân chiếm 50-55% tổng doanh thu hàng năm của công ty. Bao gồm các công việc: Sửa chữa lớn thiết bị các loại: xe gạt, máy xúc, máy khoan, thiết bị sàng tuyển và các thiết bị khác. Chế tạo mới, phục hồi thiết bị, phụ tùng các loại phục vụ các mỏ. Tuy nhiên để bình ổn công ăn việc làm của công ty, sản lượng sản phẩm phục vụ ngành than cần phải được thu hút vào công ty với số lượng tăng gấp đôi so với số bình quân hiện tại. ãSản lượng các sản phẩm phục vụ cho ngành điện: Công ty có dây chuyền chế tạo các loại dây nhôm trần dẫn điện ( từA, AC16 tới AC300 ) với công suất 1000 tấn/năm, tuy nhiên những năm thực hiện cao nhất mới chỉ đạt khoảng 400 tấn/năm. Để đáp ứngcho việc cung cấp các loại cột điện thép mạ nhũng kẽm nóng cho việc xây dựng mới và cải tạo lưới điện quốc gia, công ty đã đầu tư thiết kế và xây dựng dây chuyền chế tạo hoàn chỉnh cột đIện thép mạ kẽm với công suất 5000 tấn cột điện/năm. Trong các năm từ 1990 đến 1996 dây chuyền này đã sản xuất được gần 10000 tấn cột điện các loại 110kv, 220kv, 500kv, trong đó có 2000 tấn cột điện 500kv phục vụ kịp thời cho công trình đường dây 500kv Bắc-Nam được chính phủ cấp bằng khen. Ngoài ra công ty cũng tham gia chế tạo những cột điện vượt biển lớn nhất có chiều cao tới 140 mét và trọng lượng 150 tấn/cột cho đường dây Cát Bà-Cát Hải Công ty đã tham gia chế tạo các loại ống thép chịu áp lực cho các công trình xây dựng Nhà máy thuỷ điện Thác Mơ, Vĩnh Sơn, Yali với tổng khối lượng sản phẩm là 3000 tấn ống. Dây chuyền chế tạo vỏ máy biến thế các loại với công suất 1000 vỏ/năm trong các năm từ 1990-1996 đã hoạt động có hiệu quả cung cấp kịp thời các bán thành phẩm cho công ty Chế Tạo Thiết Bị Điện Mỏ ( hiện nay do nhu cầu sản phẩm này bị thu hẹp nên dây chuyền đã được chuyển sang sản xuất các thiết bị kết cấu thép khác). Ngoài các sản phẩm chế tạo hàng loạt phục vụ ngành điện kể trên, công ty còn đảm nhận việc chế tạo phụ tùng thay thế, sửa chữa và phục hồi các loại phụ tùng thiết bị phục vụ cho việc sửa chữa duy tu các nhà máy điện : Thuỷ điện Sông Đà, nhiệt điện Ninh Bình, Phả Lại, Uông Bí. Việc mở rộng các sản phẩm ngành điện dã góp phần đáng kể tháo gỡ khó khăn và việc làm cho công ty, năm cao nhất sản lượng các sản phẩm phục vụ ngành điện chiếm tới trên 70% giá trị doanh thu của công ty. ãSản phẩm phục vụ các ngành khác: Công ty đã đầu tư xây dựng từ rất sớm dây chuyền sản xuất cán kéo thép xây dựng các loại ( thép tròn, thép vằn, thép góc, thép định hình) với công suất 7000 tấn sản phẩm/năm nhưng do thiếu vốn nhập phôi nên hàng năm chỉ đạt 1000 tấn chủ yếu bằng phôi do công ty tự đúc. Gần đây công ty đã thực hiện liên kết với một đơn vị bạn sản xuất các loại thép xây dựng bằng nguồn phôi do phía đối tác cấp với sản lượng 400 tấn/tháng vì thế dây chuyền được khai thác hiệu quả hơn. Ngoài việc tiếp cận các nhu cầu phục vụ của các nhà máy xi măng Trung ương cũng như các địa phương trong việc cung cấp các phụ tùng, thiết bị, chế tạo sửa chữa cho việc duy tu sửa chữa thường xuyên, định kì của các nhà máynày (Xi măng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn, Hà Tiên I, Hà Tiên II, La Hiên, Vạn Chánh, Quảng Ninh…). Công ty đã tham gia vào chương trình chế tạo các loại thiết bị xi măng lò đứng thay vì nhập khẩu tràn lan của Trung Quốc ( từ năm 1994 đến năm 1998 công ty đã chế tạo 8 hệ thống thiết bị xi măng lò đứng với các loại máy nghiền xi măng công suất 5,5 tấn/h, 9 tấn/h, 15 tấn/h được khách hàng đánh giá cao). Chế tạo lắp đặt hoàn chỉnh toàn bộ thiết bị nhà sàng than Uông thượng (trên 1000 tấn phụ tùng thiết bị) với công suất 1 triệu tấn/năm do Inđônêxia đầu tư. Chế tạo các loại thiết bị cho các nhà máy đường Tây Ninh, Biên Hoà, Kiên Giang, Đà Nẵng bao gồm các loại: máy sấy, máy kết tinh, máy gồm đường, bình bay hơi, bình chân không. Để tăng việc làm cho người lao động, sử dụng tốt hơn diện tích nhà xưởng và thiết bị hiện có qua nghiên cứu thị truờng và các dự án phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn Quảng Ninh, công ty dã mạnh dạn đầu tư xây dựng một xưởng sản xuất bê tông đúc sẵn các loại (trong đó đặc biệt là các loại ống bê tông li tâm chịu áp lực cao). Tới nay dây chuyền này đang hoạt động rất có hiệu quả, ngoài việc cung cấp gần như toàn bộ các cấu kiện bê tông đúc sẵn cho việc cải tạo và nâng cấp quốc lộ 18, công ty đã cung cấp cho nhiều khách hàng tiêu thụ sản phẩm này trong việc cải tạo nâng cấp hạ tầng ở các mỏ và các địa phương khác trong tỉnh. Từ năm 2001, công ty Cơ khí trung tâm trực thuộc nghành Than quản lý, đã có điều kiện thuận lợi hơn về khả năng tài chính, về thị trường trong nghành than . . .cùng với sự ra đời một số cơ chế mới của nhà nước. Công ty đã mạnh dạn đổi mới cách tổ chức sản xuất, đổi mới việc sử dụng nguồn lực lao động hiện có. Đồng thời tăng cường đầu tư chiều sâu, cải tiến tổ chức công tác thị trường . . . vì vậy sản xuất kinh doanh của công ty đã có sự tăng trưởng đáng kể. Bảng 1: Giá trị doanh thu trong 3 năm qua Năm Doanh thu(tỷ đồng) 2001 36.455 2002 66.2 2003 100 Bảng 2: Mức tăng doanh thu qua các năm Năm Tỉ lệ tăng (%) 2001 20,3 2002 81,6 2003 51,1 Bảng 3:Mức tăng doanh thu so với chỉ tiêu, kế hoạch Năm Tỉ lệ tăng doanh thu (%) 2001 21,2 2002 32.4 2003 24 Bảng 4: Thu nhập bình quân đầu người qua các năm Năm Thu nhập bình quân (đ/người) 2001 600000 2002 900000 2003 950000 4 bảng trên cho thấy trong 3 năm qua công ty có tốc độ tăng trưởng rất cao. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết quả này đó là do công ty sát nhập vào ngành than, được công ty than tạo mọi điều kiện ưu đãI như cho vay vốn, ưu tiên các đơn hàng cho công ty sản xuất…Năm 2002 là năm công ty có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Đến năm 2003 công ty đã thoát khỏi khó khăn và ddi váo sản xuất ổn định. Tóm lại với khả năng hiện có về con người, về cơ sở vật chất và các kiến thức, kinh nghiệm đã được tích luỹ trong nhiều năm, đặc biệt từ khi Đảng và nhà nước chủ trương công cuộc đổi mới chuyển toàn bộ nền kinh tế sang hoạt động theo cơ chế thị trường, công ty đã khẳng định được mình trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh 1.2 Về lao động. Những năm trước 2000 sản xuất của Công ty gặp nhiều khó khăn, đời sống của người lao động không được đảm bảo,số lao động có chất lượng cao giảm đi, số lao động phục vụ và phụ trợ đông, xử lý đối tượng này còn gặp nhiều vướng mắc. Số lao động hiện có của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả tại thời điểm 22/9/2003: Tổng số: 1398 người (nữ là 496 người, chiếm 35.4%) Trong đó: Số công nhân kĩ thuật: 1180 người (thiếu 188 người). Số cán bộ kĩ thuật: 145 người. Nhân viênphục vụ, phụ trợ, quản lí: 78 ãVề đội ngũ cán bộ kĩ thuật: Trình độ chuyên môn được đào tạo hệ chính quy: nếu năm 1989 là 80% trên tổng số cán bộ kĩ thuật đến năm 2001 chỉ là 40%. Số cán bộ kĩ thuật đào tạo tại chức đã chiếm tới 60%, chất lượng đào tạo tại chức còn hạn chế vì vậy năng lực giải quyết công việc kĩ thuật trong sản xuất kém hiệu quả . ãVề đội ngũ công nhân kĩ thuật: Những năm trước do thiếu việc làm, đời sông của công nhân khó khăn, số công nhân có tay nghề thấp thường bị nghỉ việc, số công nhân có tay nghề khá được thu hút đến nơi có thu nhập cao và ổn định. Bình quân bậc thợ của công ty thấp (4,3/7 năm 2001). Trong những năm qua thiết bị khai thác và vận tải gồm các loại máy khoan, xúc, gạt, ôtô được chế tạo tại các nước Nhật, Hàn Quốc nhập vào thị trường Mỏ chiếm tỉ trọng khá cao. Lực lượng lao động kĩ thuật của Công ty do kiến thức đào tạo ban đầu ít phù hợp với các loại thiết bị này, do vậy bị hạn chế nhiều trong việc kĩ thuật và tổ chức chế tạo phụ tùng, sửa chữa và hiệu chỉnh. Mặt khác những tiến bộ của khoa học kĩ thuật làm cho công cụ sản xuất được cải tiến không ngừng, các thiết bị được hiện đại hoá băng lắp đặt các hệ thống tự động, điều khiển, lập trình…Lực lượng lao động kĩ thuật cần phải được nâng cao thường xuyên dưới nhiều hình thức: Hội thảo, đào tạo lại, nâng cao thì mới đáp ứng được cho sản xuất. — Sự biến động lao động: Với tốc độ sản xuất như hiện nay, thì công ty có chủ trương tăng lượng công nhân kĩ thuật và cán bộ kĩ thuật đồng thời giảm lượng lao động phục vụ và phu trợ. Để thực hiện được đIũu này công ty đã tổ choc đào tạo số công nhân kĩ thuật bằng cách cho con em của cán bộ công nhân viên trong nhà máy di học tại các trường dạy nghề sau đó nhận vào nhà máy làm việc. Mặc dù công ty muốn giảm bộ phận gián tiếp, lao động phục vụ, phụ trợ nhưng số lao động gián tiếp thực tế vẫn tăng lên hàng năm do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan. Thực hiện nghị định 63/2001/CT-TTg ngày 14/9/2001 của Chính phủ về việc chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả đã tiến hành sắp xếp lại lao động trong tiến trình chuyển sang mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Công ty đã xác định số lao động cần sử dụng theo yêu cầu sản xuất kinh doanh tại thời điểm sắp xếp lại là 1343 người trong đó nữ 460 người (chiếm 34.2%). Số lao động không có nhu cầu sử dụng là 55 người, trong đó nữ 36 người (chiếm 65.4%). Nghị định 41/2002/NĐ-CP của Chính Phủ về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước ra đời đã được Công ty chấp hành nghiêm chỉnh. Công ty đã xác định số lao động thực hiện theo nghị định 41/2002/NĐ-CP là 53 người trong đó: Hưu trí: 9 người. Thôi việc: 11 người. Chấm dứt hợp đồng lao động, hưởng bảo lưu thời gian và chờ hưu: 33 người. Số lao động thực hiện theo Bộ luật lao động là 2 người. 2.Những mặt hạn chế của công ty cơ khí trung tâm Cẩm Phả. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được công ty cơ khí trung tâm Cẩm Phả vẫn còn rất nhiều hạn chế đòi hỏi cần có sự nỗ lực của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong nhà máy. Trong giai đoạn khó khăn, nhiều công nhân có trình độ tay nghề cao đã chuyển sang các cơ sở khác để có thu nhập cao hơn. Do vậy khi sát nhập vào ngành than, có nhiều việc làm, do đó lực lượng lao động chủ yếu không đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng. Hạn chế thứ hai đó là do thiếu vốn để nhập nguyên liệu nên thực sự chưa phát huy tối đa công suất thực có của công ty. Đây là một sự lãng phí rất lớn cần phải có biện pháp khắc phục nhanh chóng. Mặc dù thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên của công ty đã tăng lên trong 3 năm gần đây nhưng so với hầu hết các doanh nghiệp trong nghành than vẫn thấp hơn đáng kể, đời sống của công nhân vẫn còn khó khăn. Một trong những hạn chế cốt yếu cản trở sự phát triển của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả đó là thiết bị, công nghệ đã cũ, mấy năm vừa qua do đặc thù của cơ khí tình trạng mất cân đối giữa tổ chức sản xuất và lao động của cơ khí mỏ nói chung và cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả nói riêng là vấn đề bức xúc có liên quan đến mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Mô hình tổ chức còn cồng kềnh, lực lượng lao động gián tiếp và phụ trợ quá đông, do vậy yếu tố động lực phát triển sản xuất bị hạn chế. Nhiều năm sản xuất gặp nhiều khó khăn, đời sống công nhân bị sa sút đội ngũ thợ giỏi và cán bộ kĩ thuật bị mai một nên khi sản xuất trở lại bình thường, cần phải đáp ứng tiến độ của ngành than cũng có nhiều cái khó. II. Hệ thống các vấn đề hiện nay công ty đang nghiên cứu và giải quyết. Hiện tại ngành than đã xây dựng quy hoạch phát triển đến 2010 có xét triển vọng đến 2020 đã được thủ tướng phê duyệt, các ngành kinh tế khác trong cả nước cũng có những bước phát triển mạnh. Đây là điều kiện thuận lợi của cơ khí mỏ nói chung và công ty cơ khí trung tâm Cẩm Phả nói riêng để có bước hoạch định lên tầm cao mới. Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả đang xúc tiến đầu tư nghiên cứu chế tạo phụ tùng thiết bị cho ngành than và các ngành kinh tế khác. Công ty chuyển hướng tập trung phần lớn năng lực sản xuất sang chế tạo phụ tùng thiết bị, như chế tạo máy khoan KZ, chế tạo toàn bộ gầu máy xúc 8I, chế tạo cầu poóc tích chuyển tải có công suất 200 tấn/h. Chế tạo giá chuyển hướng toa xe theo kiểu ấn Độ (loại giá này trước kia phải nhập ngoại). Riêng phục vụ cho khai thác than hầm lò, công ty sẽ tiến hành chế tạo máy xúc đá cho khâu đào lò xây dựng cơ bản và cột thuỷ lực đơn thay thế gỗ. Để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, công ty đẩy mạnh chế tạo phụ tùng thiết bị cho các nhà máy cán thép, nhà máy điện, nhà máy sản xuất xi măng và các loại thiết bị khác cho các ngành kinh tế khác. Công ty dang khẩn trương thực hiện dự án đầu tư cơ sở vật chất để chế tạo kết cấu thép và thiết bị phi tiêu chuẩn cho các dự án nhiệt điện. Triển khai dự án đổi mới công nghệ, thiết bị để duy trì sản xuất của Công ty sau năm 2003 đến 2010. Về sửa chữa thiết bị, Công ty đầu tư hiện đại hoá thiết bị điều khiển, thiết bị kiểm tra. Mặt khác, đầu tư phân xưởng sửa chữa tập trung với trang thiết bị hiện đại đủ điều kiện sửa chữa các thiết bị khai thác, sàng tuyển và chế biến than trong giai đoạn hiện tại và sau năm 2005. Đây là những điểm quan trọng trong khâu đầu tư để nâng cao chất lượng sản phẩm cơ khí. Đây là những vấn đề rất quan trọng mà công ty đang tập trung toàn bộ năng lực nghiên cứu đáp ứng nhu cầu sản xuất trước mắt và hướng phát triển lâu dàI với mục tiêu xây dung một công ty hiện đại, quy mô và phát triển ổn định. Phần III. Những vấn đề đổi mới và hướng phát triển của Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả. I.Những vấn đề cần đổi mới của công ty. Trước thực tế nền kinh tế nước ta và các nước trên thế giới phát triển rất nhanh như hiện nay để đáp ứng được yêu cầu đó Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả cần thực hiện các vấn đề sau: Từ nhiều năm nay có thể nói các doanh nghiệp cơ khí trong nước xét về quy mô và lực lượng nói chung không phải là nhỏ so với các ngành kinh tế khác, một số chuyên gia còn cho rằng ngành cơ khí Việt Nam về quy mô và lực lượng hiện có không thua kém nhiều nước trong khu vực. Tuy nhiên do nhiều bất cập về chủ trương chính sách của nhà nước như chưa đồng bộ, chưa kịp thời và thiếu sự đầu tư cần thiết, nên sản xuất cơ khí ngày càng bị lạc hậu dần không theo kịp một số ngành khác và thiếu sự cạnh tranh với hàng nhập ngoại. Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả là một trong những điển hình của thực trạng này. Là một doanh nghiệp cơ khí sản xuất tư liệu sản xuất, so với nhiều doanh nghiệp cùng loại, công ty chưa phải đã già nua về thế hệ thiết bị công nghệ, song đại bộ phận các thiết bị đang sử dụng của công ty được sản xuất từ những năm 1970-1980 , việc đổi mới công nghệ đầu tư rất hạn hẹp. Kết cục với một cơ sở vật chất ban đầu được đầu tư rất lớn cả về con người và thiết bị, trong những năm qua mặc dù công ty đã có nhiều cố gắng vươn lên trong cơ chế thị trường song vẫn chưa thoát khỏi những khó khăn . Bên cạnh những khó khăn về thiết bị công nghệ vấn đề về sử dụng lực lượng lao động cũng gặp nhiều khó khăn. Hiện tại số công nhân có trình độ cao vẫn còn thiếu so với nhu cầu, trong khi đó số nhân viên gián tiếp lại thừa so với nhu cầu dẫn đến sự mất cân đối trong công ty. Đối với doanh nghiệp cơ khí sản xuất tư liệu sản xuất như Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả việc đầu tư chiều sâu là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa lớn lao, hiện tại Công ty chỉ cần đầu tư chiều sâu ở một số khâu như khâu Đúc, khâu Nhiệt luyện cũng có thể cải thiện được rất nhiều về chất lượng và chi phí cho phần lớn sản phẩm của công ty so với trước. Để phát huy nội lực trên lĩnh vực phát triển ngành cơ khí, Nhà nước cần có sự điều chỉnh, quy định cụ thể hơn trong cơ chế chính sách (điều chỉnh lại nghị định 42, 43/CP về việc đấu thầu). Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam tham gia đấu thầu các dự án, các công trình xây dựng cơ bản cùng với các công ty nước ngoài. Trên cơ sở đó Nhà nước cho vay một số vốn cần thiết không tính lãi để giúp các doanh nghiệp cơ khí khắc phục các khó khăn lâu nay về vốn cho sản xuất, đầu tư chiều sâu và đổi mới công nghệ. Một trong những vấn đề quan trọng cần phải được đổi mới đó là giảm đầu mối quản lý, giảm khâu trung gian bất hợp lý, giảm biên chế gián tiếp, lao động phục vụ, phụ trợ, nâng cao chất lượng lao động, tăng hiệu lực điều hành sản xuất kinh doanh từ công ty đến các phòng ban, phân xưởng, công trường, đội sản xuất. Nâng cao mức sống của người lao động. Nâng cao tri thức văn hoá, khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại nhăm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế trí thức trong thiên niên kỉ mới, đủ điều kiện để hội nhập khu vực và thế giới. II. Phương hướng phát triển trong tương lai. Những năm tới Công ty cơ khí Trung Tâm Cẩm Phả sẽ tiếp tục củng cố hoàn thiện bộ máy tổ chức sản xuất, quản lý mở rộng sản xuất kinh doanh theo các định hướng sau: ãVề sản xuất: Tập trung khai thác mọi nguồn lực, mọi nguồn vốn đầu tư duy trì ổn định, phát triển bền vững, đẩy mạnh cơ khí chế tạo kết hợp hiện đại hoá cơ khí sửa chữa, phấn đấu đạt mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước từ 14-17%. Đầu tư chiều sâu theo hướng hiện đại hoá để Công ty trở thành một cơ sở vững mạnh về chế tạo máy, máy mỏ (khai thác, sàng tuyển), máy xây dựng, thiết bị nhà máy điện, nhà máy sản xuất xi măng, tham gia chế tạo phương tiện thuỷ, tham gia lắp ráp, chế tạo toa xe tải nặng và đảm nhận sửa chữa lớn các loại máy xúc, máy ủi, máy làm đường, máy khoan cho các mỏ lộ thi

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBC497.doc
Tài liệu liên quan