Tóm tắt Luận án Nghiên cứu rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ gia cầm tỉnh Bắc Giang

Kết quả cho thấy CN của tỉnh còn thiếu tính ổn định, cụ thể với huyên Viê ̣ ṭ

Yên, tổng đàn gia cầm giảm 2,74%, trong đó đàn gà giảm bı̀nh quân 3,85%/năm.

Huyê ̣n Yên Thế có tổng đàn lớ n nhất nhưng CN vẫn mang tı́nh tự phát. Huyện Hiệp

Hòa có tốc độ tăng bı̀nh quân đàn gà là 1,56%/năm, tuy nhiên CN thủy cầm có xu

hướ ng giảm, bı̀nh quân giảm 5,1%/năm. Do thủ y cầm chủ yếu nuôi theo phương

thứ c thả đồng, thả ao, hồ, vı̀ vây chi ̣ u ta ̣ ́c động lớ n củ a dịch bênh, nhất là sau dịch ̣

cúm gia cầm năm 2012 nhiều hô gia ̣ ̉m đàn, nhất là năm 2013, 2014

pdf27 trang | Chia sẻ: lavie11 | Ngày: 08/12/2020 | Lượt xem: 49 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Nghiên cứu rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ gia cầm tỉnh Bắc Giang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cơ sở với nội dung xếp hạng mức độ rủi ro. Năm yếu tố được xếp hạng là giống gia cầm, dịch bệnh gia cầm, kỹ thuật CNGC, giá đầu vào và giá đầu ra của gia cầm. Thảo luận tập trung vào tần suất xuất hiện và mức thiệt hại của các yếu tố này. 3.7. HÊ ̣THỐNG CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu được sắp xếp theo nhóm vấn đề: (i) Các chı̉ tiêu phản ánh thưc̣ traṇg CNGC của hô ̣nông dân; (ii) Các chı̉ tiêu phản ánh thưc̣ traṇg rủi ro trong CNGC, (iii) Các chı̉ tiêu phản ánh quản lý rủi ro trong CNGC. 8 PHẦN 4. THƯC̣ TRAṆG RỦI RO TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ GIA CẦM TỈNH BẮC GIANG 4.1. SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ GIA CẦM TỈNH BẮC GIANG VÀ CÁC ĐIỂM NGHIÊN CỨU 4.1.1. Tổng quan tình hình sản xuất và tiêu thụ gia cầm tı̉nh Bắc Giang Tổng hợp theo số liệu điều tra của Sở NN và PTNT Bắc Giang (2016), CNGC của tỉnh đang có xu hướng dịch chuyển từ phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung theo hướng hàng hóa. Mặc dù tổng đàn gia cầm của tỉnh vẫn tăng trong 5 năm qua (bình quân 2,26%/năm từ 2010-2015, nhưng các nhóm hộ khác nhau có xu hướng thay đổi quy mô khác nhau. Nhóm hộ có quy mô nuôi từ 100-500 con có xu hướng giảm đi (1,82%, từ 86,4% năm 2010 xuống dưới 71% năm 2015), trong khi các nhóm hộ có quy mô lớn (từ 500 con gia cầm/năm trở lên) có tốc độ tăng nhanh (từ 17 đến hơn 21 %). Như vậy, quy mô CNGC của tı̉nh phần lớn vẫn là quy mô nhỏ. Vı̀ vậy, CNGC sẽ khó phát triển bền vững nếu tı̉nh không có chı́nh sách và quy định kiểm soát rủi ro về dịch bêṇh đồng bô ̣và hiêụ quả. Thi ̣ trường tiêu thu ̣gia cầm trong nước là chủ yếu, chưa có xuất khẩu. Tiêu thu ̣trong tı̉nh khoảng 40 - 50% sản lươṇg gia cầm thương phẩm, số còn laị tiêu thụ ngoài tỉnh, trong đó riêng thi ̣ trường Hà Nôị tiêu thu ̣khoảng 20 - 25% sản lươṇg gia cầm thương phẩm của tı̉nh. Số lượng các hơp̣ đồng mua bán haṇ chế, chủ yếu các hơp̣ đồng thưc̣ hiện là sản phẩm gia cầm đã qua giết mổ tại Công ty Cổ phần Giang Sơn và Công ty Trường Anh với các siêu thị, nhà hàng, 4.1.2. Đăc̣ điểm chăn nuôi gia cầm của các huyêṇ Kết quả cho thấy CN của tỉnh còn thiếu tính ổn định, cụ thể với huyêṇ Viêṭ Yên, tổng đàn gia cầm giảm 2,74%, trong đó đàn gà giảm bı̀nh quân 3,85%/năm. Huyêṇ Yên Thế có tổng đàn lớn nhất nhưng CN vẫn mang tı́nh tư ̣phát. Huyện Hiệp Hòa có tốc độ tăng bı̀nh quân đàn gà là 1,56%/năm, tuy nhiên CN thủy cầm có xu hướng giảm, bı̀nh quân giảm 5,1%/năm. Do thủy cầm chủ yếu nuôi theo phương thức thả đồng, thả ao, hồ, vı̀ vâỵ chiụ tác động lớn của dịch bêṇh, nhất là sau dịch cúm gia cầm năm 2012 nhiều hô ̣giảm đàn, nhất là năm 2013, 2014. 4.1.3. Kết quả chăn nuôi gia cầm của hô ̣ 4.1.3.1. Kết quả chăn nuôi gia cầm thiṭ theo vùng Kết quả chăn nuôi gà thiṭ: Yên Thế chủ yếu nuôi gà thịt theo phương thức thả đồi, tỷ lệ hộ nuôi gà thịt trên 85%, bình quân đạt 3,3 nghìn con/năm/hộ, sản lươṇg đaṭ gần 7 tấn/hộ/năm. Huyêṇ Việt Yên có qui mô đàn gà thấp nhất, bı̀nh quân 983 9 con/năm/hộ, đạt sản lươṇg trên 2 tấn/năm/hô.̣ Nguyên nhân có sự khác biệt này là do huyện Yên Thế có lợi thế vườn đồi, hộ CNGC tăng số lứa nuôi trong năm. Tỷ lệ hao hụt trong quá trình nuôi ở cả 3 huyện vẫn ở mức cao với 9% tính cho 1 lứa nuôi. Vì vậy, cần quy trình phòng bệnh hợp lý, giảm tỷ lệ gia cầm mắc bệnh, nâng cao hiệu quả CN. Kết quả chăn nuôi vịt thịt: Khác với CN gà thịt, tại huyện Hiệp Hòa mặc dù thời gian nuôi vịt thịt dài nhất, bình quân khoảng 70 ngày/lứa, tuy nhiên số lứa nuôi bı̀nh quân thấp nhất (2,27 lứa/năm) và do có nhiều hô ̣CN lớn nên sản lượng cao nhất. Tại huyêṇ Yên Thế, thời gian nuôi vịt bình quân lứa của các hộ là thấp nhất (65,1 ngày/lứa), tuy nhiên số lứa nuôi bı̀nh quân lại cao nhất (2,36 lứa/năm) và chủ yếu các hô ̣CN quy mô nhỏ nên sản lượng thấp nhất trong ba huyêṇ nghiên cứu. Có sự khác biêṭ như vâỵ là do các huyêṇ có lơị thế vùng, đăc̣ điểm tự nhiên khác nhau và định hướng SX cũng như hı̀nh thức CN và giống viṭ nuôi. 4.1.3.2. Kết quả chăn nuôi gia cầm thiṭ của hô ̣theo quy mô Kết quả cho thấy thu nhâp̣ bı̀nh quân hàng năm từ nuôi gà của các nhóm hộ có sư ̣khác biệt rõ rêṭ. Tỷ lệ thu nhập trên một đồng chi phí của hộ có quy mô lớn (> 1.000 con, hộ nhóm III) lớn nhất trong ba nhóm hộ (16,34%), thu nhập hộ nhóm I (quy mô nhỏ từ 100-500 con) thấp nhất chỉ đạt tỷ lệ thu nhập trên đồng chi phí 12,6%. Như vâỵ, có thể nói CN quy mô lớn tiết kiêṃ đươc̣ chi phı́ và tăng thu nhâp̣ cho hô ̣CN. Tuy nhiên, giá thành sản phẩm còn khá cao do chi phí thức ăn CN và chi phí thuốc thú y cao, trong khi đó giá bán sản phẩm đầu ra thiếu tính ổn định. Đây là thách thức không nhỏ đối với các hộ CN, khi phải cạnh tranh với sản phẩm cùng loại. 4.2. THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ GIA CẦM TỈNH BẮC GIANG 4.2.1. Phân loại rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ gia cầm 4.2.1.1. Rủi ro trong sản xuất Rủi ro về dic̣h bêṇh: Kết quả cho thấy, các bệnh Tu ̣ huyết trùng, Cầu trùng, Hen gà gặp phổ biến ở các hộ nuôi gà, nhất là huyện Viêṭ Yên. Tuy nhiên, so với các bệnh gia cầm khác, bêṇh đầu đen ở gà khá phổ biến ở huyện Yên Thế, chiếm 32% lươṭ hô.̣ Loaị bêṇh này thường làm cho gà giảm troṇg lươṇg thiṭ rất nhanh và xảy ra đối với hô ̣ CN quy mô lớn. Như vâỵ, ngoài nguyên nhân do quy trı̀nh quản lý dic̣h bêṇh, yếu tố vùng cũng ảnh hưởng đến tỷ lê ̣gia cầm mắc bêṇh của các hô.̣ 10 Bảng 4.1. Tỷ lê ̣hô ̣có gà mắc các bêṇh chính theo huyêṇ (2013-2015) ĐVT: % số hộ Loại bệnh gia cầm Viêṭ Yên Yên Thế Hiêp̣ Hòa BQ chung Kiểm định W n = 41 n = 103 n = 57 n = 201 1. Cầu trùng 39,02 23,30 31,58 31,30 14,25** 2. Tụ huyết trùng 43,90 22,33 35,09 33,77 21,36*** 3. Gumboro 29,27 10,68 21,05 20,33 16,73** 4. Newcastle 31,71 11,65 19,30 20,89 19,28** 5. Hen gà (CRD) 34,15 19,42 29,22 27,59 13,71** 6. Ký sinh trùng máu 21,95 17,48 19,30 19,58 22,67*** 7. Đầu đen 28,01 32,04 29,82 29,96 10,86* Ghi chú: W là tiêu chuẩn kiểm định; *, **, và *** ứng với mức ý nghĩa 10, 5, và 1%. Đối với vịt thịt, ngoài ảnh hưởng bởi đăc̣ điểm của vùng kinh tế, hình thức CN cũng ảnh hưởng tới dịch bệnh của vịt. Phần lớn hô ̣nuôi viṭ theo phương thức thả đồng, tỷ lê ̣lươṭ hô ̣có viṭ nuôi mắc bêṇh đều cao hơn hı̀nh thức nuôi nhốt, măc̣ dù đã đươc̣ các hô ̣tiêm phòng. Vı̀ vâỵ, các hộ cần hạn chế việc phát triển nuôi viṭ theo hı̀nh thức thả đồng, tăng cường hı̀nh thức nuôi nhốt, áp dụng quy trình kỹ thuật cao vào CN. Hô ̣CN quy mô lớn tỷ lệ mắc bệnh ở gà thấp hơn hộ CN quy mô nhỏ ở phần lớn các bệnh. Bởi vì quy mô CN càng lớn thì hộ áp dụng quy trình CN chặt chẽ hơn, vệ sinh phòng dịch được đảm bảo nên tỷ lệ gà mắc bệnh có xu hướng thấp hơn. Khác với quy luật của các bệnh gia cầm khác, bệnh đầu đen ở gà của hộ CN quy mô lớn có tỷ lệ gà mắc bệnh nhiều hơn. Vì vậy, cần khử trùng, rắc vôi bột chuồng trại, bãi chăn thả, để thời gian trống chuồng trại đủ để diệt được vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh. Các bêṇh thường găp̣ trong CN viṭ là dic̣h tả viṭ, viêm gan vi rút, cầu trùng và tụ huyết trùng. Đối với viṭ mắc các bêṇh này tı̉ lê ̣chết rất cao, khả năng lây lan trong đàn nhanh, tuy nhiên hai loaị bêṇh này có vắc xin phòng bêṇh, vı̀ vậy đối với hô ̣CN có quy mô lớn quy trình xử lý dic̣h bêṇh tốt thì tỷ lê ̣viṭ mắc bệnh thường thấp hơn các nhóm hộ khác. Như vậy có thể nhận xét rằng rủi ro dịch bệnh chịu tác động bởi yếu tố vùng và quy mô đàn, cũng như quy mô hộ. Rủi ro về con giống: Kết quả cho thấy, nhiều hộ sử duṇg con giống không rõ nguồn gốc, do lò ấp lưạ choṇ trứng ấp chưa đảm bảo chất lươṇg, nhiều hô ̣còn sử duṇg gà bố me ̣là thương phẩm nên chất lươṇg con giống kém, tỷ lệ hộ bị thiệt hại do con giống không đươc̣ xử lý bêṇh chiếm gần 1/4 số hộ, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro về dic̣h bêṇh. Có gần 39% số hộ cho rằng họ bị thiệt hại do con giống gà thịt không đồng nhất, bị lai tạp, nuôi chậm lớn, tiêu tốn thức ăn nhiều, giá thành sản 11 phẩm cao. Mặc dù tỷ lệ gia cầm được tiêm phòng rất cao, nhưng khi gà bị mắc bệnh thì hộ nông dân vẫn cho rằng con giống chưa được xử lý bệnh. Rủi ro về kỹ thuật: Kết quả cho thấy, phần lớn các hộ CNGC chưa nắm được hết quy trình kỹ thuật CN theo quy trình an toàn sinh học. Trên 82% số hộ CNGC còn nuôi nhốt trong khu dân cư, trong đó 100% những hộ có quy mô nuôi dưới 500 con đều nuôi cạnh nhà. Khoảng gần 27% số hộ không kiểm soát bãi chăn thả, 22,5% số hộ không làm vệ sinh chuồng trại thường xuyên. Đây là nguyên nhân dẫn đến rủi ro về dịch bệnh. So sánh giữa ba nhóm hộ (theo quy mô), hầu hết các chỉ tiêu kỹ thuật của hộ quy mô nhỏ là thấp nhất, như kiểm soát bãi chăn thả và sử dụng đệm lót sinh học (chưa được 50% số hộ sử dụng). Đây cũng là nguyên nhân nhóm hộ này có tỷ lệ gia cầm mắc bệnh cao nhất. 4.2.1.2. Rủi ro trong tiêu thụ gia cầm tỉnh Bắc Giang Rủi ro về giá thức ăn chăn nuôi: Chỉ số giá thức ăn CN giai đoạn 2013- 2015 cho thấy, đối với giá cám ăn thẳng giai đoạn 1 luôn biến động và có xu hướng tăng nhẹ qua các tháng trong năm, với tốc độ tăng 0,07%/tháng. Giá mua bình quân của các hộ là 11,25 nghìn đồng/kg. Tuy nhiên, hệ số biến động của giá lại thấp nhất (CV=1,95%). Vì giai đoạn 1 là thời gian CN ngắn nhất nên độ rủi ro thấp hơn các giai đoạn sinh trưởng còn lại của gia cầm. Giá cám ăn thẳng giai đoạn 2 và 3 có giảm hơn nhưng không đáng kể so với giá cám ăn thẳng giai đoạn 1, nhưng CV của giá lại cao hơn rất nhiều so với giai đoạn 1, đặc biệt là giai đoạn 3 có CV là 13,54%. Điều đó cho thấy rằng, CN giai đoạn 3 đối với cám ăn thẳng có rủi ro cao hơn, người CN cần có quyết định trong việc lựa chọn CN với độ dài thời gian/lứa hợp lý, nếu không phải đánh đổi rủi ro về giá. Rủi ro về giá bán sản phẩm gia cầm: Giá bán gia cầm thịt có sư ̣biến đôṇg qua các tháng trong năm, có tı́nh chất mùa vu,̣ thường giá giảm maṇh vào thời điểm từ tháng 2 đến tháng 5 hàng năm và tăng vào các thời điểm từ tháng 10 - 12 và tháng 1 của năm sau (Bảng 4.2). Đây là thời điểm nhu cầu thiṭ gia cầm tăng cao. Hê ̣số biến động của giá bán gà thiṭ là 11,21%. Với kết quả này phản ánh CN gà thịt mức ổn điṇh còn thấp, rủi ro cao. CN vịt thịt có giá bán sản phẩm ổn định hơn, hệ số biến động thấp hơn (4,52%). Nó phản ánh lợi thế của lĩnh vực CN viṭ thiṭ và trong tương lai tỉnh cũng cần chú ý để khai thác tiềm năng và thế mạnh của các nguồn lực sẵn có. Ngoài ra, cũng có thể lý giải bởi cầu về các loại sản phẩm này ổn định hơn, ít biến động hơn sản phẩm gà thiṭ qua các tháng trong năm. Vì vậy, cần có sự kết hợp trong phát triển CN gà thiṭ và viṭ thiṭ nhằm hạn chế rủi ro, phát huy lợi thế và khai thác hiệu quả mọi tiềm năng và nguồn lực của hộ. 12 Bảng 4.2. Biến động về chỉ số giá bán sản phẩm gia cầm của các hộ tỉnh Bắc Giang (2013 - 2015) Chỉ số giá bán sản phẩm CN (%) Gà thịt Vịt thịt - Tháng 1 111,31 93,16 - Tháng 2 106,91 93,66 - Tháng 3 86,10 95,68 - Tháng 4 86,61 96,94 - Tháng 5 87,29 98,45 - Tháng 6 89,31 102,48 - Tháng 7 100,14 103,99 - Tháng 8 105,89 105,75 - Tháng 9 95,24 104,74 - Tháng 10 106,06 103,73 - Tháng 11 112,83 102,22 - Tháng 12 112,32 99,20 * Giá bán SP BQ (nghìn đồng/kg) 55,62 38,67 * Độ lệch chuẩn về giá bán sản phẩm 6,26 1,75 * CV(%) về giá bán sản phẩm 11,21 4,52 Kết quả cũng cho thấy, trên 85% hộ quy mô lớn, 91% hộ quy mô vừa và khoảng 95% hộ quy mô nhỏ bán gia cầm với giá thấp hơn mức bình thường. Như vậy có thể nói, chính sách QLRR của chúng ta còn bộc lộ những hạn chế, khi xảy ra dịch bệnh, hộ CN không chỉ bị ảnh hưởng bởi giá thành cao hơn mức bình thường, mà khi đó giá bán cũng bị thấp hơn. 4.2.2. Thiệt hại do rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ gia cầm tỉnh Bắc Giang 4.2.2.1. Thiệt hại do rủi ro trong sản xuất Thiêṭ haị do dic̣h bêṇh: Số liệu các năm 2010-2015 cho thấy số gia cầm mắc bêṇh dao đôṇg từ 1,1 - 1,8 triệu con, số gia cầm chết từ 750 - 950 nghìn con. Tỷ lê ̣ gia cầm chết so với gia cầm mắc bêṇh tương đối cao và biến đôṇg khá lớn, thấp nhất là năm 2012 (47,87%) và cao nhất vào năm 2014 tới 79,27%. Kết quả cho thấy khi gia cầm bị mắc bệnh, nhất là trong đợt dịch, thì khả năng khỏi bệnh là không cao. Như vâỵ, măc̣ dù những năm gần đây tỉnh không công bố dic̣h nhưng bêṇh gia cầm ngày càng diễn biến phức tap̣, chi phí thuốc thú y ngày càng cao. Đây sẽ là một khó khăn lớn cho hô ̣CN nếu không có giải pháp đồng bô ̣ từ viêc̣ xây dựng mạng lưới thú y cơ sở đến công tác kiểm soát các cơ sở cung cấp dic̣h vu ̣ thú y trên địa bàn tı̉nh. Thiêṭ haị theo quy mô chăn nuôi: Kết quả cho thấy, các hô ̣chăn nuôi có quy mô khác nhau nhưng tỷ lệ thiệt hại trên doanh thu giữa các nhóm hộ chênh lệch 13 không nhiều (từ 7,14 đến 7,21%). Tuy nhiên, về giá trị tuyệt đối thì mức thiệt hại của các nhóm hộ có sự chênh lệch khá lớn, từ 7 đến hơn 38 triệu đồng/năm. Khác với hộ nuôi gà, đối với hộ nuôi vịt, xét theo tỷ lệ thiệt hại trên doanh thu thì dao động từ 6,3% đến 8,6%, trong khi theo giá trị tuyệt đối thì từ 2 triệu đồng/năm (hộ nhóm 1) đến hơn 16 triệu đồng/năm (hộ nhóm III) (Bảng 4.3). Bảng 4.3. Thiêṭ haị do gà bị chết và thuốc thú y tăng thêm Chỉ tiêu ĐVT Hô ̣nhóm I Hô ̣nhóm II Hô ̣nhóm III Tính chung n = 83 n = 58 n = 64 n = 201 1. Số gà chết BQ/hộ/năm con 99 201 405 227,8 Từ 1-4 tuần tuổi con 60 119 235 133,9 Từ 4-8 tuần tuổi con 23 50 101 56,1 Trên 8 tuần tuổi đến xuất bán con 16 32 69 37,8 2. Thiệt hại gà chết ước tính BQ/hộ/năm trđ 2,98 6,87 13,10 7,38 Từ 1-4 tuần tuổi trđ 0,46 0,88 1,75 1,00 Từ 4-8 tuần tuổi trđ 1,29 2,63 4,81 2,82 Trên 8 tuần tuổi đến xuất bán trđ 1,23 3,36 6,54 3,56 3. Thiệt hại do chi phí thuốc thú y tăng thêm BQ/hộ/năm trđ 3,91 12,15 25,54 12,74 4. Tổng thiệt hại trđ 6,89 19,02 38,64 20,64 5. Thiệt hại/doanh thu % 7,21 7,16 7,14 7,32 Như vậy, tỷ lệ thiệt hại trên danh thu của hộ chăn nuôi quy mô lớn thấp hơn các nhóm hộ khác, tuy nhiên sự khác biệt giữa các nhóm hộ không lớn. Hơn nữa, dịch bệnh gia cầm còn ảnh hưởng nghiêm troṇg đến việc tiêu thu ̣ sản phẩm gia cầm của hô.̣ Khi dịch bệnh bùng phát sẽ gây ra tâm lý lo ngại cho người tiêu dùng, nên giá bán giảm và lượng tiêu thụ các sản phẩm gia cầm cũng sẽ giảm đi. Điều này sẽ làm cho những người CN giảm thu nhập, đôi khi bị lỗ lớn. Thiêṭ haị do rủi ro kỹ thuật: Tỷ lê ̣gia cầm chết lớn nhất là giai đoạn từ 1 đến 4 tuần tuổi, chiếm tỷ lệ trên 60% tổng số gia cầm chết của hộ nuôi gà, trên 55% đối với hộ nuôi vịt. Do giai đoạn này sức đề kháng của gia cầm kém, đòi hỏi đảm bảo về nhiệt độ cũng như chế độ ăn thích hợp. Tỷ lệ gà bị bệnh và chết bình quân/lứa có xu hướng giảm dần từ hộ nhóm I đến nhóm III. Đối với CN viṭ thiṭ do đăc̣ điểm môi trường CN ẩm ướt, đăc̣ biêṭ là CN theo phương thức thả đồng nên khả năng nhiễm bêṇh và lây lan dic̣h bêṇh có thể cao hơn do viṭ tiếp xúc với môi trường tư ̣nhiên. Mặc dù tỷ lệ vịt bị bệnh thấp hơn gà nhưng tỷ lệ vịt bị chết lại cao hơn và xu hướng cũng khác (cao nhất là hộ nhóm I và thấp nhất là hộ nhóm II). 14 4.2.2.2. Thiệt hại do rủi ro trong tiêu thụ gia cầm Thiêṭ haị do rủi ro giá bán gia cầm: Kết quả cho thấy, rủi ro giá bán gia cầm là rủi ro lớn nhất của các hô ̣CN. Đối với các hộ quy mô lớn, thua lỗ tính trên lứa gia cầm do giảm giá là khá cao (mức thiệt hại tới 43,19 triệu/hộ/năm cao hơn 5 lần so với hộ nhóm I và gần 2 lần so với hộ nhóm II). Bảng 4.4. Thiêṭ haị do giá giảm của hộ nuôi gia cầm thiṭ Chı̉ tiêu ĐVT Hô ̣nhóm I Hô ̣nhóm II Hô ̣nhóm III Tính chung Gà thịt Vịt thịt Gà thịt Vịt thịt Gà thịt Vịt thịt Gà thịt Vịt thịt n = 83 n = 36 n = 58 n = 24 n = 60 n = 19 n = 201 n = 79 1. Sản lượng xuất bán BQ/hô/̣lứa Tấn 0,6 0,34 1,32 1,22 2,89 2,2 1,49 1,05 2. Số lứa bị giảm giá BQ/hộ/năm lứa 1,05 0,8 1,32 1,05 1,1 0,92 1,14 0,90 3. Tỷ lê ̣thiệt haị trên giá bán gia cầm % 23,96 21,33 23,33 21,12 23,25 23,96 23,57 21,90 4. Tỷ lệ hộ bị thiệt hại do giá giảm % 46,99 47,22 36,21 45,83 39,06 46,99 41,51 46,74 5. Tổng thiệt hại BQ/hô/̣năm trđ 8,62 2,23 22,52 10,26 43,19 20,88 22,95 9,15 Như vậy, tỷ lệ mức độ thiệt hại trên doanh thu của 2 loại gia cầm của 3 nhóm hộ là tương tự nhau (Bảng 4.4). Tuy nhiên, về tuyệt đối, quy mô CNGC càng lớn khi gặp rủi ro về giá thiệt hại càng cao, cho nên trong tương lai cần có giải pháp QLRR dịch bệnh, xây dựng thương hiệu sản phẩm, hạn chế rủi ro về giá bán, ổn định thu nhập cho hộ CN. Thiêṭ haị do rủi ro kép trong sản xuất và tiêu thụ gia cầm: Dịch bệnh là nguyên nhân của hầu hết các rủi ro, số lượng giảm, số ngày nuôi để xuất bán kéo dài, chi phí thuốc thú y, chi phí thức ăn chăn nuôi tăng, sản lượng tiêu thụ giảm. Khi đó do tâm lý người tiêu dùng e ngại sử dụng sản phẩm, khiến cho cầu trên thị trường giảm xuống, nên giá bán cũng giảm. Lợi nhuận mang lại cho người CNGC thấp, thậm chí lỗ trong trường hợp xảy ra dịch bệnh lớn. 4.2.2.3. Xếp hạng rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ gia cầm của hộ nông dân Từ kết quả PRA với các đối tượng hộ nông dân, cán bộ địa phương, cán bộ thú y cơ sở, rủi ro được xếp hạng theo mức độ tăng dần từ 1 đến 5 (Bảng 4.6). Có thể khẳng định rằng, rủi ro dịch bệnh của cả ba nhóm hộ có tần suất xuất hiện rủi ro cao nhất, xét về mức độ thiệt hại rủi ro giá bán lớn nhất. Tuy nhiên, xét về mức nghiêm trọng, rủi ro dịch bệnh là một nguyên nhân dẫn đến rủi về giá bán. Trong 15 nghiên cứu về các trang trại CNGC tại tỉnh Thái Bình, Nguyễn Thị Thu Trang và cs. (2016) cũng cho rằng ngoài rủi ro năng lực SX (được xác định dựa trên lợi nhuần của trang trại) thì 3 loại rủi ro được xếp hạng cao nhất là rủi ro dịch bệnh, giống và đầu ra. Đây là những rủi ro chiếm chủ yếu trong CNGC của các trang trại. Bảng 4.5. Mức độ thiệt hại do rủi ro kép trong chăn nuôi gia cầm ĐVT: 1.000 đồng Chı̉ tiêu Hộ không gặp rủi ro Hộ gặp rủi ro Chênh lệch 1. Chi phí thuốc thú y BQ/kg gia cầm 1,14 1,40 +0,26 2. Giá bán bình quân 1 kg gà thịt 59,12 45,10 -14,02 3. Giá bán bình quân 1 kg vịt thịt 40,5 31,8 -8,7 Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định thiệt hại do rủi ro tập trung vào hai nguyên nhân chính là rủi ro do giá bán và dịch bệnh trong CNGC của hộ. Mức thiệt hại này được tính trên tổng số bình quân hộ và so sánh với doanh thu của hộ Bảng 4.6. Xếp hạng rủi ro trong chăn nuôi gia cầm của hộ Loại rủi ro Hộ nhóm I Hộ nhóm II Hộ nhóm III Tần suất xuất hiện Mức độ thiệt hại Tần suất xuất hiện Mức độ thiệt hại Tần suất xuất hiện Mức độ thiệt hại Giống gia cầm 4 4 4 4 5 4 Dịch bệnh 1 2 1 2 1 2 Kỹ thuật 5 5 5 4 5 5 Giá đầu vào 3 3 3 3 3 3 Giá đầu ra 2 1 2 1 2 1 Mức độ thiệt hại do rủi ro giá bán và dịch bệnh của hộ nuôi gà lớn hơn nhiều so với thiệt hại của hộ nuôi vịt, xét về mức độ tuyệt đối. Hộ nuôi gà thiệt hại từ gần 16 triệu đồng (hộ nhóm I) đến hơn 82 triệu đồng (hộ nhóm III), trong khi với hộ nuôi vịt, mức thiệt hại tương ứng từ 4 triệu đến gần 38 triệu đồng/hộ/năm. Xét theo tỷ lệ tương đối, trừ hộ nuôi vịt nhóm III có tỷ lệ thiệt hại trên doanh thu lớn hơn 19%, còn lại các nhóm hộ khác, mức thiệt hại trên doanh thu xấp xỉ nhau (dao động từ 15-16%). Hộ nuôi vịt quy mô lớn, tỷ lệ thiệt hại trên doanh thu cao nhất, do nhóm này chủ yếu CN thả đồng, tỷ lệ gia cầm bệnh, chết cao hơn (Bảng 4.7). Như vậy CNGC cần thay đổi phương thức SX, áp dụng quy trình kỹ thuật cao vào SX, liên kết SX-tiêu thụ để giảm thiểu rủi ro. 16 Bảng 4.7. Thiệt hại do rủi ro trên doanh thu bình quân hộ Chı̉ tiêu ĐVT Hô ̣nhóm I Hô ̣nhóm II Hô ̣nhóm III Tính chung Gà thịt Vịt thịt Gà thịt Vịt thịt Gà thịt Vịt thịt Gà thịt Vịt thịt n = 83 n =36 n = 58 n =24 n =60 n =19 n =01 n =79 1. Thiệt hại do dịch bệnh Trđ 7,29 2,03 18,93 7,33 39,63 16,79 20,30 7,19 2. Thiệt hại do giá bán giảm Trđ 8,62 2,23 22,52 10,26 43,19 20,88 22,95 9,15 3. Tổng thiệt hại BQ//hộ/năm Trđ 15,91 4,26 41,45 17,59 82,82 37,67 43,25 16,34 4. Thiệt hại/doanh thu % 15,74 15,98 15,68 15,00 15,31 19,29 15,59 16,48 4.2.3. Quản lý, ứng xử với rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ gia cầm trên điạ bàn tı̉nh Bắc Giang 4.2.3.1. Ứng xử của hô ̣nông dân về rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ gia cầm a. Ứng xử của hộ nông dân về rủi ro sản xuất Về rủi ro dịch bệnh: Phần lớn các hộ nông dân có nhu cầu về bảo hiểm vật nuôi (BHVN), tuy nhiên nhiều nông hộ ít hiểu biết về cơ chế hoạt động của nó nên họ chưa tham gia BHVN. Đối với phòng dic̣h bêṇh, phần lớn các hộ CN nhóm III thực hiện nghiêm túc quy trình phòng bệnh gia cầm, 100% thực hiện tiêm phòng vắc xin và phun thuốc sát trùng, rắc vôi bột chuồng trại. Hộ CN nhóm II, nhóm III chú trọng việc sử dụng thuốc phòng bệnh trộn vào thức ăn để tăng sức đề kháng cho gia cầm. Tuy nhiên, tỷ lệ này rất thấp, đối với hộ nhóm I chỉ đạt trên 45%. Đối với kiểm soát dic̣h bêṇh, khi gia cầm mắc bêṇh phần lớn các hô ̣ lưạ choṇ phương án nhốt riêng gia cầm để điều tri ̣, hạn chế lây lan bêṇh trong đàn. Biện pháp này được áp dụng cao nhất ở hộ nhóm III với 83,75% số hô,̣ trong khi đó hộ nhóm I chỉ đạt 50%. Viêc̣ bán chaỵ gia cầm bêṇh vẫn còn tồn taị ở một số hộ, nhất là hộ quy mô nhỏ. Vı̀ vâỵ, cần thiết phải tăng cường công tác tâp̣ huấn kỹ thuâṭ CN và công tác phòng bêṇh cho hô.̣ Về rủi ro con giống gia cầm: Ứng xử về con giống của các hộ nông dân có sự khác biệt giữa các huyện. Huyện Yên Thế rất quan tâm đến chất lượng con giống và xử lý bệnh của con giống, khi giá con giống tăng nhiều hộ nông dân vẫn tiếp tục nuôi, tuy nhiên còn hơn 52% số hộ giảm quy mô. Đối với hộ CN của huyện Việt Yên, Hiệp Hòa ít quan tâm hơn đến chất lượng con giống, giá cả cũng ít ảnh hưởng đến quyết định CN của hộ do họ có quy mô CN ít hơn nên ảnh hưởng 17 của giá bán không lớn. Việc xử lý con giống kém chất lượng khó khăn hơn đối với hộ quy mô lớn, khi gặp chất lượng con giống kém vẫn phải tiếp tục nuôi. Về rủi ro kỹ thuật: Tỷ lệ hộ tham gia ít nhất một lớp tập huấn khá cao (trên 2/3). Tuy nhiên, tı̀nh hı̀nh tiếp câṇ kỹ thuâṭ CN của hộ ở các huyêṇ rất khác nhau. Tỷ lê ̣tâp̣ huấn thường xuyên ky ̃thuâṭ CN của hộ ở huyêṇ Yên Thế đaṭ 84%, Hiêp̣ Hòa đạt 72% và chủ yếu do các trung tâm khuyến nông, thú y, công ty thức ăn, công ty thuốc thú y tổ chức, trong khi đó Viêṭ Yên mới chı̉ đạt 34%. Viêc̣ tiếp cận kỹ thuâṭ CN, haṇ chế rủi ro trong SX chưa đươc̣ các hô ̣CN ở đây chú troṇg, vì vâỵ tỷ lê ̣gia cầm bêṇh của huyêṇ này khá cao. b. Ứng xử của hô ̣nông dân về rủi ro tiêu thụ Về rủi ro giá đầu vào: Nhâṇ thức của hộ nông dân về vấn đề CN thông qua các hơp̣ đồng còn haṇ chế, phần lớn hô ̣ cho rằng có lợi ích từ việc mua thức ăn CNGC ở địa điểm cố định để được mua chịu (trên 50% số hộ huyện Yên Thế, 51% hộ Hiệp Hòa và 30% số hộ Việt Yên). Hầu hết các hộ CN cho rằng, nên mua cám ở điểm cố định để không phải ký hợp đồng. Như vâỵ, thiếu sư ̣liên kết giữa hô ̣CN với cơ sở cung cấp thức ăn CN, và CN theo hợp đồng còn chưa đươc̣ coi troṇg. Rủi ro giá bán sản phẩm gia cầm: Đối với việc chia sẻ rủi ro: (i) Viêc̣ liên kết với các doanh nghiêp̣ chỉ đaṭ 19% đối với hô ̣CN quy mô lớn, 11% đối với hô ̣ CN quy mô vừa, chưa có liên kết đối với hô ̣quy mô CN nhỏ. Họ chủ yếu tham gia vào các hội CN để hỗ trợ kinh nghiệm và trao đổi thông tin, song việc liên kết còn thiếu tính chặt chẽ. Đây là điểm yếu và điều đó đã làm người CN gặp nhiều rủi ro và chịu thiệt hại khi đối mặt với sự ép giá của tư thương, vì vậy, cần có sự hỗ trợ của các cấp chính quyền trên địa bàn huyện, tỉnh trong việc tìm kiếm thị trường và liên kết người SX và người tiêu thụ; (ii) Tiêu thụ qua hợp đồng chưa được hộ quan tâm, hợp đồng chỉ được các hộ quy mô lớn thực hiện nhưng tỷ lệ chỉ đạt 15%. Về hình thức tiêu thụ, các hộ nhóm I chủ yếu là bán gia cầm cho thương nhân, số lượng gia cầm bán cho lò giết mổ còn hạn chế. Đó chính là một trong những nguyên nhân làm cho hộ nông dân gặp rủi ro về giá bán khi tiêu thụ gia cầm. Đối phó rủi ro: Khi giá bán gia cầm giảm, phần lớn các hô ̣CN lưạ choṇ bán ngay đàn gia cầm khi đến lứa, nhất là hô ̣nhóm III với trên 78%. Do không chủ đôṇg về giá bán, tâm lý của hô ̣lo sơ ̣giá bán se ̃tiếp tuc̣ giảm, hơn nữa kéo dài thời gian CN giá thành se ̃tăng và họ bị lỗ. Hộ chưa có ứng xử và Q

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnghien_cuu_rui_ro_trong_san_xuat_va_tieu_thu_gia_cam_tinh_bac_giangtt_1701_1937772.pdf
Tài liệu liên quan