Tóm tắt Luận án Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam

Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH KẾ

TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

XÂY DỰNG GIAO THÔNG

2.1 Khái quát cơ sở lý luận về mô hình kế toán quản trị chi

phí trong doanh nghiệp

Kế toán quản trị ra đời từ những năm 1850 ở Mỹ và nó đã trở

thành một công cụ của các nhà quản trị doanh nghiệp. Kế toán quản

trị chi phí không ngừng phát triển và hoàn thiện đáp ứng sự thay đổi

của môi trường kinh doanh, phương pháp quản trị, từ đó hình thành

nhiều quan niệm về kế toán kế toán quản trị chi phí. Theo tác giả: Kế

toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị

nhằm cung cấp thông tin chi tiết về chi phí sản xuất của từng bộ phận

nhằm giúp nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng quản trị.

Nói cách khác thông tin kế toán quản trị chi phí được sử dụng bởi

các nhà quản trị để đưa ra quyết định quan trọng của họ

pdf27 trang | Chia sẻ: lavie11 | Ngày: 18/12/2020 | Lượt xem: 110 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
xây dựng và áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí vào các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam cần thực hiện những giải pháp nào? 1.2.3 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí xây lắp trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam. Về không gian: Các doanh nghiệp xây dựng giao thông ở Việt Nam. Trong đó, phạm vi khảo sát chọn mẫu 522 doanh nghiệp xây dựng giao thông điển hình ở Việt Nam. 5 Về thời gian: Nghiên cứu xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông. Khảo sát, nghiên cứu số liệu kế toán quản trị chi phí từ năm 2010 đến năm 2015. 1.2.4 Phương pháp nghiên cứu Dữ liệu thứ cấp: Nguồn thông tin thứ cấp được thu thập từ các nguồn tài liệu của thư viện, các báo cáo chuyên môn của các cơ quan quản lý Nhà nước và Tổng cục thống kê, các tài liệu được đăng tải trên các trang web. Bên cạnh đó, dữ liệu thứ cấp còn được sử dụng từ các công trình nghiên cứu đã được công bố như: các bài báo khoa học, luận án Dữ liệu sơ cấp: là các thông tin thu thập qua điều tra phỏng vấn trực tiếp hoặc điều tra qua bảng câu hỏi. Đối tượng khảo sát và phỏng vấn là các nhà quản trị và kế toán trưởng, kế toán tổng hợp của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng giao thông. Với số lượng 1.585 phiếu được gửi ngẫn nhiên đến các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng giao thông có tính chất sở hữu, quy mô khác nhau và có cả đại diện của cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Tác giả đã thu thập được 522 phiếu đảm bảo tính đại diện của mẫu khảo sát. Số phiếu thu đã được tác giả tổng hợp và phân tích bằng công cụ Excel. Để thực hiện phân tích thông tin nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp định tính và định lượng như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu tình hình thực tiễn, phương pháp phỏng vấn, phương pháp tổng hợp, phân tích và phân tích SWOT. 6 Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG GIAO THÔNG 2.1 Khái quát cơ sở lý luận về mô hình kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Kế toán quản trị ra đời từ những năm 1850 ở Mỹ và nó đã trở thành một công cụ của các nhà quản trị doanh nghiệp. Kế toán quản trị chi phí không ngừng phát triển và hoàn thiện đáp ứng sự thay đổi của môi trường kinh doanh, phương pháp quản trị, từ đó hình thành nhiều quan niệm về kế toán kế toán quản trị chi phí. Theo tác giả: Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin chi tiết về chi phí sản xuất của từng bộ phận nhằm giúp nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng quản trị. Nói cách khác thông tin kế toán quản trị chi phí được sử dụng bởi các nhà quản trị để đưa ra quyết định quan trọng của họ. Quan niệm về mô hình kế toán quản trị chi phí Mô hình kế toán quản trị chi phí là việc tổ chức bộ máy kế toán và thiết lập quy trình thực hiện những nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi phí nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị. Chủ thể xây dựng và sử dụng mô hình kế toán quản trị chi phí chính là nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp. Chủ thể vận hành mô hình là đội ngũ những người làm công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Việc xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động quản lý điều hành sản xuất kinh doanh từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó mô hình kế toán 7 quản trị chi phí được xây dựng phải đảm bảo yêu cầu về tính khái quát, đơn giản và hiệu quả. 2.2 Phương pháp luận của việc xây dựng và sử dụng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Sản phẩm xây dựng giao thông là các tuyến đường, các cây cầu, nhà ga, bến cảng trực tiếp hay gián tiếp phục vụ cho quá trình vận chuyển hàng hoá, hành khách. Đặc điểm về sản phẩm và quy trình sản xuất của doanh nghiệp xây dựng giao thông có những nét đặc trưng riêng ảnh hưởng đến quy trình xây dựng và sử dụng mô hình kế toán quản trị chi phí. Do đó việc xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông chịu ảnh hưởng của các nhân tố khách quan và chủ quan. Mô hình kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng giao thông bao gồm hai khâu quan trọng đó là xây dựng bộ máy kế toán quản trị chi phí và phương thức thực hiện những nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi phí. Xây dựng bộ máy kế toán quản trị chi phí Xây dựng bộ máy kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông là việc sắp xếp, bố trí nhân sự kết hợp với các phương tiện trang thiết bị để thu thập, kiểm tra, xử lý thông tin chi phí xây lắp và cung cấp thông tin trong nội bộ doanh nghiệp. Phương thức thực hiện nội dung kế toán quản trị chi phí Một là, phân loại chi phí. Muốn quản trị được chi phí các nhà quản trị cần phải nhận diện được chi phí, do đó phân loại chi phí là khâu quan trọng trong công tác kế toán chi phí. 8 Hai là, lâp dự toán chi phí xây lắp công trình. Dự toán chi phí được lập căn cứ vào hệ thống định mức, khối lượng và tiến độ thi công, bộ phận kế toán quản trị chi phí lập các dự toán chi tiết. Ba là, ghi nhận chi phí sản xuất và giá thành công trình, hạng mục công trình. Do tính chất đặc thù của sản phẩm xây dựng giao thông nên mô hình sử dụng phương pháp xác định chi phí theo đơn đặt hàng. Bốn là, phân tích chi phí sản xuất phục vụ cho việc ra quyết định. Việc phân tích thông tin chi phí được kế toán quản trị phân tích hướng tới hai mục tiêu chính là kiểm soát chi phí và phân tích phục vụ việc ra các quyết định kinh doanh. Năm là, tổ chức kế toán trách nhiệm chi phí. Trung tâm trách nhiệm chi phí là trung tâm được tổ chức nhằm tăng cường trách nhiệm về chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sáu là, đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí sản xuất của từng bộ phận. Để đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí trong quá trình thi công, các doanh nghiệp xây dựng giao thông cần lập báo cáo giá thành sản xuất cho từng hạng mục công trình. Bảy là, xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí. Hệ thống báo cáo là sản phẩm của mô hình kế toán quản trị chi phí nhằm mục đích cung cấp được các thông tin quá khứ, hiện tại và tương lai ra theo yêu cầu của nhà quản trị. 2.3 Phương pháp đánh giá và điều chỉnh mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Để sử dụng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông một cách có hiệu quả luận án đã làm rõ mục đích sử dụng mô hình, xác định đúng chủ thể sử dụng, chủ thể 9 vận hành mô hình. Đồng thời, luận án đã đưa ra phương pháp vận hành và sử dụng mô hình mô hình nhằm phát huy tính hiệu lực hiệu quả cũng như điều chỉnh những sai lệch khi vận hành mô hình. Mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông được đánh giá về mặt chất lượng của mô hình và chất lượng sử dụng mô hình. Chương 3. THỰC TRẠNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG GIAO THÔNG VIỆT NAM 3.1 Khái quát về các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam Doanh nghiệp xây dựng giao thông ban đầu là các đơn vị, các xí nghiệp xây dựng được hình thành làm nhiệm vụ mở đường và phá đường, cầu, cống và các hệ thống giao thông phục vụ kháng chiến. Hòa bình lập lại, các đơn vị xây dựng giao thông thực hiện nhiệm vụ xây dựng những cây cầu, những con đường, nhà ga... theo mệnh lệnh. Từ năm 1986 đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế theo kinh tế thị trường, các đơn vị xây dựng giao thông chuyển đổi dần sang mô hình doanh nghiệp. Tham gia vào hoạt động xây dựng giao thông không chỉ có các doanh nghiệp Nhà nước mà còn có các doanh nghiệp thuộc khối tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tỷ trọng vốn đầu tư của nhà nước trong lĩnh vực xây dựng giao thông có xu hướng giảm từ 20,2% năm 2009 xuống 9,9% năm 2014. Khối các doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này có xu hướng tăng, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 3,5% năm 2011 lên 6,5% 10 năm 2014. Đây chính là sự đổi mới rất lớn trong chính sách thu hút đầu tư của Nhà nước. Các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam thường tổ chức thành các đội, tổ sản xuất mang tính chuyên môn hoá theo lĩnh vực công việc riêng hoặc tổng hợp. Cơ chế khoán được áp dụng cho hầu hết các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam. Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán Bộ máy kế toán vừa tập trung, vừa phân tán là hình thức phù hợp và hiệu quả đối với doanh nghiệp xây dựng giao thông. Số lượng nhân viên của phòng kế toán phụ thuộc vào quy mô của mỗi doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đều sử dụng các phần mềm kế toán. 3.2 Phân tích thực trạng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam Để triển khai nghiên cứu, tác giả đã khảo sát thực trạng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam có quy mô vốn, hình thức sở hữu khác nhau ở ba miền Bắc, Trung Nam. Nội dung khảo sát nghiên cứu về mô hình tổ chức và cách thức thực hiện những nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi phí. 3.3 Đánh giá thực trạng xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam Những kết quả đã đạt được và nguyên nhân Về tổ chức bộ máy kế toán: Các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam có tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí theo mô hình kết hợp. Về thực những nội dung cơ bản của kế toán quản trị 11 Một là, về phân loại chi phí. Chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông đã được phân loại theo nội dung và chức năng, phân loại chi phí theo khả năng quy nạp đối với từng công trình, hạng mục công trình và phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng xây lắp. Việc nhận diện đúng và phân loại chi phí đã đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin kịp thời, hữu ích cho các nhà quản trị để ra các quyết định. Hai là, về lập dự toán chi phí xây lắp công trình. Các doanh nghiệp xây dựng giao thông đều tuân thủ chặt chẽ các quy định trong việc lập dự toán chi phí. Dự toán chi phí xây lắp được lập để làm hồ sơ tham gia đấu thầu và dự toán được lập khi giao khoán cho các đội thi công. Các bản dự toán này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanh quyết toán cũng như kiểm tra thanh tra. Ba là, về ghi nhận chi phí sản xuất và tính giá thành công trình, hạng mục công trình. Chi phí và giá thành được xác định qua việc hạch toán chi tiết, đầy đủ các chi phí phát sinh phù hợp với đặc điểm hoạt động xây dựng giao thông. Các khoản mục chi phí đã được tổng hợp trên các tài khoản phục vụ thuận lợi cho việc tính giá thành, lập báo cáo chi phí sản xuất và các báo cáo tài chính. Bốn là, việc phân tích chi phí sản xuất phục vụ ra các quyết định. Các doanh nghiệp xây dựng giao thông đã thực hiện phân tích chi phí sử dụng vào các mục đích như: xác định giá đấu thầu, lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, lập báo cáo theo yêu cầu của nhà quản trị, quản trị chi phí, cung cấp thông tin để ra quyết định, cung cấp thông tin để tổng hợp lập báo cáo tài chính. Năm là, việc đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí của từng bộ phận. Việc áp dụng cơ chế khoán đã tạo thế chủ động trong việc lập tiến độ 12 thi công giúp các đội xây lắp chuẩn bị tốt các yếu tố đầu vào đảm bảo sản xuất liên tục góp phần nâng cao chất lượng công trình và tiết kiệm chi phí sản xuất. Đồng thời các bản giao khoán là một trong những căn cứ để đánh giá hiệu quả của đội xây lắp. Những hạn chế và nguyên nhân Những hạn chế Thứ nhất, hầu hết các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam chưa xây dựng và triển khai mô hình tổ chức kế toán quản trị chi phí phù hợp để kiểm soát chi phí dẫn đến tỷ lệ thất thoát trong xây dựng còn ở mức cao. Thứ hai, việc phân loại chi phí chưa đảm bảo yêu cầu của việc lập kế hoạch và kiểm soát thường xuyên. Thứ ba, việc phân tích thông tin chi phí chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin cho việc ra quyết định điều hành sản xuất kinh doanh của nhà quản trị. Thứ tư, phần lớn doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam chưa tổ chức kế toán trách nhiệm. Thứ năm, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán của phần lớn doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam chưa đồng bộ. Như vậy, hầu hết các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam hiện nay chưa xây dựng và chưa áp dụng mô hình kế toán quản trị chi phí. Cụ thể, các doanh nghiệp này chưa tổ chức bộ máy mô hình kế toán quản trị chi phí. Một số nội dung của công tác mô hình kế toán quản trị chi phí được thực hiện bởi các nhân viên của bộ phận kế toán tài chính nhưng không có sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng. Do đó thông tin cung cấp cho các nhà quản trị 13 được bộ phận kế toán tổng hợp từ các thông tin của kế toán bộ phận kế toán toán tài chính đã làm giảm tính kịp thời của thông tin. Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế Những nguyên nhân chủ quan Một là, các nhà quản trị doanh nghiệp chưa nhận thức được vai trò của kế toán quản trị chi phí. Theo kết quả khảo sát thì hầu như các lãnh đạo doanh nghiệp chỉ quan tâm tới nghĩa vụ nộp thuế của kế toán tài chính, ít quan tâm đến thông tin kế toán quản trị chi phí. Do vậy, kế toán quản trị chi phí chưa có điều kiện để ứng dụng vào hoạt động cung cấp thông tin cho điều hành sản xuất. Nhiều nhà quản trị thường ra quyết định dựa trên các phán đoán mang tính cá nhân và kinh nghiệm vốn có. Phần lớn các nhà quản trị trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông thường trưởng thành chủ yếu từ những cán bộ kỹ thuật thi công lâu năm. Họ là những kỹ sư chỉ đạo thi công giỏi nhưng kiến thức về kế toán và kế toán quản trị chi phí bị hạn chế nên họ chưa thấy được tầm quan trọng của kế toán quản trị chi phí. Hai là, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của người làm kế toán và kế toán quản trị chi phí bị hạn chế. Theo kết quả khảo sát, các doanh nghiệp đều bố trí người làm kế toán. Bên cạnh những nhân viên có trình độ chuyên môn cao, còn có một bộ phận không nhỏ kế toán của các doanh nghiệp xây dựng giao thông năng lực làm việc yếu kém. Những nhân viên có năng lực yếu kém được xắp xếp làm kế toán ở các đội xây lắp. Có tới 18,5% doanh nghiệp được hỏi bố trí người làm kế toán ở các độ xây lắp không đúng chuyên ngành đào tạo trong khi kế toán làm việc trực tiếp tại các đội xây lắp có vị trí rất quan trọng trong việc thu thập và cung cấp thông tin cho nhà quản trị. 14 Ba là, chế độ đãi ngộ không hấp dẫn. Hiện nay, các doanh nghiệp xây dựng giao thông không tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí riêng mà sử dụng nhân viên kế toán tài chính kiêm nhiệm nhưng mức thù lao không đủ hấp dẫn. Bên cạnh đó quan niệm kế toán quản trị chi phí là công tác nội bộ nên cơ hội thăng tiến trong công việc bị hạn chế làm cho các kế toán viên hào hứng với kế toán quản trị chi phí và nếu có bị ép buộc phải làm thì hiệu quả cũng không cao. Những nguyên nhân khách quan Một là, kế toán quản trị chi phí là một vấn đề khá mới mẻ đối với các DNXDGT Việt Nam. Hai là, môi trường cạnh tranh không lành mạnh. Sự kiện Việt Nam ra nhập WTO và tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế làm tăng mức độ cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, thời gian gia nhập WTO chưa đủ dài để các doanh nghiệp đổi mới tư duy về cơ chế xin cho. Vì vậy, nhu cầu thông tin từ bộ phận kế toán quản trị chi phí chưa thục sự trở nên bức thiết đối với đa số các doanh nghiệp xây dựng giao thông hiện nay. Ba là, chưa có cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về kế toán quản trị. Từ những phân tích, đánh giá trên cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam mới thực hiện một số nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi phí. Các doanh nghiệp này chưa có được những giải pháp hữu hiệu để triển khai ứng dụng mô hình kế toán quản trị chi phí đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin cho các nhà quản trị ra các quyết định. Do đó, việc nghiên cứu triển khai ứng dụng mô hình kế toán quản trị chi phí phù hợp đang là vấn đề cấp thiết được đặt ra. 15 Chương 4. HOÀN THIỆN XÂY DỰNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG GIAO THÔNG VIỆT NAM 4.1 Bối cảnh và sự lựa chọn mô hình kế toán quản trị chi phí kết hợp cho các DNXDGT Việt Nam Bối cảnh quốc tế Theo Tổ chức Oxford Economics dự báo chi tiêu xây dựng toàn cầu vào năm 2025 có thể đạt 15 nghìn tỷ USD, tăng 70% so năm 2012. Do Trung Quốc đang chịu tác động xấu từ khủng hoảng nhà đất, nên tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế này đang chậm lại so với thời kỳ trước. Ngoài ra, do những nỗ lực phục hồi kinh tế ở Mỹ đang phát huy tác dụng, tốc độ tăng trưởng GDP của quốc gia này cũng đang dần hồi phục. Do vậy, dự đoán sẽ có sự chuyển dịch nhẹ từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, nên việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, kế toán trở thành một xu hướng tất yếu của các công ty xây dựng trên thế giới. Bối cảnh trong nước Với xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, Việt Nam đang thu hút một lượng vốn đầu tư rất lớn từ phía nước ngoài. Các dự án đầu tư đó ở nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế như: Dự án giao thông, điện, nước, nông nghiệp, y tế, giáo dụcĐể triển khai các dư án đó đều có sự tham gia của các doanh nghiệp xây dựng dựng giao thông. Theo chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Chiến lược này đã dành sự quan tâm lớn cho đầu tư phát triển giao 16 thông; trong đó, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông có bước phát triển đáng kể, bước đầu cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền. Theo số liệu thống kê, Việt Nam có khoảng 40% số lượng đường bộ trong hệ thống giao thông có chất lượng thấp. Vì vậy, đến năm 2020 lượng vốn ước tính cần thiết cho việc nâng cấp hệ thống đường bộ sẽ lên tới 48-60 tỷ đô la. Đồng thời việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho hình thức PPP sẽ mở ra triển vọng thu hút ốn đầu tư tư nhân trong lĩnh vực xây dựng giao thông. Căn cứ vào bối cảnh trong nước, quốc tế và chiến lược phát triển của ngành và của các doanh nghiệp xây dựng giao thông, tác giả vận dụng mô hình SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam. Phân tích được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức sẽ là tiền đề cho việc đề ra giải pháp triển khai ứng dụng mô hình kế toán quản trị chi phí vào các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam. Lựa chọn mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm kết hợp với khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp xây dựng giao thông và các mô hình kế toán quản trị chi phí đã ứng dụng ở các doanh nghiệp trên thế giới, tác giả đề xuất doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam nên lựa chọn mô hình kế toán quản trị chi phí kết hợp. Theo tác giả, mô hình kế toán quản trị chi phí này phù hợp với đặc điểm quy trình sản xuất, cơ cấu tổ chức, quy trình giao khoán, tổng hợp thông tin và báo cáo kết 17 quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công trình, dự án. Tuy nhiên, để khắc phục những nhược điểm của mô hình này doanh nghiệp cần phải sắp xếp người kế toán phải được đào tạo đúng chuyên ngành và phân công công việc rõ ràng, phù hợp, có khả năng sử dụng công nghệ thông tin hiện đại. Kế toán của các đội xây lắp phải là nhân viên của phòng kế toán có năng lực chuyên môn được biệt phái làm việc tại đội. 4.2 Giải pháp hoàn thiện mô xây dựng hình KTQTCP kết hợp trong doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam Quan điểm và nguyên tắc hoàn thiện xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí kết hợp trong doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam Để có được vị thế vững vàng trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đầu tư nâng cao năng lực thi công, đảm bảo tiến độ và chất lượng lượng công trình. Đồng thời các doanh nghiệp này cũng cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong điều kiện nguồn lực ngày càng khan hiếm. Mô hình kế toán quản trị chi phí là một công cụ vô cùng quan trọng để thu thập, xử lý và cung cấp thông tin quan trọng giúp các nhà quản trị ra quyết định. Thông tin về chi phí gắn liền với hầu hết các quyết định của các nhà quản trị trong quá trình lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động. Có thể nói mô hình kế toán quản trị chi phí là một công cụ không thể thiếu được để hỗ trợ cho các nhà quản trị trong việc ra các quyết định. Do đó việc hoàn thiện xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông ngoài những yêu cầu trong chương 2 còn phải đáp ứng được các yêu cầu sau: 18 Thứ nhất, mô hình kế toán quản trị chi phí phải đáp ứng được yêu cầu thông tin của các nhà quản trị. Thứ hai, các giải pháp hoàn thiện xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí phải phù hợp với đặc điểm kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng giao thông Việt Nam. Thứ ba, các giải pháp hoàn thiện xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí phải tiết kiệm và hiệu quả, không được làm xáo trộn và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Với những quan điểm đó, việc hoàn thiện xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí cần thực hiện theo các nguyên tắc sau: Một là, nguyên tắc phù hợp: hoàn thiện xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí phải đảm bảo tính khoa học, phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, phù hợp với năng lực của đội ngũ kế toán, nhu cầu thông tin của nhà quản trị và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế. Hai là, nguyên tắc hiệu quả: việc hoàn thiện xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả. Hoàn thiện xây dựng mô hình KTQTCP kết hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của mô hình Để nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của mô hình kế toán quản trị chi phí kết hợp, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình như sau: Một là, hoàn thiện xây dựng bộ máy kế toán quản trị chi phí. Bộ máy kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông cần sắp xếp lại theo hướng kết hợp bộ phận kế toán quản trị chi phí và kế toán tài chính trong cùng bộ máy kế toán. Phân công rõ chức năng, nhiệm vụ của từng nhân viên kế toán để thực hiện những nội dung cơ bản như: tổ chức phân loại chi phí, lập dự toán, xác định 19 chi phí sản xuất và giá thành công trình, phân tích sự biến động của chi phí, đánh giá kết quả thực hiện của từng bộ phận và tư vấn hỗ trợ nhà quản trị ra quyết định. Bố trí những nhân viên có trình độ chuyên môn phụ trách công tác kế toán tại đội xây lắp. Hai là, hoàn thiện xây dựng phương thức thực hiện những nội dung cơ bản của kế toán quản trị chi phí. Thứ nhất, hoàn thiện xây dựng định mức và lập dự toán chi phí xây lắp. Định mức là cơ sở để lập dự toán và phân tích chi phí chênh lệch. Các định mức cần xây dựng trong doanh nghiệp gồm: định mức chi tiết cho từng loại vật liệu và cho từng công việc, định mức chi phí tiền lương cho từng loại từng hoạt động, định mức ca xe máy xây dựng. Khi xây dựng định mức, các doanh nghiệp cần phải xây dựng được cả định mức về lượng và định mức về giá. Để phù hợp với nhu cầu thông tin cho kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động của các đội xây lắp, tác giả đề xuất các doanh nghiệp xây dựng giao thông lập dự toán theo từng công trình. Khi lập dự toán cần chú ý đến việc sử dụng định mức phù hợp với từng công trình và nên thực hiện quy trình tự lập dự toán cần triển khai từ cấp đội xây lắp lên cấp quản lý doanh nghiệp. Thứ hai, hoàn thiện phân loại chi phí. Để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của nhà quản trị thì việc phân loại chi phí trong mô hình kế toán quản trị chi phí cần bổ sung việc phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định, phân loại chi phí phục vụ cho lựa chọn các phương án kinh doanh. Đây là loại chi phí mặc dù không được ghi nhận và theo dõi trong sổ kế toán, cũng như báo cáo kế toán, nhưng lại rất quan trọng và cần phải xem xét khi doanh nghiệp cần lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh tối ưu. 20 Thứ ba, hoàn thiện đối tượng kế toán chi phí và phương pháp tính giá thành. Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của từng công trình, đối tượng kế toán chi phí sẽ là từng công trình hay hạng mục công trình. Nếu cần thông tin để đánh giá hiệu quả

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfxay_dung_mo_hinh_ke_toan_quan_tri_chi_phi_trong_cac_doanh_nghiep_xay_dung_giao_thong_viet_namtt_6945.pdf
Tài liệu liên quan