Tóm tắt Luận văn Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT Bắc Ninh

MỤC LỤC

MỤC LỤC.1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .4

PHẦN MỞ ĐẦU.5

1. Lý do chọn đề tài.5

2. Mục đích nghiên cứu.7

3. Đối tượng nghiên cứu .7

4. Nhiệm vụ nghiên cứu.8

5. Khách thể nghiên cứu.8

6. Giả thuyết nghiên cứu .8

7. Phương pháp nghiên cứu.9

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .10

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu .10

1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề .10

1.1.1.Lịch sử nghiên cứu TLHĐ tại nước ngoài .10

1.1.2.Lịch sử nghiên cứu TLHĐ tại Việt Nam .13

1.2.Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu.16

1.2.1.Khái niệm “Nhu cầu” .16

1.2.1.1.Các lý thuyết nghiên cứu nhu cầu.16

1.2.1.2.Định nghĩa “Nhu cầu”.22

1.2.1.3.Đặc điểm của nhu cầu .24

1.2.1.4.Mối quan hệ giữa nhu cầu và nhận thức .26

1.2.2. Khái niệm “Tâm lý học đường” .26

1.2.3. Khái niệm “ Trợ giúp tâm lý học đường” .27

1.2.3.1. Định nghĩa “Trợ giúp tâm lý học đường”.27

1.2.3.2. Nội dung của hoạt dộng trợ giúp TLHĐ.27

1.2.3.3.Yêu cầu đối với nhà TLHĐ.29

1.2.4. Khái niệm “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường”.30

1.2.5. Khái niệm “Học sinh THPT” và đặc điểm tâm lý học sinh THPT5

1.2.5.1. Khái niệm “học sinh THPT” .31

1.2.5.2. Đặc điểm tâm lý học sinh THPT.31

1.2.5.3. Những khó khăn tâm lý học sinh THPT thường gặp phải.34

1.3. Các tiêu chí để đánh giá nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học

sinh THPT .36

Chương 2: Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu .38

2.1. Tổ chức nghiên cứu .38

2.1.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu.38

2.1.2. Đặc điểm khách thể nghiên cứu.40

2.1.3. Quá trình nghiên cứu và những khó khăn thuận lợi trong quá trình

nghiên cứu .41

2.2.Phương pháp nghiên cứu .42

2.2.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu .42

2.2.2.Phương pháp quan sát .43

2.2.3.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.44

2.2.4.Phương pháp phỏng vấn sâu .45

2.2.5.Phương pháp thống kê toán học.47

Chương 3: Kết quả nghiên cứu.48

3.1.Thực trạng những KKTL mà học sinh THPT Bắc Ninh gặp phải trong

cuộc sống .48

3.1.1.Thực trạng những KKTL của học sinh .48

3.1.1.1. Nhóm khó khăn trong học tập.50

3.1.1.2. Nhóm khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai.53

3.1.1.3. Nhóm khó khăn từ phía bản thân.57

3.1.1.4. Nhóm khó khăn trong các mối quan hệ .60

3.1.2.Các phương thức giải quyết KKTL của học sinh .71

3.2.Nhận thức của học sinh Bắc Ninh về hoạt động trợ giúp TLHĐ 75

3.3.Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT Bắc

Ninh .826

3.3.1. Nhu cầu của khách thể đối với các hoạt động trợ giúp TLHĐ

nói chung.83

3.3.2.Nhu cầu được trợ giúp tâm lý của học sinh đã sử dụng dịch vụ.87

3.3.3.Xu hướng tìm đến sự trợ giúp TLHĐ trong tương lai .89

3.3.4.Nhu cầu của học sinh về nội dung trợ giúp TLHĐ.94

3.3.5.Nhu cầu của học sinh về hình thức trợ giúp TLHĐ.105

3.3.6.Nhu cầu của học sinh về thời gian địa điểm trợ giúp tâm lý .114

3.3.7.Mong đợi của học sinh đối với các chuyên gia tâm lý .116

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .120

Danh mục tài liệu tham khảo.123

Phiếu điều tra.127

Câu hỏi phỏng vấn sâu.135

Phụ lục.137

pdf26 trang | Chia sẻ: lavie11 | Ngày: 18/12/2020 | Lượt xem: 60 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận văn Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh THPT Bắc Ninh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tâm lý học đường có thể tham gia công tác sàng lọc đánh giá chẩn đoán tâm lý học sinh gặp khó khăn, dự phòng và phát triển tâm lý học sinh, tham vấn tâm lý, can thiệp, trị liệu cho những học sinh gặp khó khăn về tâm lý, điều phối, phối hợp với các cơ quan tổ chức nhằm thiết kế các chương trình phòng ngừa và can thiệp ở cấp độ trường hoặc rộng hơnTất cả các hoạt động này đều trực tiếp đóng góp cho việc xây dựng chương trình “ngôi trường thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ giáo dục đang phát động và giúp giáo viên, học sinh vượt qua những thách thức và khó khăn mà chúng ta đang phải đối mặt. Học sinh trung học phổ thông gồm đa số các em từ 16 đến 18 tuổi, độ tuổi vị thành niên. Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt của cuộc đời con người, là bước trung chuyển từ một con người “tí hon” trở thành người lớn trưởng thành, cũng là giai đoạn tuổi dậy thì với những biến đổi về tâm – sinh lý, thể chất đến mức nhiều người coi đây là giai đoạn “khủng hoảng” đầu đời. Giai đoạn này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các điều kiện văn hoá, giáo dục, kinh tế của gia đình, nhà trường và xã hội. Bên cạnh đó, áp lực học hành thi 8 cử, việc thích ứng với cuộc sống ngày càng biến động, tiếp thu nhiều nền văn hoá khác nhau khiến nhiều học sinh gặp không ít khó khăn trong học tập, trong việc tìm và định hướng lý tưởng sống cho mình Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, số lượng học sinh chán học, lười học chiếm tỷ lệ không nhỏ trong các trường dẫn đến tình trạng học lực ngày càng kém. Bên cạnh đó, các em học sinh có những lúng túng, khó khăn trong học tập, trong các quan hệ xã hội, khó khăn trong việc giao tiếp ứng xử với bạn bè, thầy cô, vướng mắc trong quan hệ với cha mẹ và khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương laiNhững điều này có thể khiến các em bị stress, lo âu, trầm cảm hoặc có những hành vi lệch chuẩn.. Chính vì vậy, các em rất cần được tư vấn, trợ giúp về tâm lý nếu không các em sẽ không đủ sức mạnh để vượt qua chính mình và mất phương hướng trong cuộc sống và trong công việc tương lai. Trong khi ở các nước đang phát triển, tại mỗi trường học đều có những phòng tư vấn tâm lý học đường thì ở nước ta, tâm lý học đường vẫn chưa thực sự trở thành một chuyên ngành được đào tạo bài bản, các phòng tâm lý học đường đã có nhưng phần lớn tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ngay cả những hình thức trợ giúp này cũng mới chỉ ở hình thức tham vấn, giải đáp những vướng mắc khó khăn của các em thôi chứ chưa thực sự trở thành dịch vụ tâm lý học đường chuyên nghiệp và ngay cả việc thực hiện các phòng tư vấn tâm lý trong trường học cũng gặp rất nhiều khó khăn. Thực tế cho thấy, khi các trường phổ thông tổ chức những buổi về tham vấn, tư vấn tâm lý trực tiếp, những buổi nói chuyện chuyên đề về tâm lý đã thu hút rất nhiều các em học sinh tham gia, điều này chứng tỏ các em cũng rất quan tâm đến vấn đề này và có nhu cầu được chia sẻ, giúp đỡ từ các chuyên gia tâm lý. Tuy nhiên để đánh giá nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học sinh đến đâu nhằm đáp ứng nhu cầu này thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể. 9 Rõ ràng, việc thực hiện duy trì các phòng TLHĐ còn gặp rất nhiều khó khăn. Và theo quan sát của chúng tôi, ở mỗi một địa phương mỗi vùng miền thì có cách thức tổ chức, trợ giúp khác nhau và nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học sinh trung học phổ thông cũng rất khác nhau. Bắc Ninh là một tỉnh giáp ranh với thành phố Hà Nội. Từ trung tâm thành phố Bắc Ninh đến thủ đô Hà Nội chỉ vẻn vẹn 30km. Được coi là thành phố vệ tinh của thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh đang có sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng với hàng loạt các khu công nghiệp bao quanh tỉnh cùng với sự đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn như Samsung, Canonđã khiến cho bộ mặt kinh tế của Bắc Ninh có nhiều khởi sắc kéo theo đời sống nhân dân được cải thiện và phát triển. Khi đời sống vật chất được nâng cao kéo theo những nhu cầu mới về mặt tinh thần cũng như áp lực cuộc sống ngày càng tăng. Con người cũng cần có nhu cầu được chia sẻ được giúp đỡ khi có các áp lực về mặt tâm lý, đặc biệt là thế hệ trẻ Bắc Ninh những người đang hàng ngày, hàng giờ chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ của cuộc sống và chịu ảnh hướng trực tiếp từ sự thay đổi ấy. Câu hỏi được đặt ra là, ở một tỉnh nhỏ như Bắc Ninh các em học sinh đã được sử dụng các dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường chưa và nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của các em như thế nào? Chính vì những lý do nêu trên mà chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ thông Bắc Ninh”. 2. Mục đích nghiên cứu: - Nghiên cứu thực trạng nhu cầu được trợ giúp TLHĐ của học sinh trung học phổ thông Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu đó của học sinh THPT ở Bắc Ninh trong điều kiện hiện nay. 3. Đối tƣợng nghiên cứu: Đề tài có đối tượng nghiên cứu là nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường. 10 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài có những nhiệm vụ cụ thể sau: 4.1. Nghiên cứu lý luận: - Tổng quan các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, từ đó xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài - Làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ của đề tài: Nhu cầu, trợ giúp tâm lý học đường, nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường - Xác định những quan điểm lý luận và phương pháp luận định hướng cho nghiên cứu thực tế. 4.2. Nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá thực trạng nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ thông hiện nay ở một số trường học trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 4.3. Đề xuất kiến nghị Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tiễn sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao tính hiệu quả và tính thiết thực của các phòng tâm lý học đường trong các trường THPT. 5. Khách thể nghiên cứu Tổng số lượng khách thể nghiên cứu là 366 học sinh lớp 10 và lớp 11 tại hai trường THPT Hàn Thuyên, Thành phố Bắc Ninh và THPT Tiên Du I, huyện Tiên Du, Bắc Ninh Trong đó: - 168 em trường THPT Hàn Thuyên - 198 em trường THPT Tiên Du I 6. Giả thuyết khoa học - Sự phát triển tâm lý, cùng với những khó khăn, áp lực trong học tập cũng như trong cuộc sống dẫn đến các em học sinh lúng túng, lo lắng, căng thẳng, do đó phần lớn các em đều có nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường là khá cao. 11 - Tuy nhiên, phần lớn học sinh vẫn có nhận thức chưa đầy đủ về các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường - Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh là khác nhau ở mỗi lứa tuổi, giới tính và địa bàn sinh sống. 7. Phƣơng pháp nghiên cứu: 7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 7.3. Phương pháp phỏng vấn sâu 7.4. Phương pháp quan sát 7.5. Phương pháp thống kê toán học 12 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại nước ngoài: Tâm lý học đường là một nhánh của ngành Tâm lý học được ra đời đầu tiên tại Mỹ vào đầu thế kỷ XX. Linghtner Witmer, cha đẻ của ngành Tâm lý học lâm sàng đã mở phòng khám tâm lý đầu tiên vào năm 1896 tại trường đại học Pennsylvania. Phòng khám của Witmer đã cung cấp các dịch vụ bao gồm giáo giục và can thiệp lâm sàng. Nhân viên phòng khám đã điều trị cho các trẻ em có khó khăn tâm lý trong học tập bằng cách điều trị trực tiếp cho những đứa trẻ tại phòng khám và tư vấn cho các nhà giáo dục tại trường. Tuy nhiên, sự chuyên nghiệp của ngành tâm lý học đường phát triển mạnh ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20 từ khi có sự ra đời của đạo luật phổ cập giáo dục cho trẻ em. Những đạo luật này đã dẫn tới hàng loạt trẻ em có các vấn đề về thể chất và tinh thần trong trường học. Cùng thời gian đó, những sinh viên cá biệt được giáo dục trong các cơ sở riêng dẫn đến nhu cầu cần các chuyên gia để hỗ trợ cho việc giáo dục này. Cũng trong thời gian này, những bài kiểm tra đo lường trong giáo dục được xây dựng mà tiêu biểu là test IQ của Simon – Binet được thử nghiệm ở Pháp. Chính Binet được giới tâm lý học tôn vinh là cha để của tâm lý học học đường. Test của Binet đã được mang đến Mỹ vào những năm 1900 và được chuẩn hoá vào năm 1916 bởi Lewis Terman của trường đại học Standford, ngày nay đó là thang đo trí thông minh Standford-Binet. Vai trò chính của các nhà tâm lý học đường thời đó là thực hiện và dịch chuẩn hoá các trắc nghiệm, tham vấn với giáo viên và phụ huynh học sinh về khó khăn trong học tập, động cơ, hành vi là những vai trò thứ yếu trong nghề nghiệp của họ. (Wikipedia, 2009) Frank Parsons (1854 – 1908) được xem là cha đẻ của ngành hướng dẫn tư vấn nghề ở Mỹ. Ông đã cho ra đời cuốn sách “Cẩm nang hướng nghiệp” 13 (Vocational Bureau) nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp, tìm ra cách bắt đầu xây dựng một nghề nghiệp thành công và hiệu quả. Ông thực sự mong muốn công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp được đưa vào trường học. (Lê Thị Lan Phương,2003) Năm 1909, cuốn sách “ Chọn lựa một nghề” (Choosing a Vocation) được xuất bản được coi là sự cống hiến lớn lao cho công tác hướng dẫn tư vấn nghề. Boston trở thành địa điểm tổ chức “Hội nghị công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp” đầu tiên và kết quả của hội nghị này đánh dấu sự ra đời của “Hiệp hội tư vấn hướng nghiệp quốc gia Mỹ” năm 1913, tổ chức tiền nhiệm của “Hiệp hội tham vấn Mỹ” sau này. Frank Parsons đã hình dung ra công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp có hệ thống trong trường học. Ông cũng thấy được tầm quan trọng của công tác tham vấn cá nhân. Nguyên tắc của ông trong công tác hướng dẫn tư vấn nghề đã ảnh hưởng sâu sắc đến những lĩnh vực rộng lớn hơn của công tác tham vấn. Mục đích chính của Parsons đối với công tác hướng dẫn tư vấn nghề được thể hiện trong 3 quá trình: (1) Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng thích hoài bão, nguồn lực cũng như những hạn chế của bạn đối với nghề, động lực thúc đẩy bạn chọn nghề. (2) Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công, những thuận lợi và khó khăn, sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển trong giới hạn khác nhau của công việc. (3) Nguyên nhân thực sự trong mối liên hệ của hai nhóm trong thực tế. Sau này, mặc dù công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp trong trường học được phát triển, song nhiều người đã tán thành việc cần có một cách tiếp cần rộng hơn với tham vấn trong trường học. Những người này cho rằng những chuyên gia tư vấn hướng nghiệp không nên chỉ tập trung quan tâm về ngành nghề mà còn nên chú ý đến sự khác biệt lớn trong những nhu cầu về 14 tâm lý và giáo dục của học sinh. Nói cách khác những chuyên gia tư vấn hướng nghiệp phải là những nhà tham vấn tâm lý. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, tâm lý thực hành chưa được phân chia thành lâm sàng, tham vấn, tâm lý học đường như ngày nay. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc kéo theo những hậu quả tâm lý nặng nề làm nảy sinh nhu cầu rất lớn các trắc nghiệm tâm lý và nó tác động một cách trực tiếp đến hoạt động hướng nghiệp trong trường học. (Ngô Minh Uy, 2008) Năm 1927, chuyên ngành TLHĐ đầu tiên được đào tạo tại trường Đại học New York bao gồm đào tạo đại học và sau đại học. Năm 1930 thì đào tạo tiến sỹ TLHĐ đầu tiên và nhà nước Mỹ đã cấp giấy chứng nhận nhà tâm lý học đường tại New York và Pensylvania. Sau những năm 30 của thế kỷ 20 thì Hiệp hội các nhà tâm lý học Mỹ (American Psychological Asociation) được thành lập nhưng loại trừ các nhà tâm lý học đường vì không có bằng tiến sỹ, một yêu cầu đối với những thành viên. Đến năm 1969 thì Hiệp hội các nhà tâm lý học đường quốc gia được thành lập (The National Association of School Psychologist). Đây cũng là tổ chức lớn nhất có ảnh hưởng tới nghề nghiệp của tổ chức tâm lý học đường. Năm 1980, các nhà tâm lý học đường đã thay đổi chức năng và vai trò của nhà tâm lý học đường từ “đánh giá và đánh giá chuyên sâu” (assessment and placement intensive) sang “đánh giá và can thiệp sâu đối với những nhóm có nguy cơ ở trường phổ thông” (preferential assessment, interventions and at least secondary prevention for at risk groups). Những thay đổi này đã làm cho nỗ lực đáp nhu cầu của sinh viên, học sinh cũng như phụ huynh học sinh, giáo viên và cộng đồng ngày được nâng cao. Đến năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tư vấn học đường, kể từ đó ngành Tâm lý học đường được xem như là đã hoàn thiện. Hiện nay, Hiệp hội các nhà tâm lý học đường Mỹ được xem như là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tâm lý học đường của hầu 15 hết các nước trên thế giới. Ngày nay, các dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên phổ biến trong các trường học ở nhiều nước trên thế giới. 1.1.2. Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại Việt Nam Tâm lý học đường trên thế giới hiện nay đã có một quá trình phát triển lâu dài. Tuy nhiên, ở nước ta nó vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ, các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh còn chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức. Trước năm 1975, tại miền nam Việt Nam đã có chương trình khải đạo trong trường học. Sau ngày thống nhất với sự thay đổi hoàn toàn cách thức giáo dục thì chương trình khải đạo không còn tồn tại theo đúng nghĩa của nó nữa. Năm 1984, trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em và tâm bệnh lý NT do bác sỹ Nguyễn Khắc Viện thành lập trở thành nơi đầu tiên thực hành, phát triển nghề tham vấn trong đó có lĩnh vực tâm lý trẻ em và gia đình. Phương châm nghiên cứu của trung tâm là chiết trung, không suy tôn một trường phái nào, không lấy một học thuyết nào làm chính thống. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu sâu từng trường hợp. Ngoài nghiên cứu ứng dụng, trung tâm còn biên soạn nhiều đầu sách, chương trình đào tạo, dịch và phổ biến một số phương pháp nghiên cứu tâm lý trẻ em. (Vũ Dũng, 2009) Trong vòng 10 năm trở lại đây, tình trạng học sinh tự tử, có những rối nhiễu về tâm lý, bỏ học, sa ngã vào các tệ nạn xã hội đã khiến các nhà giáo dục, các nhà tâm lý có cái nhìn quan tâm nhiều hơn đến việc phải cung cấp cho học sinh, sinh viên các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường. Chính vì vậy, thông tư số 9971/BGD-DT, Bộ giáo dục đào tạo đã gửi các cơ sở đào tạo và trường học về việc “triển khai công tác tư vấn cho học sinh, sinh viên”, đồng thời Bộ giáo dục cũng phát động việc xây dựng “ngôi trường thân thiện, học sinh tích cực” trong trường học. Điều này chứng tỏ các cấp lãnh đạo ngành giáo dục đã bước đầu quan tâm đến việc phát triển và cung cấp các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên nhằm giúp các em ngoài 16 việc được trang bị tốt về văn hoá còn có một sức khoẻ tinh thần khoẻ mạnh và lành mạnh. Có lẽ cũng chính mục tiêu đó mà nhiều trường đã kết hợp với các tổ chức, các viện, trường đào tạo, nghiên cứu về tâm lý để mở ra các phòng tâm lý học đường cho học sinh sinh viên. Ở thành phố Hồ Chí Minh, tính đến nay đã có hơn 50 trường từ bậc tiểu học, THCS đến PTTH. Bắt đầu từ năm 2009, sở giáo dục thành phố sẽ tuyển tham vấn viên tâm lý. Ở Hà Nội có khoảng gần 10 trường THPT có phòng tham vấn học đường (Kỷ yếu hội thảo “Nhu cầu định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam”,Tr.428) những trường đi tiên phong trong vấn đề này như trường THPT Đinh Tiên Hoàng, tiếp theo đó là các trường như THPT Trần Hưng Đạo, THPT Trần Nhân Tông Bên cạnh đó, nhiều cuộc hội thảo đã được tổ chức nhằm xác định mục tiêu, vai trò, nhiệm vụ, nội dung của tâm lý học đường như: Hội thảo “Nhu cầu tư vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh” do viện nghiên cứu giáo dục, đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 2003; Hội thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn trong trường học” do Văn phòng tư vấn trẻ em thành phố HCM tổ chức năm 2005; Hội nghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý, giáo dục, thực tiễn và định hướng phát triển” do Hội khoa học tâm lý giáo dục TPHCM tổ chức năm 2006; Hội thảo khoa học “Hỗ trợ tâm lý cho học sinh sinh viên” do Hội khoa học tâm lý tỉnh Đồng Nai tổ chức năm 2007; Hội thảo “Tâm lý học đường triển khai và ứng dụng thực tiễn vào nhà trường Việt Nam” tổ chức năm 2008 do Trường Đại học sư phạm Hà Nội và Viện nghiên cứu sư phạm tiến hành; và gần đây nhất là hội thảo khoa học quốc tế “Nhu cầu định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam” do nhiều cơ quan tổ chức nghiên cứu và đào tạo tâm lý diễn ra ngày 3 -4 tháng 8 năm 2009. Ngoài những cuộc hội thảo toạ đàm về tâm lý học đường, những cơ quan tổ chức nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành tâm lý học cũng đã có 17 những nghiên cứu về các vấn đề tâm lý học đường ở các cấp độ khác nhau. Có thể kể ra đây một số nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến vấn đề mà chúng tôi đang nghiên cứu như: Luận văn thạc sỹ “Nhu cầu được giáo dục sức khoẻ sinh sản của học sinh trung học phổ thông” của Nguyễn Hà Thành năm 2007. Ở luận văn này tác giả đã chỉ ra thực trạng giáo dục sức khoẻ sinh sản ở các trường phổ thông còn nhiều bất cập và hạn chế mặc dù học sinh rất có nhu cầu được giáo dục về lĩnh vực này. Từ kết quả nghiên cứu thu được, tác giả đã đưa ra những đề xuất khuyến nghị để thực hiện hình thức giáo dục này có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của các em học sinh. Nghiên cứu về “Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh – sinh viên Việt Nam hiện nay” của Bùi Thị Xuân Mai cho thấy có trên 90% số người được hỏi cho là cần và rất cần các dịch vụ tham vấn. Nhóm khách thể ở lứa tuổi vị thành niên thì có nhu cầu tham vấn về học tập, quan hệ bạn bè, trạng thái tâm lý không cân bằngnhóm lứa tuổi thanh niên lại quan tâm nhiều hơn đến vấn đề như công việc, tình bạn, tình yêu, sức khoẻ trong đó có cả trạng thái tâm lý không cân bằng. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mùi và cộng sự về đề tài “Nhu cầu tham vấn của học sinh một số trường trung học trên địa bàn thành phố Hà Nội” cho thấy “sự hài lòng, rất yên tâm” của các em về cuộc sống hiện tại chỉ chiếm 3,2% trong khi mức độ “hài lòng và lo lắng” pha trộn với “thường xuyên lo lắng, không yên tâm” là trên 65%. Điều này phản ánh cuộc sống của các em có quá nhiều áp lực. Các em rất cần có sự trợ giúp tư vấn kịp thời để vượt qua những áp lực, khó khăn tâm lý. Ngoài những luận văn, khoá luận nghiên cứu về nhu cầu tư vấn tâm lý còn có các khoá luận, luận văn khác của sinh viên, học viên cao học trường Đại học KHXH&NV nghiên cứu về những khó khăn, rối nhiễu tâm lý mà học sinh thường gặp phải như: Khoá luận tốt nghiệp “Tìm hiểu một số nguyên nhân tâm lý của hiện tượng kém thích nghi học đường ở học sinh lớp 6” của 18 Nguyễn Thị Thuý (2002); Khoá luận “Bước đầu phát hiện và đánh giá rối nhiễu tăng động giảm chú ý của học sinh THCS” của Trần Quang Minh (2002); Khoá luận tốt nghiệp “Bước đầu tìm hiểu về rối nhiễu lo âu, trầm cảm của học sinh PTTH” của Lê Thị Hà (2003); Khoá luận tốt nghiệp “Tìm hiểu những rối nhiễu hành vi và một số yếu tố liên quan đến rối nhiễu hành vi ở trẻ vị thành niên” của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2004) Những nghiên cứu trên đã cho thấy những khó khăn, rối nhiễu tâm lý mà học sinh hay gặp phải là rất đa dạng, và phong phú. Học sinh ở bất kỳ cấp học nào cũng đều có nguy cơ mắc phải những rối nhiễu này. Điều này chứng tỏ trợ giúp tâm lý học đường là rất cần thiết, với những hiệu quả mà dịch vụ mang lại chắc chắn sẽ góp phần giúp các em giải quyết các khó khăn tâm lý,hạn chế tối đa những rối nhiễu tâm lý mà các em có thể gặp phải, đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Như vậy, rõ ràng tuy ở nước ta chưa hình thành một phân ngành tâm lý học đường chính thức nhưng việc nghiên cứu cũng như ứng dụng về các lĩnh vực tâm lý học đã và đang được tiến hành và thực hiện có hiệu quả. Chắc chắn trong một thời gian không xa việc nghiên cứu, đào tạo, ứng dụng tâm lý học đường sẽ được phổ biến một cách rộng rãi. 1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu: 1.2.1. Khái niệm “nhu cầu”: 1.2.1.1. Các lý thuyết nghiên cứu nhu cầu: Nhu cầu đã được bắt đầu tiến hành nghiên cứu từ thế kỷ thứ 19 bởi W.Kohler. E thorndile, N.E.Miller. Các ông nghiên cứu nhu cầu ở động vật, các kiểu hành vi của con vật được thúc đấy bởi nhu cầu. Họ đã giải thích mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng của cơ thể bằng cái gọi là “luật hiệu ứng” và từ đó khẳng định nhu cầu cơ thể quyết định hành vi. (Hoàng Thị Thu Hà, 2003) 19 Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các nhà khoa học phương Tây chia thành nhiều các trường phái nghiên cứu khác nhau và họ bắt đầu tiến hành nghiên cứu nhu cầu cơ thể của con người. Luận thuyết xung năng của Clark Hull đề xướng theo cách tiếp cận sinh học để giải thích về nhu cầu động cơ. Hull cho rằng các nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con người. Tuy nhiên, ông cũng không phủ nhận sự có mặt của nhu cầu động cơ khác nhau. Luận thuyết xung năng đã sinh vật hoá hệ thống nhu cầu động cơ của con người, xem nhu cầu là những xung năng mang tính sinh vật nảy sinh từ sự thiếu hụt thức ăn, không khí, nước uống. Vì vậy ông đã quy gán cho các nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã hội đều do nhu cầu sinh vật tạo ra. Nghiên cứu của K. Lewin lại cho rằng nhân tố thúc đẩy hoạt động con người không chỉ có nhu cầu cơ thể (xung năng) mà còn có cả nhu cầu xã hội. Khi xuất hiện một nhu cầu nào đó đồng thời xuất hiện những liên tưởng có liên quan đến nhu cầu đó ở chủ thể. Mọi ý nghĩ của con người đều liên quan đến các nhu cầu khác nhau vì vậy tạo ra một chuỗi những căng thẳng là nguồn gốc của tính tích cực hoat động và chính hoạt động sẽ làm giảm trạng thái căng thẳng đó. Các nhà Tâm lý học hành vi như J. Watson, Skinner không quan tâm nghiên cứu những yếu tố xảy ra bên trong con người như ý thức, vô thức, động cơ nhu cầumà theo họ nhiệm vụ của tâm lý học là nghiên cứu hành vi, phân tích mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường qua phân tích tập hợp các cặp đôi “kích thích - phản ứng” (S-R) để tìm ra những quy luật nhất định của hành vi. Tuy nhiên qua các nghiên cứu của họ ta thấy các thực nghiệm đã nghiên cứu khá rõ và kỹ về các nhu cầu đặc biệt là các nhu cầu cụ thể, nhu cầu sinh lý. Mặc dù vậy, họ lại đồng nhất hoá nhu cầu của con người và nhu cầu con vật. Trong lý thuyết phân tâm của mình S. Freud đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của con người”. Ông khẳng định, 20 Phân tâm học coi trọng nhu cầu tự do cá nhân như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục. Việc thoả mãn nhu cầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tự nhiên, và như thế, tự do cá nhân thực sự được tôn trọng, ngược lại, kìm hãm nhu cầu này sẽ dẫn đến hành vi mất định hướng của con người. Khát dục trong Phân tâm học không có ý nói đến việc thoả mãn những khát khao thông thường mà là sự đòi hỏi thoả mãn những khát khao mãnh liệt. Những mong muốn này được thoả mãn sẽ đem lại cho con người những khoái cảm đặc biệt và sẽ tạo ra một trạng thái tâm lý sung sướng, khoan khoái, dễ chịu. Khi một khát vọng nào đó chưa được thoả mãn thì sự căng thẳng về mặt tâm lý lên đến tột đỉnh (Phạm Minh Lăng, 2004 ). Erich Fromm nhà phân tâm học mới quan niệm rằng: “Nhu cầu tạo ra cái tự nhiên của con người. Đó là những nhu cầu: 1. Nhu cầu quan hệ người – người. 2. Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người 3. Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo. 4. Nhu cầu về sự bền vững và hài hoà. 5. Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu. Những nhu cầu này tạo là thành phần tạo nên nhân cách”. Nhà tâm lý học Mỹ A. Maslow đã đưa ra luận thuyết thứ bậc về nhu cầu, động cơ vào năm 1954. Theo ông con người có 5 nhu cầu gốc (những nhu cầu khác đều là phái sinh từ những nhu cầu này) mang tính bẩm sinh được sắp xếp thành thứ bậc từ thấp lên cao, chúng hoạt hoá và điều khiển hành vi con người: (1): Nhu cầu sinh lý: ăn uống, tình dục (2): Nhu cầu an toàn: sự an toàn, trật tự và ổn định (3): Nhu cầu được chấp nhận và yêu thương (4): Nhu cầu được tôn trọng (5): Nhu cầu tự thể hiện 21 Maslow mô tả những nhu cầu này như bản năng tự nhiên (chịu ảnh hưởng lớn của di truyền). Những nhu cầu này tuy là bẩm sinh nhưng những hành vi mà ta thực hiện để thoả mãn chúng thì ở mỗi người mỗi khác và phải được học tập, rèn luyện. Maslow đưa ra hình ảnh cái thang để diễn tả lý thuyết này vì theo ông muốn phát triển nhu cầu ở bậc cao hơn thì ít nhất nhu cầu ở bậc thấp hơn (liền kề) phải được thoả mãn đến mức độ nhất định. Việc thoả mãn nhu cầu ở bậc thang thấp hơn sẽ kích thích người ta nghĩ tới việc phải thoả mãn nhu cầu ở bậc thang cao hơn. Vì vậy theo ông, về nguyên tắc ở cùng một thời điểm chỉ có một nhu cầu chiếm vị trí nổi trội trong nhân cách của mỗi người. Sự phát triển của mỗi nhu cầu trong thang đều phụ thuộc vào những nhu cầu khác có được thoả mãn hay không. Maslow gọi những nhu cầu ở bậc thang thấp là những nhu cầu bị thiếu hụt (không được thoả mãn dễ gây ra sự thiếu hụt cho cơ thể). Trái lại những nhu cầu ở

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfv_l2_01826_6906_2003116.pdf
Tài liệu liên quan