Tóm tắt Luận văn Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU.5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI .9

1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề.9

1.1.1. Ở nước ngoài.9

1.1.2. Ở trong nước.12

1.2. Một số khái niệm công cụ của đề tài .15

1.2.1. Khái niệm “Tuổi vào lớp 1” (còn gọi là Tuổi đi học).15

1.2.2. Khái niệm “Lớp 1”.16

1.2.3. Khái niệm “Tâm lí sẵn sàng đi học lớp 1”.17

1.3. Một số vấn đề lý luận liên quan đến sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của

trẻ em tròn 6 tuổi.19

1.3.1. Khái niệm “Hoạt động chủ đạo”.19

1.3.2. Một số đặc điểm của hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo với t- cách

là hoạt động chủ đạo.23

1.3.3. Một số đặc điểm của hoạt động học tập của học sinh lớp 1 với t- cách

là hoạt động chủ đạo.27

1.3.4. Sự chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động

học tập ở trẻ 6 tuổi vào lớp 1 tr-ờng phổthông .33

1.3.5. Một số khó khăn tâm lý khi trẻ 6 tuổi vào học lớp 1 (Khi diễn ra quá

trình chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập)..36

1.4. Một số đặc điểm phát triển của trẻ 6tuổi 38

1.4.1. Vậnđộng .38

1.4.2. Chúý 39

1.4.3. Trigiác .39

1.4.4. Trínhớ. .40

1.4.5. Tưduy .40

1.4.6. Tưởngtượng 41

1.4.7. Ngônngữ .41

1.4.8. Ý chí .42

1.4.9. Tình cảm - Quan hệ xã hội 42

1.4.10. Độngcơ .43

1.4.11. Giao tiếp .43

1.4.12. Mối quan hệ chặt chẽ giữa sự phát triển nhận thức, hành vi ý chí, khả

năng chú ý, ngôn ngữ, động cơ, giao tiếp và tình cảm - quan hệ xã hội của trẻ 6tuổi 45

1.5. Các yếu tố tác động đến sự phát triển tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 và những

việc cần làm của gia đình và trường mầm non để phát triển tâm lý sẵn sàng đi

học cho trẻ 6tuổi 47

1.5.1. Yếu tố giáo dục gia đình . . .47

1.5.2. Yếu tố giáo dục của lớp mẫu giáo ở trường mầm non .51

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHưƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .57

2.1. Tæ chøc nghiªn cøu .57

2.1.1. Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu .57

2.1.2. Mẫu nghiên cứu .58

2.1.3. Triển khai nghiên cứu 602.2. Ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu .60

2.2.1.Phương pháp nghiên cứu v¨n b¶n vµ tài liệu .60

2.3.2.Phương pháp trắc nghiệm 60

2.3.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (ankét) 65

2.3.4. Phương pháp quan sát .66

2.3.5. Phương pháp phỏng vấn sâu .67

2.3.6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học .67

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊNCỨU .68

3.1. Thực trạng phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1 ở tỉnh

Thái Bình qua “Trắc nghiệm sẵn sàng đi học” .68

3.1.1. Đánh giá chung về sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của toàn bộ

nghiệm thể qua “Trắc nghiệm Sẵn sàng đi học” .68

3.1.2. So sánh sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của khách thể nghiên cứu

giữa các trường..75

3.1.3. Sự khác biệt về mức độ phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến

tuổi vào lớp 1 theo tiêu chí giớitính.84

3.1.4. Sự khác biệt về mức độ phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến

tuổi vào lớp 1 tỉnh Thái Bình theo xuất thân giađình.85

3.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của

trẻ đến tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình..88

3.2.1. Yếu tố trường mầm non với sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của

trẻ đến tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái

Bình.883.2.2. Nhận thức và việc chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ đến tuổi vào

lớp 1 của phụ huynh ở tỉnh Thái Bình..100

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..111

TÀI LIỆU THAM

KHẢO.116

PHỤLỤC.118

1. Trắc nghiệm sẵn sàng đihọc.119

2. Bảng hỏi Hiệu trưởng các trường mầmnon.126

pdf23 trang | Chia sẻ: lavie11 | Ngày: 18/12/2020 | Lượt xem: 29 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận văn Thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
7 2.3.6. Phƣơng pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học....67 Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU....68 3.1. Thực trạng phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình qua “Trắc nghiệm sẵn sàng đi học”...68 3.1.1. Đánh giá chung về sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của toàn bộ nghiệm thể qua “Trắc nghiệm Sẵn sàng đi học”.68 3.1.2. So sánh sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của khách thể nghiên cứu giữa các trƣờng............................................................................................................... ......................................................................................................................................... ....75 3.1.3. Sự khác biệt về mức độ phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 theo tiêu chí giới tính....................................................................................... .............................................. .84 3.1.4. Sự khác biệt về mức độ phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 tỉnh Thái Bình theo xuất thân gia đình........................................................85 3.2. Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình......................................................................... ...................................................................................................................................... .......88 3.2.1. Yếu tố trƣờng mầm non với sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình.................................................................................88 3.2.2. Nhận thức và việc chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ đến tuổi vào lớp 1 của phụ huynh ở tỉnh Thái Bình.......................................................................... ........................................................................................................................................... 100 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................... ...................................................................................................................................... .....111 TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................116 PHỤ LỤC............................................................................................................................118 1. Trắc nghiệm sẵn sàng đi học....................................................................................119 2. Bảng hỏi Hiệu trƣởng các trƣờng mầm non.........................................................126 3. Bảng hỏi Phụ huynh học sinh...................................................................................129 4. Câu hỏi phỏng vấn sâu Hiệu trƣởng các trƣờng mầm non...............................134 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Giáo dục tiểu học ngay từ năm 1987 đã được ngành giáo dục coi là bậc học “nền móng” của hệ thống giáo dục phổ thông (cấp I là nền, lớp 1 là móng). Ở đây muốn ví nền giáo dục phổ thông hiện đại như một toà nhà đồ sộ được xây dựng trên nền cấp I mà lớp 1 là móng. Nền móng có vững chắc mới có thể xây ngôi nhà cao tầng. Điều này cho ta hình ảnh trực quan về vị trí và tầm quan trọng của giáo dục tiểu học, đặc biệt là lớp 1 trong hệ thống giáo dục phổ thông. Lớp 1 trường tiểu học là lớp học mà ở đó trẻ em 6 tuổi lần đầu tiên thực hiện hoạt động học với tư cách là hoạt động chủ đạo. Lúc này trẻ chuyển từ hoạt động vui chơi sang một hoạt động hoàn toàn mới là hoạt động học tập. Khác với hoạt động vui chơi tự do, thoải mái ở tuổi mẫu giáo, hoạt động học tập đòi hỏi một chất lượng mới trong sự phát triển của đứa trẻ cả về mặt trí tuệ, tình cảm, hành động ý chí. Chính vì vậy vào giai đoạn đầu tiểu học ở trẻ em diễn ra một quá trình chuyển tiếp từ vui chơi sang học tập. Đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời trẻ. Sáu tuổi, theo Hồ Ngọc Đại, trẻ em sẽ đến với thầy với bạn, đến với “nền văn minh nhà trường hiện đại để có thêm những gì không có, không thể có, không bao giờ có trong quá khứ 6 năm qua” [Theo (5), Tr 212]. Chính vì vậy, để sớm thích nghi với hoạt động học tập, trẻ phải được chuẩn bị chu đáo từ trước để có tâm lý sẵn sàng đi học khi bước vào lớp 1 trường phổ thông. Tuy nhiên, thực tế hiện nay khi bước chân đến trường không phải tất cả mọi trẻ em đều được chuẩn bị đầy đủ về mặt tâm lý. Nhiều bậc phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con và chuẩn bị cho trẻ khá đầy đủ về kiến thức lẫn cơ sở vật chất để trẻ bước vào lớp 1. Song, sự chuẩn bị của cha mẹ cũng như những ứng xử của họ với con không đúng cách, không khoa học nên dẫn đến những khó khăn tâm lý trong học tập khi trẻ vào đầu lớp 1. Nhiều trường mầm non theo yờu cầu của phụ huynh mà dạy chữ cho trẻ, trỏi với yờu cầu của ngành. Theo Trần Trọng Thuỷ, đây chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng lưu ban, bỏ học ở học sinh cấp I [Xem thêm (10), Tr 20]. Riêng năm 2008, số học sinh bỏ học của Việt Nam là 0,94% - tương ứng với khoảng 150 nghìn học sinh bỏ học trong tổng số 16 triệu học sinh các cấp học. Các nghiên cứu từ những năm 1980 cho đến nay đều cho thấy ở bậc Tiểu học, hiện tượng lưu ban, bỏ học ở lớp 1 chiếm tỷ lệ vượt hơn hẳn các lớp khác [Xem thêm (15), (17)]. Điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện cụng tỏc phổ cập cấp I ở nước ta và công ước về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc: không được để cho học sinh các lớp 1, 2, 3 lưu ban (có cho nợ). Nhiều thập niên qua, các nước trên thế giới đó có vo số các công trình nghiên cứu về tâm lý sẵn sàng đi học cũng như bước chuyển từ mẫu giáo sang lớp 1 trường tiểu học. Tuy nhiên ở Việt Nam, vấn đề này mới chỉ bắt đầu tiến hành từ hơn chục năm trở lại đây. Các tri thức về nội dung này ít được xó hội hoỏ, nặng về lý thuyết chung, nhẹ về lý thuyết thực tiễn. Trên thế giới chỉ có 3 nước không có học sinh lưu ban, bởi họ có “chiến lược khơi dậy tiềm năng của trẻ”. Ở Việt Nam cũng đang bước đầu làm quen với thuật ngữ này, tuy nhiên việc chuẩn bị cho trẻ trước khi trẻ bước vào lớp 1 ở nước ta cũn mang nặng tớnh ỏp đặt, cứng nhắc. Vì vậy cần phải chỉ ra thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1(6 tuổi) ở trường phổ thông, từ đó góp phần làm cho việc chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đi học cho trẻ của gia đình và trường mầm non được tốt hơn. Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi tiến hành Nghiên cứu thực trạng phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình. 2. Mục đích nghiên cứu. Chỉ ra thực trạng phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình, trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần làm cho việc chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đi học cho trẻ 6 tuổi vào lớp 1 trường phổ thông được tốt hơn. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Xõy dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. - Đánh giá thực trạng phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình. - Đề xuất một số kiến nghị gúp phần làm cho việc chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đi học cho trẻ 6 tuổi vào lớp 1 trường phổ thông được tốt hơn. 4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu. 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Tâm lí sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bình. 4.2. Khách thể nghiên cứu: - 100 học sinh bắt đầu vào lớp 1 của 3 trường Tiểu học; Trong đó: + 40 học sinh lớp 1 trường Tiểu học Lê Hồng Phong - thành phố Thái Bình. + 30 học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị trấn Vũ Thư - tỉnh Thái Bình. + 30 học sinh lớp 1 trường Tiểu học Tân Lập II - xã Tân Lập - huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình. - 100 phụ huynh học sinh của 3 trường: Tiểu học Lê Hồng Phong, Tiểu học Thị trấn Vũ Thư, Tiểu học Tân Lập II. - 30 Hiệu trưởng các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Thái Bình. 5. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 (6 tuổi) ở tỉnh Thái Bìnhh trong quá trình phát triển tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ. 6. Giả thuyết nghiên cứu. Chúng tôi cho rằng: Sự phát triển tâm lí sẵn sàng đi học của đa số trẻ em đến tuổi vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình còn chưa cao. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, song, chủ yếu là do sự chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đi học cho trẻ ở lứa tuổi này của các bậc cha mẹ và của trường mầm non còn những bất cập nhất định. 7. Phƣơng pháp nghiên cứu. 7.1. Phương pháp nghiên cứu văn bản và tài liệu. 7.2. Phương pháp trắc nghiệm. 7.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. 7.4. Phương pháp quan sát. 7.5. Phương pháp phỏng vấn sâu. 7.6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Trong tiến trình phát triển tâm lý của trẻ có một mốc đặc biệt quan trọng, đó là thời kì trẻ em chuẩn bị đi học, sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời đứa trẻ. Vì thế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu công phu, tỉ mỉ về chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ em trước khi vào lớp 1. 1.1.1. Ở nƣớc ngoài: - Vấn đề chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 thường được tiếp cận theo 2 hướng chủ yếu: Tiếp cận tâm - sinh lý lứa tuổi và tiếp cận văn hoá xã hội. + Theo hướng đầu, người ta chủ yếu nói đến mối quan hệ giữa độ chín muồi tâm - sinh lý của trẻ và tính sẵn sàng tâm lý của trẻ khi bước vào lớp 1. Trong hướng này, việc chuẩn bị về mặt xã hội để trẻ có tâm lý sẵn sàng đi học ít được quan tâm nhiều. Điều đó được coi là kết quả tất nhiên của sự phát triển thể chất (sức khoẻ, vận động, thể lực) và tâm lý (tri giác, quan sát, tư duy, phát triển ngôn ngữ, tình cảm, ý chí) ở trẻ. + Hướng thứ 2 nhấn mạnh việc rèn luyện kỹ năng xã hội, ngôn ngữ giao tiếp (không đơn giản là ngôn ngữ), tình cảm xã hội (tình cảm cộng đồng hay hướng ngoại, chứ không đơn giản là tình cảm), nhận thức các quan hệ và sự kiện xã hội (không đơn giản là nhận thức đồ vật, chữ cái, chữ số). Steve Grineski (dẫn theo tác giả Đặng Thị Phương Mai) trong “Cooperative learning in Physical Education” (Học cỏch hợp tỏc cựng nhau trong giỏo dục thể chất) cho rằng, những kỹ năng xã hội cần thiết để làm việc trong xã hội gồm: Lắng nghe người khác; giải quyết xung đột; tương trợ và động viên người khác; hoàn thành phần việc được giao; bày tỏ niềm vui trước sự thành công của người khác; thể hiện khả năng phê bình [Xem thêm (12)]. Nếu chỉ theo một trong hai hướng nghiên cứu trên thì chưa đủ để đánh giá về tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ. Vì vậy để đánh giá một cách khách quan cần phải nghiên cứu theo hướng toàn diện kết hợp cả sự phát triển thể chất - vận động, tâm lý và các quan hệ xã hội của trẻ. - Năm 1970 ở Pháp bộ trắc nghiệm trí lực cho trẻ em chuẩn bị vào lớp 1 “Đến tuổi học” (Test de Maturité Scolaire) có khả năng dự báo về sự “chín muồi học đường” của trẻ vào lớp 1 ngay từ đầu năm học [Theo (13), Tr 11]. - Năm 1985 ở Nhật có bộ trắc nghiệm “Test Sẵn sàng đi học” đo khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ em ở lứa tuổi này. - Theo Trung tâm quốc gia về tài liệu sư phạm của Pháp (1995), làm cho trẻ mẫu giáo học cách “Sống cùng nhau” (vivre ensemble) là mục tiêu đầu tiên phải hướng tới. Mỗi đứa trẻ phải học cách chia sẻ với người khác về những hoạt động cùng nhau, học cách quan tâm tới những người xung quanh.Trẻ sẽ dần dần khám phá thế giới thông qua những mối quan hệ phụ thuộc, những qui định của tập thể. Tập cho trẻ biết lắng nghe người khác nói, tôn trọng và thực hiện những quy định của tập thể, của lớp, của trường. Tập cho trẻ biết bày tỏ suy nghĩ của mình, biết tranh luận về những vấn đề đặt ra trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó trẻ sẽ tự khẳng định mình và góp phần hình thành nhân cách cho trẻ. Cuối cùng học cách sống cùng nhau chính là học cách chia sẻ, hợp tác với nhau. - Bộ giáo dục Quebac (Canada) nêu rõ: “Mục tiêu của giáo dục mầm non là khuyến khích sự phát triển toàn diện của trẻ bằng cách giúp trẻ tự hình thành thái độ và các khả năng có thể hỗ trợ sự thành công về học vấn và nhân cách bằng cách khuyến khích trẻ hoà nhập vào xã hội”. Điều này không đơn giản là dạy trẻ học chữ, học chữ số, học vẽ tranh hay tập vận động mà đòi hỏi phải có những biện pháp phối hợp với nhau, nhất là những biện pháp cho phép kết nối những nỗ lực khác nhau. - Công trình ECLS - K (Early Childhood Longitudinal Study, Kingdergarten Class of 1998 - 1999, US - Nghiên cứu dọc theo tuổi ấu thơ của trẻ, lớp mẫu giáo năm 1998 - 1999, Mỹ) nhằm 3 mảng vấn đề lớn là: 1) Thực trạng và xu thế phát triển của trẻ. 2) Việc học và khả năng thực hiện ở các lớp đầu tiểu học. 3) Tương tác giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng. ECLS và nhiều nghiên cứu khác đã cho khối lượng dữ liệu rất lớn để những nước tham gia, trước hết là Mỹ và Anh, phát triển hệ thống chuẩn học sớm và phát triển của trẻ em lứa tuổi từ 0 - 8. Trong các chuẩn này đề cập những lĩnh vực phát triển của trẻ, học sớm là ý tưởng gần với khái niệm chuẩn bị cho trẻ đi học và nó gồm các lĩnh vực ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội, thể chất và vận động [Theo (12)]. - Xuất phát từ việc ở Pháp hàng năm có tới 20% học sinh phải lưu ban, B.Zazzo (dẫn theo tỏc giả Nguyễn Thị Hồng Nga) và các cộng sự đã có công trình nghiên cứu: “Bước chuyển lớn từ mẫu giáo lên cấp 1” của trẻ em. Trong đó các tác giả đã nghiên cứu một cách khá toàn diện quá trình thích ứng của trẻ lớp 1 với hoạt động học tập và sinh hoạt tập thể. Về thích ứng với học tập ở trẻ lớp 1, công trình đã đạt được những kết quả đáng chú ý. Có thể căn cứ vào những khảo sát về các yếu tố chi phối mức độ thích ứng của trẻ vào đầu năm học để tiến hành dự báo những trẻ có khả năng sẽ thích ứng kém với hoạt động học tập. B.Zazzo đã thử tách riêng những trẻ này lập thành 1 lớp gọi là “lớp 1 thích ứng”. Qua thử nghiệm lớp 1 thích ứng, B.Zazzo cho rằng, những biện pháp tác động hiệu quả là những biện pháp tâm lý. Nhưng trước hết và hiệu quả nhất là giáo viên lớp 1 hiểu đặc điểm tâm lý học sinh, những khó khăn mà học sinh gặp phải trong quá trình chuyển từ mẫu giáo lên lớp 1. - C.M.Sukina (dẫn theo Đặng Thị Phương Mai) đã có công trình nghiên cứu về sự thích ứng học tập của trẻ 6 tuổi. Nghiên cứu của bà đã chỉ ra rằng sự thích ứng của trẻ 6 tuổi với hoạt động học tập là không như nhau và có 3 trình độ: cao, trung bình và thấp với những biểu hiện cụ thể. Bà cũng chỉ ra phương pháp tác động sư phạm ở trường mẫu giáo và trường tiểu học ảnh hưởng lớn tới sự thích ứng của trẻ. Bà cho rằng, để giúp trẻ thích ứng tốt với hoạt động học tập cần có giai đoạn quá độ mà ở đó phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi và quan hệ cô cháu của trường mẫu giáo được duy trì trong nửa năm đầu lớp 1. Các công trình nghiên cứu ở trên đều khẳng định mức độ cần thiết của giai đoạn trẻ bước vào lớp 1. Trong giai đoạn chuyển tiếp này, ở trẻ diễn ra quá trình chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Vì vậy, tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 cũng như sự chuẩn bị cho trẻ 6 tuổi vào lớp 1 trường phổ thông và khả năng thích ứng ở lớp đầu bậc tiểu học là vấn đề đã được nhiều quốc gia quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên chủ yếu các công trình nghiên cứu trên thế giới chỉ tiếp cận một trong hai hướng: hoặc là nghiên cứu tâm sinh lý lứa tuổi, hoặc là tiếp cận văn hoá xã hội. Để đánh giá một cách khách quan tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi, cần phải đánh giá toàn diện cả về khả năng tâm vận động, sự phát triển tâm lý và các kỹ năng xã hội của trẻ. Bên cạnh đó, việc đi sâu tìm hiểu sự tác động của trường mầm non và các bậc phụ huynh tới quá trình hình thành, phát triển tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 của trẻ cũng là điều vô cùng quan trọng mà ít được quan tâm nghiên cứu. 1.1.2. Ở trong nƣớc: Vấn đề tâm lý sẵn sàng đi học hay chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 được bàn đến trong nhiều tài liệu, chủ yếu là giáo trình và tài liệu tập huấn giáo viên. Tác giả Nguyễn Kế Hào trong tài liệu “Sự phát triển trí tuệ của học sinh đầu tiểu học” - năm 1985 và “Học sinh tiểu học và nghề dạy học” - năm 1992, đã đề cập đến đặc điểm phát triển tâm lý, trí tuệ của trẻ 6 tuổi và việc chuẩn bị cho trẻ em đến trường. Ngay từ năm 1988 với tài liệu “Tâm lý trẻ em trước tuổi học” và với giáo trình bồi dưỡng giáo viên mầm non “Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trường phổ thông” xuất bản năm 1998, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết và cộng sự đã chỉ rõ ý nghĩa của việc chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông, yêu cầu và nội dung chuẩn bị cho trẻ. Trong nhiều bài viết khác, tác giả cho rằng nếu việc chuẩn bị không phù hợp sẽ gây những hậu quả đáng tiếc khi trẻ vào lớp 1. Tác giả Đào Như Trang và cộng sự nghiên cứu xây dựng chương trình giáo dục trẻ 5 tuổi chuẩn bị đi học lớp 1. Nội dung chương trình nêu rõ cần chuẩn bị những gì cho trẻ để trẻ có đủ năng lực tiếp nhận chương trình của bậc tiểu học. Theo Trần Trọng Thuỷ, “Sự sẵn sàng đi học của trẻ cần phải được chuẩn bị theo 3 hướng: những tri thức cần thiết, những kỹ năng điều khiển hành vi của bản thân và các động cơ kích thích hứng thú học tập”. [Theo (12)] Năm 1993, Trung tâm Tâm lý học - Sinh lý lứa tuổi (Viện Khoa học Giáo dục) đã nghiên cứu mức độ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1 bằng trắc nghiệm “Đến tuổi học” (được Việt hoá từ bộ trắc nghiệm “Test de Maturité Scolaire” của Pháp) [Theo (13)]. Test “Đến tuổi học” cũng được tác giả Phan Trọng Ngọ và Dương Diệu Hoa sử dụng nghiên cứu đề tài: “Thử nghiệm Test Đến tuổi học ở trẻ chuẩn bị vào lớp 1” [Theo (16), tr13 - tr14]. Đến năm 1995, Trung tâm này lại tiến hành một đề tài nghiên cứu “Sự thích nghi với hoạt động học tập” của học sinh đầu bậc tiểu học do Vũ Thị Nho làm chủ nhiệm. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình thích ứng với học tập thể hiện chủ yếu trên hai mặt: sự thích ứng với các mối quan hệ xã hội mới ở lớp học, trường học và sự thích ứng với chính những đòi hỏi của việc học. Về sự thích ứng học tập, có 20 - 30% học sinh lớp 1 khi vào trường học kém thích ứng với hoạt động học tập. Phần lớn những em này thường không qua mẫu giáo, gia đình lại không có ý thức và điều kiện chuẩn bị trước tâm lý sẵn sàng đi học cho con. Cũng trong năm 1995, nhiều công trình nghiên cứu tuy không trực tiếp tìm hiểu về tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi học nhưng cũng có liên quan khá nhiều đến vấn đề này như: đề tài “Phát hiện năng lực khái quát hoá của học sinh tiểu học” do Phạm Thị Đức làm chủ nhiệm trong đó có nghiên cứu mức độ khái quát hoá của học sinh đầu cấp I; đề tài “Hình thành tính kỷ luật của học sinh lớp 1” của Nghiêm Thị Phiến... Năm 1997, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học sư phạm tâm lý của Nguyễn Thị Hồng Nga “Góp phần hoàn thiện bộ trắc nghiệm Sẵn sàng đi học cho trẻ 6 tuổi vào lớp 1” đã xây dựng bộ “Trắc nghiệm sẵn sàng đi học” trên cơ sở bổ sung, hoàn chỉnh “Test P.C” (phát triển chậm), kế thừa trắc nghiệm “Đến tuổi học” và tham khảo “Test Sẵn sàng đi học” của Nhật Bản (1985). Bộ trắc nghiệm này đo cả sự sẵn sàng về mặt trí tuệ và giao tiếp, thích ứng xã hội của trẻ 6 tuổi, hiện cũng được nhiều tác giả sử dụng vào công tác nghiên cứu và tuyển sinh. Theo chương trình Giáo dục mầm non mới của Bộ giáo dục và Đào tạo (bắt đầu thử nghiệm từ năm 2005 - 2006), mục tiêu giáo dục mầm non đã chú trọng đến việc hình thành một số phẩm chất cho trẻ như: tính tự tin, tự lập, tính sáng tạo, tính hoà nhập, kĩ năng giao tiếp; đã quan tâm hơn đến việc hình thành thói quen, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống thực của trẻ. Nội dung giáo dục mầm non được cấu trúc theo các lĩnh vực: phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm, phát triển thẩm mỹ. Năm 2007, tác giả Đặng Thị Phương Mai đã nghiên cứu đề tài Luận án Tiến sĩ Giáo dục học: “Chuẩn bị về mặt xã hội cho trẻ mẫu giáo lớn sẵn sàng đi học lớp 1 ở đồng bằng sông Cửu Long”. Trong đó tác giả cũng sử dụng kết hợp test “Sẵn sàng đi học” của Nguyễn Thị Hồng Nga để đánh giá sự sẵn sàng đi học về mặt xã hội của trẻ lớp mẫu giáo lớn. Trong giai đoạn 2005 - 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với UNICEF thực hiện Dự án xây dựng chuẩn phát triển của trẻ em Việt Nam 72 tháng tuổi (tức là cuối cùng của tuổi mầm non). Dự án này thực chất là hoạt động chịu ảnh hưởng của xu thế quốc tế, bắt đầu dự án quốc tế mang tên ECLS nói trên, mang phong cách và kỹ thuật hiện đại. Đầu năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức cho ra mắt bản Dự thảo “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” để lấy ý kiến dư luận. Bản dự thảo bao gồm 29 chuẩn chia làm 4 lĩnh vực: Lĩnh vực phát triển thể chất, lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội, lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp, lĩnh vực phỏt triển nhận thức và sẵn sàng với việc học. Trong đó, lĩnh vực phát triển nhận thức, sẵn sàng với việc học gồm có các chuẩn sau: Chuẩn nhận thức về môi trường xó hội, Chuẩn nhận thức về môi trường tự nhiên, Chuẩn nhận thức về nghệ thuật, Chuẩn nhận thức về số, đếm và đo, Chuẩn nhận thức về hỡnh học và hướng trong không gian, Chuẩn nhận thức về thời gian, Chuẩn về sự tũ mũ và ham hiểu biết, Chuẩn chú ý có chủ định và kiờn trỡ, Chuẩn khả năng suy luận, Chuẩn khả năng sáng tạo. Hiện đang có rất nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh bộ “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”. Tuy nhiên việc lấy ý kiến dư luận cho bộ “Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” cũng chỉ là một việc làm cần thiết trước khi Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra quyết định chính thức. Tóm lại, các công trình nghiên cứu trong nước về lứa tuổi bắt đầu vào lớp 1 (6 tuổi) còn ít và mới ở bước đầu thích nghi những trắc nghiệm của nước ngoài. Trong khi đó ở các nước trên thế giới, các công trình nghiên cứu tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ đến tuổi vào lớp 1 được tiến hành trước đó hàng chục năm. Từ năm 1993 trở về trước, các nội dung về học sinh đầu bậc tiểu học hoặc chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông chủ yếu chỉ được bàn trong các giáo trình và tài liệu tập huấn giáo viên mầm non, các công trình nghiên cứu sâu về lứa tuổi này chỉ bắt đầu từ năm 1993 trở lại đây, nhưng số lượng còn rất hạn chế. Riêng đối với tâm lý sẵn sàng đi học của trẻ em 6 tuổi bước vào lớp 1 ở tỉnh Thái Bình cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu. Thái Bình là một tỉnh có truyền thống hiếu học, hàng năm tỷ lệ học sinh đỗ cấp ba đứng thứ 3 toàn quốc và đỗ đại học, cao đẳng đứng thứ 6 cả nước. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng phát triển tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ 6 tuổi ở bậc học nền móng (lớp 1) của tỉnh Thái Bình là việc làm cần thiết, qua đó góp phần làm cho việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 trường phổ thông được tốt hơn. 1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1. Khái niệm “Tuổi vào lớp 1” (còn gọi là Tuổi đi học) Trên thế giới hiện nay, ở những nước khác nhau trẻ em bắt đầu vào lớp 1 ở những độ tuổi không giống nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm văn hoá và tập quán của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Ở Bănglađet, Mianma, trẻ em vào lớp 1 lúc 5 tuổi. Ở Ấn Độ, Lào, Hàn Quốc, trẻ em vào lớp 1 lúc 6 tuổi. Ở Thái Lan, Philippin thì đến 7 tuổi trẻ em mới bắt đầu vào lớp 1. Ở nước ta, trước đây trẻ em 6 tuổi bắt đầu đi học lớp vỡ lòng (hay còn gọi là lớp Mẫu giáo lớn). Ở giai đoạn chuẩn bị để vào lớp 1, trong vòng một năm học đó, người ta đã dạy trẻ tập đọc, tập viết, tập đếm và nhận mặt chữ số từ 1 đến 10. Đến 7 tuổi thì những trẻ em có đủ điều kiện như biết đọc, biết viết, biết đếm và nhận mặt chữ số từ 1 đến 10 sẽ được vào học lớp 1 [Xem thêm (9), Tr 145]. Từ khi cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba triển khai (năm 1981) trẻ em cả nước bắt đầu đi học lớp 1 từ 6 tuổi. Thực tiễn gần 10 năm triển khai cải cách giáo dục và hơn mười năm nghiên cứu trên đối tượng học sinh lớp 1 (6 tuổi) cho thấy, ở độ tuổi này nếu có sự phát triển bình thường về sinh lí và tâm lí thì các em hoàn toàn có thể học lớp 1, có thể lĩnh hội chương trình học do Nhà nước quy định và cả chương trình cao hơn (chương trình hướng vào khả năng phát triển tối ưu của trẻ). Trẻ em đi học lớp 1 từ 6 tuổi là thích hợp, chưa thấy biểu hiện của những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển thể chất và tâm lí của trẻ do việc học gây ra. [Xem thêm (10), Tr 23]. Như vậy, ở nước ta, khái niệm " tuổi vào lớp 1 " được hiểu là khi trẻ em đến 6 tuổi. 1.2.2. Khái niệm "lớp 1" Đối với mỗi đứa trẻ, 6 tuổi là một “cột mốc” đánh dấu một bước phát triển tâm lý cực kỳ quan trọng cho cả cuộc đời. Ở tuổi này, lần đầu tiên trong cuộc đời, trẻ bắt đầu vào học lớp 1 của trường phổ thông, được học tập theo phương pháp nhà trường, mở đầu cho việc tiếp thu những kiến thức khoa học do loài người phát hiện ra, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện nhân cách trong tương lai. Dưới góc nhìn tâm lý

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfv_l2_01797_4762_2003090.pdf
Tài liệu liên quan