Văn hóa quốc tế

Quyền lực mềm” của một quốc gia được xây dựng trên nền tảng nền văn hóa, các giá trị và chính sách của quốc gia. Nó được thể hiện thông qua các yếu tố như hình ảnh, uy tín của đất nước và lãnh đạo, năng lực giao tiếp, nhất là khả năng thuyết phục của những người thực thi quyền lực, mức độ cởi mở của xã hội, sức hấp dẫn, quyến rũ, đặc biệt là của nền văn hóa, v.v. Có hai kênh chủ yếu để triển khai “quyền lực mềm” trong quan hệ quốc tế. Kênh thứ nhất là trực tiếp thông qua hoạt động ngoại giao của chính phủ. Kênh thứ hai là thông qua hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (bao gồm cả các doanh nghiệp) và sự giao lưu giữa cộng đồng dân cư của các quốc gia.

Như vậy, quyền lực mềm khác cơ bản với “quyền lực cứng” - loại quyền lực dựa trên đe dọa và mua chuộc, kiểu "cây gậy và củ cà rốt", nhờ vào sức mạnh quân sự, kinh tế và khoa học công nghệ. Sức mạnh của quốc gia là tổng hợp của “quyền lực cứng” và “quyền lực mềm” được tạo nên từ cả bên trong lẫn bên ngoài mỗi quốc gia. Việc kết hợp và sử dụng khéo léo hai loại quyền lực này sẽ tạo ra một sức mạnh lớn (Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton gọi là “sức mạnh thông minh”) giúp quốc gia có vị thế quốc tế tốt hơn và có khả năng thực hiện mục tiêu theo đuổi một cách hiệu quả hơn

 

docx33 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 10/07/2013 | Lượt xem: 1484 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Văn hóa quốc tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
mang lại nhiều lợi ích hiện thực. . Hình ảnh về bãi đỗ xe thông minh Tiến bộ kỹ thuật ở mỗi một nước đều không giống nhau như vậy khi tiến hành kinh doanh hoặc đầu tư ở một nước nào đó cần phải tìm hiểu về trình độ kỹ thuật ở nước đó. Ở những quốc gia có trình độ kỹ thuật phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc họ luôn đòi hỏi những sản phẩm có tính kỹ thuật cao, chất lượng tốt, mang tính khoa học và hiện đại có nhiều tiện ích thông minh và đa chức năng hơn dù cho giá cả có cao đi chăng nữa. Nếu chúng ta đưa vào thị trường của họ những sản phẩm sơ sài đơn giản thì sẽ nhanh chóng bị loại bỏ và không được sử dụng đến. Còn đối với những nước có trình độ kỹ thuật kém phát triển thì những sản phẩm có tính kỹ thuật cao sẽ không phù hợp với họ vì họ không có nhu cầu dùng đến và cơ sở hạ tầng của họ cũng không đủ khả năng để sử dụng sản phẩm đó.Ví dụ một trong những sản phẩm có tính kỹ thuật cao hiện nay như máy tính bảng hoặc điện thoại iphone có nhiều chức năng và ứng dụng hiện đại nhưng những nước có nền kỹ thuật kém phát triển thì không thể sử dụng những loại sản phẩm đó vừa về giá thành vừa về khả năng tài chính. Sự đối lập giữa các nước có trình độ phát triển kỹ thuật khác nhau sẽ tạo ra nhưng giá trị vật chất khác nhau. Phải nghiên cứu kỹ những giá trị vật chất để có thể sản xuất và cung cấp những sản phẩm vào thị trường của các quốc gia khác một cách thuận lợi và nhận được sự hưởng ứng của khách hàng. 2.6 THẨM MỸ ( Aesthetics) Thẩm mỹ là khái niệm chỉ trình độ của con người trong thưởng thức, đánh giá và sáng tạo các giá trị thẩm mỹ; là một bộ phận quan trọng của văn hóa nói chung và thống nhất với văn hoá từ bản chất, đặc trưng đến cấu trúc, đồng thời thẩm mỹ lại biểu hiện như một lĩnh vực văn hoá đặc thù. Thẩm mỹ hoà quyện vào văn hoá, làm cho văn hoá đạt tới sự vận hành “theo quy luật của cái đẹp”. Nó giúp con người cảm thụ, nhận thức, đánh giá và sáng tạo các giá trị thẩm mỹ. Thẩm mỹ là sự thể hiện và thực hiện năng lực thẩm mỹ của con người trong các hoạt động xã hội. Thẩm mỹ liên quan đến thị hiếu nghệ thuật của văn hóa. Trong văn hoá thẩm mỹ, tác phẩm nghệ thuật là cầu nối truyền đạt thông điệp chân - thiện - mỹ từ thế hệ này sang thế hệ khác và là ngôn ngữ chung của loài người, làm cho tư tưởng, tình cảm và ý chí của con người thêm phong phú và đa đạng. Mỗi quốc gia tạo lập cho mình những giá trị thẩm mỹ riêng. Ví dụ: giá trị thẩm mỹ của người Pháp khác với người Trung Quốc đều này phản ảnh qua hội họa, văn chương, âm nhạc và thị hiếu nghệ thuật của hai dân tộc Hội họa Trung Quốc có một lịch sử truyền thừa lâu dài và nguồn gốc văn hóa thâm sâu. Nó nhấn mạnh vào ý tưởng nghệ thuật và cảnh giới mà sự vật biểu hiện.Có ba loại ý tưởng nghệ thuật chính trong tranh vẽ Trung Quốc: (1) mở và chân chính, tự nhiên và thăng bằng, hài hòa; (2) cao quý, tao nhã, đẹp, uy nghi và trang trọng; (3) tĩnh mịch, trang nghiêm và trầm tĩnh. Còn với hội họa ở pháp, các bức tranh chân thực, sống động, quen thuộc về cuộc sống, về môi trường xã hội xung quanh. Pháp cũng chính là nơi ra đời của hội họa hiện thực. Trong suốt thế kỷ 18 và 19, Pháp là trung tâm về nhiều mặt: xã hội, chính trị, văn hóa... Dù nhiều xu hướng hội họa liên tiếp ra đời, chủ đề chính vẫn là tôn giáo, lịch sử, thần thoại với lối vẽ kinh điển. Để hiểu một nền văn hóa, chúng ta cần nghiên cứu những sự khác nhau đó tác động đến hành vi. Ví dụ opera phổ biến ở Châu Âu hơn ở Mỹ. đó là lý do nhiều ngôi sao opera Mỹ trước hết phải tạo danh tiếng ở Châu Âu trước khi họ đạt được sự thành công nghề nghiệp ở quê nhà. Một khía cạnh khác, lĩnh vực điện ảnh đã đạt tiêu chuẩn quốc tế ở Mỹ trong khi những phim sản xuất ở Châu Âu thường chỉ thành công ở mức giới hạn hơn. Trong một vài trường hợp điện ảnh cũng giúp giải thích cách mà những giá trị văn hóa mang tính quốc tế. ấn tượng của phim ảnh có thể được cảm nhận trên cả thế giới và những ngôi sao điện ảnh trở thành những người nổi tiếng. Thông qua lý tưởng thẩm mỹ, thẩm mỹ góp phần định hướng giá trị, phê phán cái sai, lên án cái ác, cái xấu hướng con người tới cái đúng, cái thiện, cái đẹp; xây dựng những yếu tố tích cực của xu hướng cá nhân trong sự phát triển nhân cách. Tuy nhiên, có nhiều khía cạnh của thẩm mỹ làm cho các nền văn hóa khác nhau. Một trong những lĩnh vực liên quan đến thẩm mỹ là màu sắc. Ở nhiều nước Phương Tây màu đen sử dụng cho đồ tang, màu trắng sử dụng khi vui, hoặc chỉ sự tinh khiết. ở nhiều nước Phương Đông màu trắng dùng cho đồ tang. Rõ ràng giá trị thẩm mỹ ảnh hưởng tới hành vi và chúng ta cần phải hiểu giá trị thẩm mỹ nếu chúng ta muốn thích nghi với một nền văn hóa khác. 2.7 GIÁO DỤC (EDUCATION) Để tồn tại và phát triển loài người không ngừng tác động vào thế giới khách quan, nhận thức thế giới khách quan để tích lũy vốn kinh nghiệm, đó là hoạt động nhận thức. Xã hội tồn tại và phát triển cần phải có sự truyền giao kinh nghiệm từ thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau, đó là hiên tượng giáo duc. Như vậy, giáo dục là quá trình truyền lại kinh nghiệm từ thế hệ trước cho thế hệ đi sau, thế hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệm để tham gia vào cuộc sống lao động và các hoạt động xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội loài người. Tuy nhiên, thế hệ sau không phải lĩnh hội toàn bộ những kinh nghiệm của thế hệ trước để lại mà còn bổ sung, làm phong phú thêm những kinh nghiệm của loài người- đó là quy luật của sự tiến bộ xã hội-là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người. Giáo dục cũng giúp con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Giáo dục ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của văn hóa như: phong tục, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật…Những người có học thức họ thường đọc nhiều và có sự hiểu biết rộng lớn những kiên thức, những điều xảy ra trên thế giới. Giáo dục giúp cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết để phát triển khả năng quản trị. Giáo dục là yếu tố quan trọng để hiểu biết văn hóa. Hiện nay vấn đề học vấn ở hầu hết các nước trên thế giới đang được nâng lên, và mỗi nước cũng đã biết áp dụng những tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng giáo dục. Ví dụ như ở Việt Nam nước ta hiên nay: Mười tiêu chuẩn giáo dục đại học (theo Qui định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học 65/2007/QĐ-BGDĐT) 1. Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học 2. Tổ chức và quản lí 3. Chương trình giáo dục 4. Hoạt động đào tạo 5. Đội ngũ cán bộ quản lí, giảng viên và nhân viên 6. Người học 7. Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ 8. Hoạt động hợp tác quốc tế 9. Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác 10. Tài chính và quản lý tài chính Một trong những tiêu chuẩn đánh giá chung nhất về giáo dục là mô hình giáo dục. Mỗi quốc gia có một mô hình giáo dục khác nhau. Ví dụ: mô hình giáo dục đại học ở một số nước tiên tiến như: Mô hình giáo dục đại học Hoa Kỳ Giáo dục đại học ở Hoa Kỳ có đặc điểm là vận hành theo nguyên tắc tự trị rộng lớn của các trường đại học.Hiến pháp Mỹ quy định, trách nhiệm quản lý giáo dục không thuộc về Chính phủ liên bang mà thuộc về mỗi bang. Chính quyền bang cũng chỉ quản lý giáo dục bậc cao một phần, bằng việc đầu tư một khoản kinh phí và cử một người đại diện tham gia Hội đồng quản trị của các trường đại học công Mô hình giáo dục đại học Liên Xô (cũ) Tổng hợp quốc gia Mát-xcơ-va mang tên Lô-mô-nô-xốp (Nga) - nơi đào tạo nhân tài cho các nước Mô hình này trái ngược hoàn toàn với mô hình của Hoa Kỳ. Nguyên tắc tập trung hóa và thống nhất về chính trị chi phối toàn bộ hoạt động và quản lý, quy mô và nội dung chất lượng đào tạo của các trường đại học trong một hệ thống. Hoạt động của tất cả các trường đại học hầu như nhờ nguồn kinh phí của nhà nước cấp. Các trường đại học được tự soạn giáo trình và chọn phương pháp giảng dạy, song phải theo chương trình và kế hoạch học tập của Bộ Đại học. Ưu điểm của mô hình này là Nhà nước có thể quản lý chặt chẽ và toàn diện giáo dục bậc đại học, tạo ra nền giáo dục đại học có tính đại chúng cao. Song, mặt kém của mô hình này là thiếu sự năng động và kém thích ứng trước sự biến đổi của môi trường kinh tế-xã hội quốc gia và quốc tế. Mô hình giáo dục đại học Đức Mô hình giáo dục đại học Đức do Uyn-hem Vôn Hăm-bôn sáng lập từ thế kỷ XIX với mục đích xây dựng những trung tâm nghiên cứu đại học hiện đại để “đẩy lùi những biên giới của kiến thức”. Mô hình này không coi trọng sự can thiệp của chính trị và quyền lực nhà nước đối với giáo dục đại học. Nó đảm bảo tính độc lập, tự quyết của các trường đại học và quyền tự do của các thành viên được theo đuổi việc nghiên cứu mà không có sự can thiệp của chính quyền. Chính phủ liên bang và các bang chỉ có quyền hạn quản lý một phần công việc của các trường đại học, thông qua việc cấp phát tài chính và qua Hội đồng đại học để bàn bạc đánh giá công việc của các trường. Các trường đại học ở Đức có toàn quyền tuyển dụng, trả lương và thưởng - phạt nhân sự của mình. Mô hình giáo dục đại học Anh Mô hình giáo dục đại học ở xứ sở sương mù được nêu lên như một tấm gương sáng về một hệ thống giáo dục bậc cao được hưởng sự tự trị về thể chế rất rộng rãi. Nhà nước chỉ quản lý các trường đại học thông qua việc cấp phát tài chính. Các trường đại học ở đây hoàn toàn có quyền sử dụng kinh phí đã được cấp mà không có sự can thiệp hay kiểm tra của nhà nước.Sinh viên ở đây bắt buộc phải ở trong ký túc xá, hợp thành một cộng đồng sinh hoạt và học tập dưới sự quản lý của nhà trường. Mô hình giáo dục đại học Pháp Giáo dục đại học Pháp do Na-pô-lê-ông khởi xướng, là một trong những ví dụ cổ xưa nhất về việc Nhà nước sử dụng đại học như một công cụ hiện đại hóa xã hội. Các trường đại học ở Pháp có quyền chủ động xây dựng chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy cũng như nghiên cứu khoa học. Mô hình giáo dục đại học Pháp được hình thành trong cơ chế thị trường, do đó có thể khuyến khích sự cạnh tranh về nhân lực và chất lượng giữa các trường đại học.Giáo dục đại học Pháp được chia thành hai hệ: đào tạo tổng quát và đào tạo nghề nghiệp. Hai hệ này không tách rời nhau: giữa hai hệ thường có cầu nối để sinh viên có thể chuyển từ hệ này sang hệ kia. 3. Văn hóa và thái độ ( cultural and attitudinal dimentions) Ngôn ngữ, tôn giáo, giá trị và thái độ, cách cư xử và thói quen, cơ sở vật chất, thẩm mỹ và giáo dục là những yếu tố của văn hóa để giải thích những sự khác nhau về hành vi của con người. trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu cố gắng xây dựng một bức tranh kết hợp những sự khác nhau này. Việc này được thực hiện bằng hai cách. Một vài nhà nghiên cứu nhìn vào những khía cạnh phản ảnh những sự giống nhau và khác nhau giữa các nền văn hóa. Những nhà nghiên cứu khác thì sử dụng những điều này để phân chia các nước thành các nhóm có nền văn hóa tương tự nhau. 3.1 những khía cạnh văn hóa ( cultural dimensions) Geert Hoftede, một nhà nghiên cứu người Hà Lan, đã tìm thấy bốn khía cạnh văn hóa giúp giải thích phương cách và lý do con người trong những nền văn hóa khác nhau lại hành động như thế. Những sự tìm kiếm ban đầu được tập hợp từ 116.000 bảng câu hỏi từ 70 nước khác nhau. Các nhà nghiên cứu vẫn còn tiếp tục này để khám phá và mở rộng những điều nghiên cứu. Bốn khía cạnh khác nhau của Hofstede là : khoảng cách quyền lực, lẫn tránh rủi ro, chủ nghĩa cá nhân, sự cứng rắn. Sự cách biệt quyền lực ( power distance). Sự cách biệt quyền lực là các tầng nấc quyền lực được chấp nhận giữa cấp trên và cấp dưới trong các tổ chức. trong những nền văn hóa có sự cách biệt quyền lực cao con người phải tuân thủ quyền lực vô điều kiện. Hofstede thấy rằng các nước Latin và Châu Á như Malaysia, Philippines, Panama, Guatemala, Venezuela và Mexico là tiêu biểu cho dạng này. Ngược lại, Mỹ, Canada, và nhiều nước Châu Âu như Đan Mạch, Anh, và Úc thì ở mức trung bình đến thấp. Nói đến quyền lực thì có 2 loại: quyền lực mềm và quyền lực cứng. Quyền lực mềm” của một quốc gia được xây dựng trên nền tảng nền văn hóa, các giá trị và chính sách của quốc gia. Nó được thể hiện thông qua các yếu tố như hình ảnh, uy tín của đất nước và lãnh đạo, năng lực giao tiếp, nhất là khả năng thuyết phục của những người thực thi quyền lực, mức độ cởi mở của xã hội, sức hấp dẫn, quyến rũ, đặc biệt là của nền văn hóa, v.v.. Có hai kênh chủ yếu để triển khai “quyền lực mềm” trong quan hệ quốc tế. Kênh thứ nhất là trực tiếp thông qua hoạt động ngoại giao của chính phủ. Kênh thứ hai là thông qua hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (bao gồm cả các doanh nghiệp) và sự giao lưu giữa  cộng đồng dân cư của các quốc gia.  Như vậy, quyền lực mềm khác cơ bản với “quyền lực cứng” - loại quyền lực dựa trên đe dọa và mua chuộc, kiểu "cây gậy và củ cà rốt", nhờ vào sức mạnh quân sự, kinh tế và khoa học công nghệ. Sức mạnh của quốc gia là tổng hợp của “quyền lực cứng” và “quyền lực mềm” được tạo nên từ cả bên trong lẫn bên ngoài mỗi quốc gia. Việc kết hợp và sử dụng khéo léo hai loại quyền lực này sẽ tạo ra một sức mạnh lớn (Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton gọi là “sức mạnh thông minh”) giúp quốc gia có vị thế quốc tế tốt hơn và có khả năng thực hiện mục tiêu theo đuổi một cách hiệu quả hơn. Từ xa xưa, trong quan hệ quốc tế, bên cạnh việc sử dụng “quyền lực cứng” được xem là biện pháp chính yếu và truyền thống, các nước cũng đã biết sử dụng “quyền lực mềm”. Đặc biệt, các cường quốc thường sử dụng “quyền lực mềm” để   thực hiện mục tiêu nô dịch, trói buộc các nước khác trong vòng ảnh hưởng của mình. Ngày nay, trong bối cảnh xu thế hòa bình hợp tác và xu thế toàn cầu hóa trở thành những dòng chảy chính của quan hệ quốc tế, việc sử dụng “quyền lực cứng” ngày càng không còn là lựa chọn tối ưu của các quốc gia, “quyền lực mềm” được quan tâm và nhấn mạnh nhiều hơn, không những bởi nó phù hợp với xu thế thời đại, mà còn bởi tính chất “lạt mềm buộc chặt” và ít tốn kém hơn để đạt đến mục đích thông qua sử dụng công cụ này. Ví dụ: Những năm gần đây, Mỹ và Trung quốc đặc biệt quan tâm phát huy và sử dụng “quyền lực mềm”. Theo một số nhà phân tích, hai cường quốc này đang tiến hành một cuộc chạy đua về phát triển và sử dụng “quyền lực mềm” trên phạm vi toàn cầu. Trước hết, nước Mỹ là một nơi mà nhiều giá trị tiến bộ về tư tưởng và những giá trị mang tính phổ quát được nảy nở và hiện thực hóa, đồng thời Mỹ cũng luôn thể hiện mình là nước đấu tranh cho sự thực hiện và phổ quát hoá những giá trị đó trên thế giới. Thứ hai, văn hóa Mỹ kết hợp được nhiều tinh hoa của thế giới, được hiện đại hóa, có sức sống lớn và lan tỏa mạnh; bên cạnh đó là một nền giáo dục phát triển bậc nhất thế giới. Thứ ba, nhìn chung các chính quyền ở Mỹ đều chủ trương và triển khai ở mức độ khác nhau chính sách phát huy “quyền lực mềm” trong quan hệ quốc tế. Thứ tư, tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự và khoa học công nghệ vượt trội so với các quốc gia khác hỗ trợ tối đa cho việc phát huy và triển khai “quyền lực mềm” của Mỹ trên toàn thế giới. Những yếu tố “quyền lực mềm” chủ yếu được Mỹ đặc biệt phát huy gồm: thứ nhất, các giá trị Mỹ về tư tưởng chính trị và kinh tế (tự do, dân chủ, đa nguyên, nhân quyền, nhà nước pháp quyền, thị trường tự do, kinh tế mới…), thứ hai, các giá trị của nền văn hóa và giáo dục tiên tiến, hiện đại có tính phổ quát của Mỹ (lối sống tự do, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, văn hóa ẩm thực nhanh như McDonal, KFC với humberger, gà chiên Kentucky, khoai tây chiên giòn và Coca Cola, quần bò Levis, điện ảnh Hollywood, nhà hộp chọc trời…). Những yếu tố “quyền lực mềm” này đã lan tỏa trên thế giới, góp phần tạo dựng hình ảnh một nước Mỹ hùng cường, hiện đại, tiên tiến, và, cùng với các yếu tố của “quyền lực cứng”, góp phần củng cố, duy trì vị thế số một của Mỹ trong trật tự thế giới mà Mỹ đang tiếp tục chi phối. Tuy nhiên, Mỹ không phải lúc nào cũng thành công trong sử dụng “quyền lực mềm” cũng như trong việc kết hợp nó với “quyền lực cứng”. Tám năm cầm quyền của Tổng thống G. Bush với chính sách “diều hâu”, chủ yếu dựa vào “quyền lực cứng” để tiến hành chiến tranh và áp đặt, đã làm cho nước Mỹ suy yếu, giảm uy tín quốc tế, thậm chí còn làm dấy lên tình cảm chống Mỹ trong thế giới hồi giáo, quan hệ giữa Mỹ với một số nước, kể cả đồng minh, gặp khó khăn và rắc rối. Điều này cũng đồng nghĩa với “quyền lực mềm” của Mỹ bị suy giảm đáng kể. Nhận thức rõ thực tế đó, Tổng thống Barack Obama, ngay từ khi bước vào Nhà Trắng, đã thể hiện quyết tâm cải biến nhằm khôi phục lại sức mạnh, uy tín và vị thế của nước Mỹ. Ngay trong bài diễn văn nhậm chức vào ngày 20/1/2009, Tổng thống Barack Obama đã nêu rõ chính sách của chính quyền mới là: “Nước Mỹ sẽ chú trọng hơn đến chủ nghĩa đa phương, tính nhân văn và sự kiềm chế”. Ông nhấn mạnh: "đối với thế giới Hồi giáo, chúng tôi tìm kiếm một cách thức mới hướng về phía trước, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau" và ông hứa hẹn "nước Mỹ sẽ tìm kiếm sự hợp tác và hiểu biết lớn hơn giữa các dân tộc". Trong Chiến lược An ninh quốc gia công bố gần đây, Nhà Trắng nêu rõ ưu tiên sử dụng các biện pháp ngoại giao, đặc biệt là ngoại giao đa phương để giải quyết các vấn đề về an ninh, kể cả đối với các cuộc chiến tranh ở Irak và Afghanistan hiện nay. Chiến lược này đã loại cuộc chiến chống khủng bố khỏi chương trình nghị sự và đặt mục tiêu phục hồi và thịnh vượng kinh tế là một ưu tiên hàng đầu. Chiến lược cũng khẳng định “bốn lợi ích quốc gia vĩnh viễn có sự liên kết chặt chẽ” của Mỹ là an ninh, thịnh vượng, giá trị và trật tự quốc tế. Điều này cho thấy chính quyền Obama quan tâm và chú trọng đặc biệt tới sử dụng và phát huy “quyền lực mềm” để bảo đảm an ninh quốc gia và thúc đẩy quan hệ đối ngoại.  Trong những quốc gia có sự cách biệt quyền lực cao, nhà quản trị có những quyết định độc tài và gia trưởng và thuộc cấp phải làm theo những điều họ bảo. Thường những quốc gia này có cấu trúc kinh doanh theo kiểu kiểm soát chặt chẽ và thiếu bình đẳng trong công việc. Cơ cấu tổ chức theo hướng cao (nhọn) và người quản trị chỉ có làm việc trực tiếp với một vài cấp. Ở những nước có khoảng cách quyền lực ở mức trung bình đến thấp, người ta coi trọng giá trị độc lập, nhà quản trị hỏi ý kiến các thuộc cấp trước khi quyết định và có sự bình đẳng hơn trong công việc. Cơ cấu tổ chức theo hướng phẳng và nhà quản trị trực tiếp giám sát nhiều thuộc cấp hơn so với những công ty có sự cách biệt quyền lực cao. Lẫn tránh rủi ro ( Uncertainty Advoidance). Là khả năng con người cảm thấy sợ hãi bởi những tình huống rủi ro và cố gắng tạo ra những cơ sở và niềm tin nhằm tối thiểu hoặc lẫn tránh những điều không chắc chắn. Các nước có hướng lẫn tránh rủi ro cao thường cố gắng giảm rủi ro và phát triển những hệ thống và những phương pháp để giải quyết những vấn đề không rõ ràng Hofstede nhận thấy những quốc gia thuộc loại này như Hy Lạp, Uruguay, Guatemala, Bồ Đào Nha, Nhật và Hàn Quốc. Những nước ít quan tâm đến vấn đề này là Singapore, Thụy Điển, Anh, Mỹ và Canada. Những nước có hướng lẫn tránh rủi ro thường khuôn mẫu hóa những hành động có tính tổ chức và phụ thuộc nhiều vào những qui định và luật lệ để đảm bảo rằng con người biết rõ họ phải làm gì. Những người này thường bị lo lắng và căng thẳng, họ rất chú trọng đến sự an toàn và những quyết định thường là kết quả của nhiều sự đồng ý. Những xã hội ít quan tâm đến việc lẫn tránh rủi ro thường ít rang buộc những hoạt động và khuyến khích người quản trị đối mặt với rủi ro. Những người nay ít bị căng thẳng và chấp nhận những bất đồng và chủ yếu dựa vào khả năng phán đoán và sự sáng tạo trong công việc. Chủ nghĩa cá nhân ( individualism): là khuynh hướng con người chú trọng bản thân họ và những điều liên quan trực tiếp đến họ. Hướng này đối nghịch với chủ nghĩa tập thể, là khuynh hướng con người dựa vào nhóm để làm việc và trung thành với nhau. Hofstede nhận thấy các quốc gia có kinh tế phát triển có khuynh hướng chú trọng chủ nghĩa cá nhân hơn những nước nghèo. Ví dụ: Mỹ, Anh, Hà Lan, Canada có tính chủ nghĩa cá nhân cao. Ngược lại, Ecuador, Guatemala, Pakistan, và Indonesia có tính chủ nghĩa cá nhân thấp. mặc dù Hofstede không đo lường những sự thay đổi của chủ nghĩa cá nhân cao hơn các nước châu á khác. Chủ nghĩa tập thể được coi trọng ở những quốc gia còn lại của thế giới cũng như việc nhật gia tăng chủ nghĩa cá nhân và xem là một năng lực chủ yếu trên vũ đài kinh tế thế giới. Ví dụ: Chủ nghĩa cá nhân và lịch sử nước Mỹ: Vào thời kỳ hình thành nước Mỹ, nhiều công dân tại đây đã đến nước Mỹ do chạy trốn từ những áp bức tôn giáo hay nhà nước ở châu Âu và do vậy chịu ảnh hưởng của các tư tưởng bình đẳng bác ái mà sau này được diễn tả trong cuộc Cách mạng Pháp. Những ý tưởng như vậy cũng đã ảnh hưởng đến những Cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ (chủ nghĩa Jefferson) những người tin rằng nhà nước cần đảm bảo bảo vệ quyền cá nhân bằng bản thân hiến pháp; ý tưởng này đã dẫn đến việc thông qua Tu chính Hiến pháp về Quyền Công dân. Theo Ronald Scollon, "ý tưởng căn bản Mỹ của chủ nghĩa nghĩa cá nhân " có thể tóm tắt bằng hai mệnh đề: 1. Cá nhân là cơ sở của tất cả các thực tại và tất cả các xã hội. 2. Cá nhân được xác định bởi những gì không phải là anh ta hay chị ta". Giải thích mệnh đề thứ hai, ông nói chủ nghĩa cá nhân Mỹ nhấn mạnh rằng cá nhân là chủ thể không phụ thuộc vào bất kỳ một sự tài phán nào của pháp luật và là một chủ thể "không" phụ thuộc tiền lệ hay truyền thống. Những nước coi trọng chủ nghĩa cá nhân mong muốn cá nhân tự phát triển hết khả năng, nhấn mạnh năng lực cá nhân và những thành tựu của họ. Sự đảm bảo tự do cá nhân và tài chính cá nhân được xem là có giá trị cao và con người được khuyến khích ra những quyết định cá nhân mà không tin vào sự ủng hộ của tập thể. Ngược lại, những nước không coi trọng chủ nghĩa cá nhân nhấn mạnh tầm quan trọng của quyết định nhóm và sự kết hợp. Không ai muốn có được sự chú ý đặc biệt ngay cả khi làm tốt công việc. sự thành công có tính tập thể và sự ca ngợi cá nhân. Những quốc gia không coi trọng chủ nghĩa cá nhân nhấn mạnh của cải và sức mạnh là có từ sự kết hợp tập thể. Sự cứng rắn ( masculinity): là loại giá trị thống trị xã hội bằng “ sự thành công, tiền bạc, và của cải” Hofstede đo lường khía cạnh này với khía cạnh trái ngược là sự mềm mỏng (femininity) là loại giá trị thống trị xã hội bằng “ sự nhân đạo và chất lượng cuộc sống”. Ông ta thấy rằng những nước có tính cứng rắn là nhật, úc, Venezuela, và Mexico. Những nước có tính cứng rắn thấp (hay có tính mềm mỏng cao) là Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch và Hà Lan. Mỹ được xem là ở mức trung bình đến cao tương tự những nước nói tiếng anh khác. Những nước có tính cứng rắn cao đánh giá cao tầm quan trọng của thu nhập, sự thừa nhận, sự thăng tiến và sự thử thách. Sự thành đạt được xác định bằng của cải và sự nhận biết. Những nền văn hóa này thường có hướng ủng hộ những công ty có qui mô lớn và sự phát triển kinh tế được xem là rất quan trọng. Trong trường học trẻ em được khuyến khích trỏ thành những người quan trọng và những bé trai được khuyến khích nghĩ về những nghề nghiệp mà chúng có thể thành đạt. Điều này ít được chú trọng hơn cho bé gái bởi vì số phụ nữ giữ những công việc quan trọng chỉ giới hạn. Những nước ít cứng rắn hơn thì nhấn mạnh vào một môi trường làm việc than thiện, sự hợp tác và đảm bảo công việc. Sự thành đạt được xác định bởi sự hợp tác con người và môi trường sinh sống. Những nước này chú trọng đến nơi làm việc và công nhận được nhiều tự do hơn. Sự kết hợp những khía cạnh này. Bốn khía cạnh được nêu trên đây ảnh hưởng đến nền văn hóa chung của xã hội và dẫn đến một môi trường thống nhất. Không có một nền văn hóa nào đồng nhất với nền văn hóa khác, tuy nhiên có những cái tương tự. Mỹ có tính chủ nghĩa cá nhân cao và sự cách biệt ở mức trung bình. Nền văn hóa Mỹ được đặc trưng bởi ước muốn làm việc có tính cá nhân (chủ nghĩa cá nhân) và những cá nhân trong nhà cầm quyền không được kính nể. cần chú ý những nước nói tiếng anh khác cũng được định vị gần đó như Úc (AUL), Great Britain (GBR), và Canada (CAN).có một loạt các nước châu âu gồm Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đan Mạch và Ireland. Có một vài nước Tây Âu gồm Ý, Bỉ, Pháp, Và Tây Ban Nha. Họ có nền văn hóa tương tự với những nước láng gieeng. Các nước Latin, Châu Á, những nước Đông Và Tây Phi, ả Rập có đặc trưng là có tính chủ nghĩa cá nhân ở mức trung bình đến thấp và sự cách biệt quyền lực ở mức trung bình đến cao. Có một sự quan tâm đặc biệt khi xem xét các nước phương đông, nhật rất giống mỹ. sự giống nhau này chỉ ra rằng kỹ thuật và sự giàu có có thể là nguyên nhân làm nền văn hóa thay đổi giống những nước có môi trường kinh tế/ kỹ thuật tương tự. Nền văn hóa Mỹ khuyến khích sự lẫn tránh rủi ro và tính cứng rắn ở mức trung bình. Một lần nữa, những nước xung quanh mỹ là những nước nói tiếng anh có tôn giáo, lịch sử và sự phát triển kinh tế tương tự nhau và nói cùng ngôn ngữ. các nước Scandinavian trong khi Latin và những nước phương đông được đặc trưng bởi sự lẫn tránh cao và có những mức độ khác nhau về tính cứng rắn. Còn Nhật thì được đặc trưng bởi sự lẫn tránh cao và tính cứng rắn cao. 3.2. Các khuynh hướng và thái độ Nghiên cứu và dựa trên bốn lĩnh vực văn hóa

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxVăn hóa quốc tế.docx
Tài liệu liên quan