Đề án Hoạt dộng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 2

I. Khái quát chung về hoạt động xuất khẩu. 2

1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu. 2

2. Các hình thức xuất khẩu. 2

2.1 . Xuất khẩu trực tiếp. 2

2.2. Xuất khẩu qua trung gian. 3

3. Vai trò của hoạt đông xuất khẩu . 3

3.1. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp có hàng xuất khẩu. 4

3.2. Vai trò của hoạt đông xuất khẩu đối với đất nước có sản phẩm xuất khẩu. 4

II. Những nội dung chính của hoạt động xuất khẩu. 4

1. Điều tra nghiên cứa nhu cầu thị trường . 4

2. Lập kế hoạch xuất khẩu sản phẩm. 5

3. Chuẩn bị hàng hóa để xuất khẩu. 6

4. Lựa chọn các hình thức xuất khẩu sản phẩm. 6

5. Tổ chức các hoạt động xúc tiến yểm trợ cho hoạt động xuất khẩu. 7

6. Lựa chọn đối tác để xuất khẩu. 8

7. Đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu sản phẩm. 9

8. Tổ chức hoạt động xuất khẩu. 9

9. Phân tích và đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu. 9

9.1. phân tích, đánh giá hiệu quả đối với doanh nghiệp. 9

9.2. Phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. 10

III. Khái quát chung về thị trường EU và quan hệ thương mại giữa Việt Nam – EU. 10

1. Vài nét về liên minh EU. 10

1.1. Đặc điểm chung của thị trường liên minh EU. 12

1.2. Chính sách thương mại của EU. 15

1.2.1. Chính sách thương mại nội khối. 15

1.2.2. Chính sách ngoại thương. 15

1.2.3. Những quy định của EU về xuất xứ hàng hóa. 16

2. Quan hệ hợp tác thương mại giữa việt nam và liên minh EU. 17

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU 19

I. Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may việt nam sang thị trường EU. 19

II. Những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp việt nam khi xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU. 20

1. Những điểm mạnh của các doanh nghiệp việt nam khi xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU. 20

1.1. Kim ngạch xuất khẩu dệt may vào thị trường EU liên tục tăng qua các năm. 20

1.2 . Xuất khẩu của việt nam được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập GSP từ ngày 1/7/1996 cho tới nay và việc liên minh EU ký hiệp ước bãi bỏ hạn ngạch của ngành dệt may khi xuất khẩu vào thị trường này. 23

1.3. Ngành dệt may việt nam có nguồn lao động dồi dào và giá thành thuê lao động không cao. 23

1.4. Công nghệ sản xuất trong lĩnh vực dệt may ngày càng được đầu tư với những dây truyền kỹ thuật tiên tiến. 24

1.5. Kỹ thuật quản lý và chất lượng đội ngũ công nhân làm việc ngày càng được nâng cao tay nghề. 24

1.6. Mẫu mã, chất lượng sản phẩm ngày càng đa dạng và nâng cao thích hợp với nhu cầu tiêu dùng của người Châu Âu. 25

1.7. Nhà nước ngày càng tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu dệt may sang thị trường EU. 25

2. Những điểm yếu của các doanh nghiệp việt nam khi xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU. 25

2.1. Thị trường EU là một thị trường rộng lớn với đầy tiềm năng nhưng cũng là một thị trường “sang trọng” và “khó tính” trong khi đó các thông tin về thị trường này mà các doanh nghiệp có được còn rất hạn chế. 25

2.3. Mẫu mã, chất lượng sản phẩm dệt may chưa thực sự phù hợp với những tiêu chuẩn chất lượng và sở thích, nhu cầu tiêu dùng của người EU. 26

2.4. Nhân công tay nghề cao còn thiếu và yếu, hiệu lực quản lý chưa thực sự được nâng cao. 26

2.5. Công nghệ sản xuất tuy được đầu tư nhưng chưa đủ để đáp ứng cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu những lô hàng lớn mà mức độ phức tạp cao. 27

III. Những cơ hội và nguy cơ đối với hoạt động xuất khẩu hàng dệt may việt nam sang thị trường EU. 27

1. Những cơ hội của ngành dệt may việt nam khi xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU. 27

1.1. Việt nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới vào năm 2007. 27

1.2. Các thông tin về thị trường EU ngày càng được các doanh nghiệp quan tâm và tìm hiểu sâu sắc. 28

2. Những nguy cơ của ngành dệt may khi xuất khẩu sang thị trường EU. 28

2.1. Có đến 80 (%) nguyên phụ liệu dung để sản xuất hàng dệt may là việt nam phải nhập khẩu từ các quốc gia khác. 28

2.2. Xuất khẩu sản phẩm dệt may việt nam sang thị trường EU phải cạnh tranh với rất nhiều sản phẩm dệt may của các nước khác. 28

2.3. Chúng ta chưa có nhiều thương hiệu nổi tiềng trên thị trường EU đối với sản phẩm dệt may do vậy việc tiêu thụ trên thị trường này còn rất nhiều khó khăn. 29

IV. Một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng dệt may việt nam khi xuất khẩu sang thị trường này. 29

1. Điều tra nghiên cứu thị trường EU. 29

2. Đào tạo nâng cao tay nghề của nhân công và hiệu lực quản lý của các doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may. 30

3. Nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng mẫu mã chủng loại các phẩm, đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật về sản phẩm theo quy định của liên minh EU bảo đảm cho hàng việt nam có thể thâm nhập thị trường này một cách dễ dàng hơn đồng thời nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường này. 30

4. Xây dựng các nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu cho sản xuất sản phẩm dệt may. 30

5. Xây dựng các thương hiệu đủ mạnh trên thị trường EU, từ đó giúp cho đông đảo người tiêu dùng EU biết đến và tin dùng sản phẩm. Đồng thời phải phát triển và hoàn thiện hệ thống kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường này. 31

6. Đổi mới dây chuyền công nghệ để nâng cao năng suất lao động cũng như chất lượng sản phẩm. 31

7. Tận dụng nguồn lao động dồi dào và giá thành lao động không cao để giảm giá thành sản phẩm tạo động lực nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. 31

8. Tận dụng lợi thế khi chúng ta tham gia vào tổ chức thương mại thế giới WTO. 32

KẾT LUẬN 33

 

 

doc39 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Lượt xem: 1753 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề án Hoạt dộng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hí là doanh nghiệp cần phải thường xuyên đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp từ đó giúp cho doanh nghiệp đẩy mạnh hơn hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Doanh nghiệp có thể đánh giá thông qua lượng hàng xuất khẩu, thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp có được mở rộng hay không… Kết quả của việc phân tích, đánh giá, quá trình xuất khẩu sản phẩm sẽ là căn cứ để doanh nghiệp để doanh nghiệp có các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu và hoàn thiện quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trên mọi phương diện. vì vậy mỗi doanh nghiệp cần phải tổ chức tốt công tác đánh giá và phải làm rõ để thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp trong quá trình xuất khẩu. 9.2. Phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Hoạt động xuất khẩu có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Hoạt động xuất khẩu giúp quốc gia có được một lượng ngoại tệ, từ đó tạo điều kiện cho quốc gia nhập khẩu những mặt hàng công nghệ hiện đại phục vụ cho tiêu dùng và sản xuất từ đó lại đẩy mạnh hoạt động sản xuất của đất nước. Phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng làm giảm việc xuất khẩu sản phẩm để từ đó có các biện pháp cải thiện và thúc đẩy xuất khẩu. III. Khái quát chung về thị trường EU và quan hệ thương mại giữa Việt Nam – EU. 1. Vài nét về liên minh EU. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, một số chính khách châu âu nhận thấy rằng châu âu cần phải được liên kết chặt chẽ, trước hết là về kinh tế, chính trị để có vị trí xứng đáng hơn. Tiến tới thành lập hợp chủng quốc châu âu, từng bước cạnh tranh với chủng quốc hoa kỳ. Nỗ lực nhất thể hóa châu âu được hình thành từ những năm 50 thế kỷ 20. Hiệp ước thành lập cộng đồng than thép ký năm 1952 đã đặt nền móng cho việc thành lập liên minh châu âu ngày nay. Liên minh châu âu ( EU ) là hình thức hội nhập khu vực ở trình độ cao với nhiều triển vọng tốt đẹp cho các nước thành viên và cho toàn châu âu, đang phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực phấn đấu trở thành khu vực phát triển nhất hàng tinh, đủ sức đối phó với các thách thức toàn cầu trong thế kỷ 21, có lợi cho xu thế hòa bình và hợp tác phát triển toàn cầu…. Vị trí chính trị, tiềm lực kinh tế, thương mại, tài chính, khả năng phòng thủ của EU không ngừng tăng sau mỗi lần mở rộng, đặc biệt lần mở rộng thứ 5 thêm 10 thành viên và lần thứ 6 thêm 2 thành viên mới ở đông âu và nam âu. Việc này đặt ra cho tất cả các thành viên EU, châu âu và thế giới rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và xử lý, không chỉ kinh tế thương mại. Hiến pháp mới của EU được soạn thảo theo hướng minh bạch hơn, dan chủ hơn và hiệu quả hơn đang đứng trước nguy cơ sụp đổ do những bất đồng về quyền lực giữa các nước lớn và nhỏ, giữa chính phủ quốc gia thành viên và bộ máy hành pháp của khối, giữa thành viên cũ và mới về khoảng cách phát triển, về nhập cư, lao động, an ninh xã hội, thâm hụt ngân sách, chính sách đối ngoại…. Đồng tiền chung châu âu (euro) sau 21 năm chuẩn bị đã được lưu hành tại 12 nước thành viên từ ngày 1/1/2002, kết thúc quá trình nhất thể hóa về tiền tệ, một sự việc quan trọng thứ hai sau việc mỹ chấm dứt đổi usd ra vàng, làm cho vị thế của usd bị hạ thấp. Đến ngày 1/1/2007 tổng số thành viên của liên minh EU là 27 thành viên bao gồm: (Áo, Ba Lan, Bỉ, Bồ Đào Nha, Bulgaria, Cộng Hòa Séc, Đan Mạch, Đức, Estonia, Hà Lan, Hunggary, Hy Lạp, Ireland, Síp, Látvia, Litva, Luxembourg, Malta, Phần Lan, Pháp, Ramatia, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Vương Quốc Liên Hiệp Anh và bắc Ireland, Ý ) .Với diện tích là : (4.325.675 km2 ) với số dân là 496 triệu người, thu nhập bình quân đầu người là: ( 28.100 USD/ Năm ). Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của EU . % 2002 2003 2004 2005 2006 2007 (dự báo) Tốc Độ Tăng GDP 1.2 1.2 2.4 1.5 2.5 2.4 Tốc Độ Tăng Tiêu Dùng 1.6 1.6 2.1 1.6 1.6 2.1 Tốc Độ Tăng Vốn Đầu Tư -1.2 0.8 3.0 2.3 3.5 3.6 Tốc Độ Tăng Việc Làm 0.4 0.2 0.6 0.9 1.0 1.0 Tỷ Lệ Thất Nghiệp 8.7 9.0 9.0 8.7 8.5 8.1 Tỷ Lệ Lạm Phát 2.1 1.9 2.1 2.3 2.2 1.9 Nợ Chính Phủ ( % GDP ) 61.4 63.0 63.4 64.1 64.2 64.3 Cán Cân Tài Khoản Vãng Lai ( % GDP ) 0.3 0.1 0.0 -0.3 -0.4 -0.3 Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của liên minh EU 1.1. Đặc điểm chung của thị trường liên minh EU. EU là một một thị trường rộng lớn, tính đến ngày 1/1/2007 EU bao gồm 27 thành viên, với tổng diện tích là 4.325.675 km2 và có 496 triệu người, thu nhập bình quân đầu người là 28.100 USD/năm. Trong đó số dân sử dụng đồng euro là 348.6 triệu người. Thị trường EU thống nhất cho phép tự do lưu chuyển sức lao động, hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia thành viên. EU có 27 các quốc gia thành viên, mỗi thị trường lại có những đặc điểm tiêu dùng riêng. Như vậy có thể nhận thấy rằng thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hóa. Có những loại hàng hóa rât được ưa dùng ở pháp, bỉ nhưng lại không được thị trường anh đón chào. Tuy có những khác biệt nhất định về tập quán và thị trường tiêu dùng giữa các quốc gia trong khối EU, nhưng 27 các quốc gia chủ yếu nằm ở khu vực Tây và Bắc Âu nên có những điểm tương đồng về kinh tế và văn hóa. Trình độ phát triển kinh tế, xã hội giữa các quốc gia rất đồng đều, cho nên người dân thuộc liên minh EU có những điểm chung về sở thích và thói quen tiêu dùng. Người EU thích sử dụng và quen tiêu dùng một số loại hàng hóa sau. Hàng may mặc và giầy dép: Người dân Áo, Đức và Hà Lan chỉ mua hàng may mặc và giày dép không có chất nhuộc có nguồn gốc hữu cơ. Khách hàng EU đặc biệt chỉ quan tâm đến chất lượng và thời trang của hai loại sản phẩm này. Nhiều khi yếu tố thời trang lại mang tính quyết định cao hơn nhiều hơn so với giá cả. Người châu âu có sở thích và thói quen sử dụng các sản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới.Họ cho rằng những nhãn hiệu này gắn liền với chất lượng sản phẩm và có uy tín lâu đời, cho nên những sản phẩm nổi tiếng rất an tâm về chất lượng và an toàn cho người sử dụng. Nhiều trường hợp những sản phẩm này giá đắt, nhưng họ vẫn mua và không thích đổi sang sản phẩm không nổi tiếng khác cho dù giá rẻ hơn nhiều. Thị trường châu âu về cơ bản cũng như thị trường một quốc gia, có ba nhóm người tiêu dùng khác nhau: (1) nhóm có khả năng thanh toán ở mức cao, chiếm gần 20 (%) dân số EU, nhóm này dùng những hàng hóa tốt nhất, giá cả đắt nhất hoặc những mặt hàng hiếm và độc đáo. (2) nhóm có khả năng thanh toán ở mức trung bình, chiếm 68 (%) dân số, sử dụng loại hàng có chất lượng kém hơn nhóm (1) và giá cả cũng rẻ hơn. (3) nhóm có khả năng thanh toán ở mức thấp chiếm hơn 10 (%) dân số, tiêu dùng những loại hàng hóa có chất lượng và giá cả thấp hơn nhóm 2. Hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường này gồm cả hàng hóa cao cấp lẫm hàng hóa bình dân phục vụ cho mọi đối tượng. Đối tượng tiêu dùng hàng việt nam là nhóm 1 và nhóm 2. Các đối thủ cạnh tranh chính của hàng việt nam là hàng trung quốc và hàng của các nước ASEAN khác. Xu hướng tiêu dùng trên thị trường EU đang có những thay đổi như: Không thích sử dụng đồ nhựa và thích dùng đồ gỗ, thích ăn hàng thủy hải sản hơn ăn thịt, yêu cầu về mẫu mốt và kiểu dáng hàng hóa thay đổi nhanh, đặc biệt đối với những mặt hàng thời trang. Sở thích và thói quen tiêu dùng trên thị trường này đang thay đổi rất nhanh cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Ngày nay người châu âu cần nhiều chủng loại hàng hóa với số lượng lớn và những hàng hóa có vòng đời nhắn giá rẻ hơn và phương thức phục vụ tốt hơn. Hệ thống phân phối của EU về cơ bản cũng giống như hệ thống phân phối của một quốc gia, gồm mạng lưới bán buôn và mạng lưới bán lẻ. Tham gia vào hệ thống này là các công ty đa quốc gia, hệ thống các cửa hàng, siêu thị, các cửa hàng bán lẻ độc lập. Hệ thống phổ biến nhất của các kênh phân phối trên thị trường EU là theo tập đoàn và không theo tập đoàn. Kênh phân phối theo tập đoàn có nghĩa là các nhà sản xuất và các nhà nhập khẩu của một tập đoàn chỉ cung cấp hàng hóa cho hệ thống cửa hàng và siêu thị của tập đoàn này mà không cung cấp hàng hóa bán lẻ cho tập đoàn khác. Còn kênh phân phối không theo tập đoàn thì ngược lại, các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu của tập đoàn này ngoài việc cung cấp hàng hóa bán lẻ cho tập đoàn mình còn cung cấp hàng hóa bán lẻ cho tập đoàn khác và các công ty bán lẻ độc lập. Rất ít trường hợp các siêu thị lớn hoặc các công ty bán lẻ độc lập mua hàng trực tiếp từ các nhà sản xuất nước ngoài. Mối quan hệ bạn hàng giữa các nhà bán buôn và bán lẻ trên thị trường EU không phải là ngẫu nhiên mà phần lớn là do có quan hệ tín dụng và mua cổ phần của nhau các nhà bán buôn và bán lẻ trong hệ thống phân phối của EU thường có quan hệ làm ăn lâu đời và rất ít khi mua hàng của các nhà cung cấp không quen biết. Họ liên kết với nhau chặt chẽ thành một chuỗi mắt xích trong kinh doanh bằng các hợp đồng kinh tế. Các cam kết trong hợp đồng được được giám sát nghiêm ngặt bởi các chế tài của luật kinh tế. Việc đổ bể hợp đồng nhập khẩu sẽ kéo theo sự đổ bể của các hợp đồng cung ứng nội địa. Vì vậy các nhà nhập khẩu của EU yêu cầu rất cao về việc tuân thủ chặt chẽ các điều kiện của hợp đồng, đặc biệt là chất lượng và thời gian mua hàng. Hệ thống phân phối của EU đã hình thành nên một tổ hợp chặt chẽ và có nguồn gốc lâu đời. Tiếp cận được hệ thống phân phối này không phải là dễ dàng đối với các nhà xuất khẩu việt nam. Một đặc điểm nổi bật trên thị trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng rất được bảo vệ khác hẳn thị trường của các nước đang phát triển. Để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng EU tiến hàng kiểm tra sản phẩmngay từ nơi sản xuất và có các hệ thống báo động giữa các thành viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra sản phẩm ở biên giới. EU đã thông qua những quy định về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng về độ an toàn chung của các sản phẩm được bán ra, cac hợp đồng quảng cáo, bán hàng tận nhà, nhãn hiệu…. 1.2. Chính sách thương mại của EU. EU ngày nay được xem là một đại quốc gia ở châu âu. Chính sách thương mại của EU bao chính sách thương mại nội khối và chính sách thương mại ngoại thương. 1.2.1. Chính sách thương mại nội khối. Chính sách này tập trung vào việc xây dựng và vận hành thị trường chung châu âu nhằm xóa bỏ việc kiểm soát biên giới lãnh thổ quốc gia, biên giới hải quan để tự do lưu thông hàng hóa, sức lao động, dich vụ và vốn. thị trường chung EU dựa theo nền tảng của việc tự do lưu chuyển 4 yếu tố cơ bản của sản xuất: hàng hóa, sức lao động, dịch vụ và vốn. 1.2.2. Chính sách ngoại thương. Chính sách ngoại thương đề cập đến việc các quốc gia thành viên của EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương chung đối với các nước ngoài khối. Ủy ban châu âu EC là người đại diện duy nhất cho liên minh trong việc đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại và dàn dếp trong lĩnh vực này. Chính sách ngoại thương EU gồm: Chính sách thương mại tự trị và chính sách thương mại dựa trên cơ sở hiệp định, được xây dựng trên các nguyên tác sau: Không phân biệt đối xử, minh bạch, có đi có lại và cạnh tranh công bằng. Các biện pháp được áp dụng phổ biến trong chính sách này là thuế quan, hạn chế số lượng và hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu. Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại, EU đã thực hiện các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp xuất khẩu, chống hàng giả. EU đã ban hàng chính sách chống bán phá giá và áp dụng thuế “ chống xuất khẩu bán phá giá ” để đấu tranh với những trở ngại trong buôn bán với thế giới thứ ba. Không chỉ dừng lại việc áp dụng chống cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại, EU còn sử dụng một biện pháp để đẩy mạnh thương mại với các nước đang phát triển và chậm và chậm phát triển là hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập ( GSP). 1.2.3. Những quy định của EU về xuất xứ hàng hóa. Đối với sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ hưởng GSP như khoáng sản, động thực vật, thủy sản đánh bắt trong lãnh hải và các hàng hóa sản xuất từ các sản phẩm đó được xem là có xuất xứ và được hưởng GSP. Đối với sản phẩm có thành phần nhập khẩu: EU quy định hàm lượng giá trị sản phẩm sáng tạo tại các nước hưởng GSP ( tính theo giá xuất khẩu ) phải đạt 60 (%) tổng giá trị hàng liên quan. Tuy nhiên đối với một số nhóm hàng thì hàm lượng này quy định thấp hơn. EU cũng quy định xuất xứ cộng gộp, theo đó hàng của một nước khác trong cùng một tổ chức khu vực cũng được hưởng GSP thì các thành phần đó cũng được xem là có xuất xứ từ nước lien quan. Hàng xuất khẩu của việt nam vào EU được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập GSP từ ngày 1/7/1996 tới nay. Bắt đầu từ tháng 1 năm 2005. EU bãi bỏ chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may việt nam vào thị trường này. Đây là một điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp việt nam đồng thời cũng là một thách thức đòi hỏi các doanh nghiệp việt nam phải nâng cao công ty, hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh với hàng dệt may của các nước khác. 2. Quan hệ hợp tác thương mại giữa việt nam và liên minh EU. Quan hệ kinh tế giữa việt nam và liên minh EU đã có từ lâu, mối quan hệ ấy đặc biệt phát triển nhanh, mạnh kể từ khi việt nam và EU thành lập quan hệ ngoại giao năm 1990. Liên minh châu âu đã và đang trở thành đối tác quan trọng, một thị trường rộng lớn, có khả năng tiêu thụ nhiều loại sản phẩm của việt nam như giày dép, dệt may, nông sản, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ dân dụng… Đồng thời EU cũng là một khu vực có nền kinh tế phát triển cao, có thể đáp ứng các nhu cầu nhập khẩu thiết bị công nghệ nguồn và nguyên vật liệu cho nhiều nghành công nghiệp, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, thực hiện yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quan hệ hợp tác đầu tiên giữa việt nam và Eu là chủ yếu trợ giúp người việt nam hồi hương. Từ năm 1989- 1996 tổng viện trợ của EU cho mục đích này là trên 110 triệu USD. Năm 1996 việt nam và OC thống nhất chiến lược phát triển và hợp tác kinh tế nhằm chuyển đổi nền kinh tế việt nam sang nền kinh tế thị trường, đồng thời giảm nhẹ chi phí xã hội trong quá trình chuyển đổi. Đến nay EU đã cam kết tổng cộng 150 triệu euro cho chiến lược này. Năm 2002, EU đã thông qua chiến lược hợp tác với việt nam trong giai đoạn 2002- 2006, nhằm tạo điều kiện tăng tốc xóa đói giảm nghèo trong chiến lược phát triển bền vững. Theo đó EU dự kiến trợ giúp 163 triệu euro tập trung vào 2 lĩnh vực. Tăng cường phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt hỗ trợ một số tỉnh nghèo thông qua hỗ trợ lĩnh vực giáo dục. Trợ giúp cải cách kinh tế việt nam theo hướng cơ chế thị trường để nhanh chóng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Ngoài ra trong chiến lược hợp tác này còn có vấn đề bảo vệ môi trường, văn hóa, giáo dục, chất lượng, giới tính và quản lý nhà nước có hiệu quả. Hiệp định hợp tác việt nam- EU ký 7/1995, tạo bước ngoặc trong tiến trình phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai bên. Đây là hiệp định khung dài hạn gồm 4 mục tiêu: Đảm bảo các điều kiện cần thiết thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư trên cơ sở cùng có lợi và dành cho nhau quy tắc tối hệu quốc. Trợ giúp kinh tế phát triển bền vững ở việt nam và chú trọng đến việc cải thiện đời sống cho các tầng lớp nhân dân nghèo. Trợ giúp các nỗ lực của việt nam trong việc cơ cấu lại nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Trợ giúp nhằm bảo vệ môi trường và sử dụng lâu dài nguồn tài nguyên thiên nhiên theo hướng phát triển bền vững. Quan hệ thương mại. Quan hệ thương mại giữa việt nam với các nước thành viên của liên minh châu âu phát triển từ những năm đầu thập kỷ 90 sau khi việt nam ký một loạt các hiệp định song phương với EU như : hiệp định khunh về hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật ( năm 1990). Hiệp định dệt may ( năm: 1994, 1996, 1997, 2000, 2003 ), hiệp định giày dép năm 2000. Kim ngạch buôn bán 2 chiều tăng từ 300 triệu USD năm 1990 lên trên 2 tỷ USD năm 1995, trên 4.1 tỷ USD năm 2000, và hơn 6.3 tỷ USD năm 2003. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU I. Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may việt nam sang thị trường EU. EU là một thị trường rộng lớn, đa dạng có nhiều triển vọng cho hàng xuất khẩu dệt may của việt nam nhưng cũng là một thị trường “ sang trọng ” và “ khó tính ” .Chinh phục được thị trường này không phải là một điều dễ dàng cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu sản phẩm dệt may, nhất là việt nam phải cạnh tranh với các quốc gia khác đặc biệt là Trung Quốc một cường quốc về các mặt hàng xuất khẩu trong đó dệt may là một thế mạnh của quốc gia đông dân nhất thế giới này. Khi mà thị trường xuất khẩu dệt may lớn nhất của việt nam là Mỹ đang có nguy cơ giảm sút thì EU được coi là thị trường cứu cánh cho ngành dệt may việt nam, trong những năm trước đây thì EU là thị trường dệt may hạn ngạch lớn nhất của việt nam trên 40( % ) hàng dệt may xuất khẩu của việt nam là xuất sang EU, trong đó Nhật Bản là thị trường phi hạn ngạch. Khi ký hợp đồng dệt may việt nam – EU, EU đã dành cho việt nam mức thuế quan phổ cập ưu đãi GSP nhằm tạo điều kiện cho hàng dệt may có xuất xứ từ việt nam, Từ chỗ là một nước bị cấm vận đã xuất khẩu vào được thị trường EU với tốc độ xuất khẩu tăng nhanh từ 38 – 40 (%) một năm. Quan hệ thương mại giữa việt nam và EU ngày càng được mở rộng và phát triển theo thời gian đăc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu. Việt nam và EU đã cùng nhau ký kết các hợp đồng trong rất nhiều các lĩnh vực tạo điều kiện cho mối quan hệ ngày càng phát triển và tốt đẹp. Trong đó hiệp định của xuất nhập khẩu trong lĩnh vực dệt may đã được việt nam và EU ký kết qua các năm ( 1994, 1996, 1997, 2000, 2003 ) điều đó cho thấy quan hệ giữa việt nam và EU trong lĩnh vực dệt may ngày càng phát triển, đăc biệt là ngày 1/1/2005 việt nam và EU đã ký kết một thõa thuận quan trọng mà được xem điều tốt đẹp cho ngành dệt may việt nam đó là việc thỏa thuận bỏ hạn ngạch cho ngành dệt may việt nam khi xuất khẩu vào EU. Thỏa thuận bãi bỏ hạn ngạch này nhằm tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu dệt may của việt nam được tự do vào EU một đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của việt nam, đồng thời tạo điều kiện cho ngành dệt may việt nam tiếp tục phát triển. Tuy nhiên việc EU bãi bỏ hạn ngạch cho dệt may việt nam thì đồng thời EU cũng bãi bỏ hạn ngạch cho các quốc gia thành viên WTO và một số quốc gia xuất khẩu hàng đầu trên thế giới trong lĩnh vực dệt may cùng với sự kiện việt nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giói WTO thì đã đặt ra những thuận lợi và khó khăn thách thức cho ngành dệt may của việt nam khi xuất khẩu sang thị trường EU. II. Những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp việt nam khi xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU. 1. Những điểm mạnh của các doanh nghiệp việt nam khi xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU. 1.1. Kim ngạch xuất khẩu dệt may vào thị trường EU liên tục tăng qua các năm. EU được coi là một thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng cho hoạt động xuất khẩu của việt nam. Kim ngạch xuất khẩu của việt nam các nước thuộc thị trường EU liên tục tăng qua các năm. Sau đây là số liệu tình tình xuất khẩu các ngành của việt nam vào thị trường các nước thuộc thị trường EU qua các năm. Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào các nước thuộc thị trường EU. Đơn vị: Triệu $ Tên nước 2003 2004 2005 2006 Ai – len 17, 28,2 25,14 37,9 Anh 754,8 980,9 1.015,8 1.168,9 Áo 38,3 54,6 88,9 95,7 Bỉ + Lux 391,6 497,5 544,3 672,2 Bồ Đào Nha 10,4 15,3 22,91 32,3 Đan Mạch 71,2 74,8 88,23 103,1 Đức 854,7 1.077,6 1.086,7 1.386,5 Hà Lan 493,2 558,7 659,7 842,1 Hy Lạp 42 43,1 55,08 63,8 Ý 331,1 354,1 469,72 624,9 Phần Lan 28,1 38,6 57,14 67,4 Pháp 196,1 529,4 652,7 780,9 Tây Ba Nha 234,1 298,3 410,4 533,4 Thụy Điển 90,0 102,9 133,6 169 Ba Lan 82,17 81,8 155,9 Estonia 2 4,24 8,3 Hugary 21,64 27,03 31,8 Latvia 3,5 3,68 47 Litva 7,3 16,33 14,5 Malta 0,76 2,12 1,9 Sộc 43,73 49,05 69,3 Sốp 2,9 4,8 5,7 Slovakia 8,62 11,67 21,2 Sloveria 7 8,9 11,0 EU 3.858,8 4.962,6 5.519,9 6.900,8 Nguồn: Theo thống kê của cục hải quan Trong các mặt hàng xuất khẩu vào EU dệt may được coi là ngành có tốc độ tăng kim ngạch đứng thứ nhất, thứ nhì của xuất khẩu việt nam. Sản phẩm dệt may của viêt nam xuất khẩu sang thị truờng EU đã có từ lâu và kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này trong những năm vừa qua đã có bước tăng trưởng mạnh. Sau đây là số liệu 10 mặt hàng xuất khẩu chính sang của việt nam sang thị trường EU và theo số liệu này thì ngành dệt may xếp thứ 2 sau mặt hàng giày dép xuất khẩu sang thị trương EU. Bảng 3 : Kim ngạch xuất khẩu 10 mặt hàng chính của việt nam sang thị trường EU . Đơn vị . triệu $ STT Tên hàng 2003 2004 2005 2006 ước năm 2007 1 Dệt may 537.1 760 882.8 1215.17 14440.0 2 Cà phê 262.2 389 309.1 478.5 3 Hải sản 153.2 245.3 439.9 730.85 4 Thủ công mỹ nghệ 172 204 178.3 182.13 5 Cao su 83.55 125 155.45 6 Sản phẩm nhựa 32.32 60.28 102.73 7 Xe đạp 178.78 102.1 54.81 8 Đồ gỗ 464.93 488.16 9 Điện tử vi tính 196.5 275.15 10 Da giày 1602.5 1782.4 1783.4 1916.71 Tổng xuất 3858.8 4962.6 5519.9 6900.8 Nguồn: Theo nguồn thống kê của cục hải quan 1.2 . Xuất khẩu của việt nam được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập GSP từ ngày 1/7/1996 cho tới nay và việc liên minh EU ký hiệp ước bãi bỏ hạn ngạch của ngành dệt may khi xuất khẩu vào thị trường này. Việc liên minh EU thông qua chính sách cho việt nam được hưởng ưu đãi chương trình thuế quan phổ cập GSP đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu của việt nam vào thị trường này. Đây cũng được coi là thuận lợi cho ngành dệt may khi xuất khẩu những khối lượng lớn mặt hàng vào thị trường này, tạo điều kiện cho việc giảm giá thành sản phẩm của dệt may khi tiêu thụ ở thị trường này, tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm dệt may việt nam với các quốc gia khác cùng xuất khẩu sản phẩm dệt may sang thị trường này. Đặt biện là việc liên minh EU bãi bỏ hạn ngạch đối với dệt may việt nam vào ngày 1/1/2005 điều này đã mở ra một triển vọng tươi đẹp cho hàng dệt may việt nam sang thị trường này, nó cho phép các doanh nghiệp việt nam có thể xuất khẩu sang đây với khối lượng rất lớn mà không bị gò ép về hạn ngạch, các doanh nghiệp có thể xuất khẩu bao nhiêu sang thị trường này cũng được. 1.3. Ngành dệt may việt nam có nguồn lao động dồi dào và giá thành thuê lao động không cao. Đối với ngành dệt may thì nguồn lao động là một nhân tố cực kỳ quan trọng. Sự thu hút lao động của ngành này là rất lớn, mặt khác thì yêu cầu về chất lượng lao động của ngành không quá khắt khe. Đối với vấn đề về nguồn lao động thì việt nam được coi là một trong những thị trường có nguồn lao động dồi dào với hơn 80 triệu dân và số lượng lao động làm trong lĩnh vực dệt may hiện nay đã có hơn 2 triệu lao động. Bên cạnh đó thì nguồn lao động bổ xung cho ngành dệt may và các ngành khác ngày càng tăng đảm bảo giúp cho các doanh nghiệp có đủ lao động để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục và nhịp nhàng. Cùng với nguồn lao động dồi dào thì giá thành thuê lao động ở việt nam không phải ở mức cao so với các nước có lao động làm việc trong lĩnh vực dệt may trên thế giới điều này sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể hạ giá thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ khi xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU bằng phương pháp hạ giá thành sản phẩm. 1.4. Công nghệ sản xuất trong lĩnh vực dệt may ngày càng được đầu tư với những dây truyền kỹ thuật tiên tiến. Việt nam trong những năm gần đây đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do vậy rất nhiều các ngành được đầu tư, đổi mới dây chuyền công nghệ cho tương xứng với sự phát triẻn của đất nước và thế giới. Trong đó ngành dệt may được coi là một rong những ngành xuất khẩu chủ lực của việt nam nên công nghệ sản xuất được đổi mới và nâng cao ngang tầm với khu vực. Với những dây truyền công nghệ mới và kỹ thuật cao thì ngành dệt may có thể nhận được các hợp đồng sản xuất và xuất khẩu lớn mà từ trước chúng ta chưa dám nhận. Công nghệ mới sẽ tạo điều kiện cho ngành sản xuất dệt may sản xuất được đúng tiến độ và giao hàng kịp thời gian tao điều kiện nâng cao uy tín của chúng ta với đối tác tạo cho đối tác sự tin tưởng và an tâm về thời gian giao hàng cũng như chất lượng hàng của chúng ta. 1.5. Kỹ thuật quản lý và chất lượng đội ngũ công nhân làm việc ngày càng được nâng cao tay nghề. Đây có thể được coi là một điểm sáng cho ngành dệt may việt nam. Với đội ngũ quản lý được đào tạo có bài bản và trình độ cao sẽ giúp cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu sản phẩm dệt may ngày càng đẩy mạnh, những giám đốc những nhà quản lý của doanh nghiệp khi được đào tạo sẽ giúp cho daonh nghiệp giảm được chi phí trong khâu sản xuất tạo điều kiện cho việc giảm giá thành sản phẩm nâng cao khả năng cạnh tranh bên cạnh đó thì với trình độ cao thì sẽ giúp cho các nhà quản lý có những chính sách quản lý phù hợp, có những giao tiếp với đối tác thuận lợi và ký được những hợp đồng lớn có lợi cho doanh nghiệp. Bên cạnh cạnh đó thì đội ngũ công nhân lao động trong lĩnh vực dệt may ngày càng được đào tạo nâng cao tay nghề thông qua các trung tâm dạy nghề ngày càng được mở rộng, với đội

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35981.doc