Đề tài Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG 2

1. Khái niệm về đầu tư 2

2. Đầu tư nước ngoài 2

3. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 3

4. Tính tất yếu khách quan của hoạt động đầu tư nước ngoài 4

5. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các nước đang phát triển 8

6. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 10

PHẦN 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 12

1. Dòng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tăng mạnh 12

2. Hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết quả khả quan 12

3. Để có được những kết quả đáng khích lệ của hoạt động ĐTNN trong thời gian qua là bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân 13

4. Những mặt hạn chế 14

5. Triển vọng năm 2006 15

PHẦN 3: ĐẨY MẠNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ NHIỆM VỤ ĐẶT RA 19

1. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam 19

2. Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài 25

KẾT LUẬN 28

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

 

doc30 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Lượt xem: 1393 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế của mình cho phù hợp. Mặt khác, sự gia tăng của hoạt động đầu tư nước ngoài làm xuất hiện nhiều ngành mới, lĩnh vực mới. Góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng trình độ kỹ thuật – công nghệ của nhiều ngành kinh tế thúc đẩy sự gia tăng năng suất lao động ở các ngành này và tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế. Nhiều ngành được kích thích phát triển còn nhiều ngành bị mai một và đi đến xoá sổ. Thứ ba, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thường đòi hỏi nguồn lao động có chất lượng cao do đó sự gia tăng các dự án đầu tư nước ngoài đã đặt ở các nước sở tại trước yêu cầu khách quan là phải nâng cao chất lượng, trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ… cho người lao động. Thứ tư, hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần tăng tỷ trọng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia này. Tận dụng, tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triển đã sử dụng để thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế nhằm đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói. b. Tác động tiêu cực Bên cạnh những ưu điểm , hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế. Một là, đầu tư nước ngoài đã tạo ra một cơ cấu bất hợp lý, Mục đích của các nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận ngày càng nhiều do đó họ chủ yếu đầu tư và các ngành công nghiệp, dịch vụ nơi có mức tỷ suất lợi nhuận cao. Hai là, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại hiện tượng “chảy máu chất xám”. Các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi vè thu nhập, việc làm do đó đã lôi kéo một bộ phận không nhỏ cán bộ khoa học, nhà nghiên cứu, công nhân lành nghề của nước ta về làm việc cho họ. Ba là, chuyển giao công nghệ lạc hậu. Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, quá trình nghiên cứu – ứng dụng ngày càng được rút ngắn, máy móc thiết bị nhanh chóng trở nên lạc hâu. Để loại bỏ chúng, nhiều nhà đầu tư đã cho chuyển giao sang các nước nhận đầu tư như một phần vốn góp. Việc làm đó đã làm cho trình độ công nghệ của các nước nhận đầu tư ngày càng lạc hậu. Bốn là, chi phí để tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn. Các nước nhận đầu tư đã phải áp dụng nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài như: giảm thuế, miễn thuế, giảm tiền thuê đất, nhà xưởng… Năm là, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra sự cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước. Với ưu thế về vốn, công nghệ, các dự án đầu tư nước ngoài đã đặt các doanh nghiệp trong nước vào vòng xoáy cạnh tranh khốc liệt về thị trường, lao động và các nguồn lực khác. Sáu là, các tác động tiêu cực khác. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có thể gây ra những bất ổn về chính trị, mang theo nhiều tệ nạn xã hội mới xâm nhập vào nước ta. 6. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư nước ngoài là một hoạt động kinh tế có vai trò rất lớn đối với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Tuy thế, việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan. a. Luật đầu tư Nhân tố này sẽ kìm hãm hoặc thúc đẩy sự gia tăng của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua cơ chế, chính sách, thủ tục, ưu đãi, được quy định trong luật. b. Sự ổn định chính trị Đây là nhan tố không thể xem thường bởi vì rủi ro chính trị có thể gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài. c. Cơ sở hạ tầng Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông, vận tải, thông tin liên lạc, điện nước… sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. d. Đặc điểm thị trường của nước nhận vốn Đây có thể nói là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nó được thể hiện ở quy mô, dung lượng của thị trường, sức mua của các tầng lớp dân cư trong nước, khả năng mở rộng quy mô đầu tư…, đặc biệt là sự hoạt động của thị trường nhân lực. Mặt khác, với giá nhân công rẻ sẽ là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là với những dự án đầu tư vào lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Ngoài ra trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ học vấn, khả năng quản lý… cũng có ý nghĩa nhất định. Bởi vậy, lợi thế về thị trường sẽ có sức hút rất lớn đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. e. Khả năng hồi hương của vốn Mặt khác, khả năng hồi của vốn cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nếu vốn và lợi nhuận được tự do hoá qua lại biên giới. g. Chính sách tiền tệ Mức độ ổn định của chính sách tiền tệ và mức độ rủi ro của tiền tệ ở nước nhận vốn đầu tư là một nhân tố góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư. Tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu. Mức độ lạm phát của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, lợi nhuận thu được của các dự án có tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm cao. h. Các chính sách kinh tế vĩ mô Các chính sách này mà ổn định sẽ góp phần thuận lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài. Không có những biện pháp tích cực chống lạm phát có thể làm các nhà đầu tư nản lòng khi đầu tư vào các nước này. Một chính sách thương mại hợp lý với mức thuế quan, hạn ngạch và các hàng rào thương mại sẽ kích thích hoặc hạn chế đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ngoài ra, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau: hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu… Vì vậy, để hoạt dodọng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra một cách thuận lợi thì chúng ta cần xem xét, đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố trên trong mối quan hệ biện chứng nhằm tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước. Phần 2: thực trạng và giải pháp Năm 2005 đã khép lại bằng những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội đáng khích lệ của đất nước trong đó hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là một điểm sáng. 1. Dòng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tăng mạnh Với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và sự nỗ lực của các Bộ, ngành, địa phương nhằm cải thiện môi trường đầu tư, trong năm 2005, tổng vốn đăng ký mới và tăng vốn đăng ký mới và tăng vốn đạt khoảng 6 tỷ USD, tăng 42% so với năm trước, vượt gần 33% so với mục tiêu đề ra và đạt mức cao nhất từ sau khủng hoảng tài chính khu vực đến nay. Trong năm 2005 đã cóp 771 dự án mới từ 42 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp Giấy phép đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 4 tỷ USD bằng 98% về số dự án và tăng 63% về vốn đăng ký cấp mới so với năm 2004. Đồng thời đã có 509 lượt dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất với số vốn đăng ký tăng thêm gần 2 tỷ USD. Trong đó có những dự án tăng vốn lớn như: Công ty TNHH Canon vốn đầu tư tăng thêm 60 triệu USD; công ty liên doanh Larkhanil (Vietnam) vốn đầu tư tăng thêm 70,2 triệu USD, công ty Honda Việt Nam, vốn đầu tư tăng thêm 58 triệu USD, Công ty Tôt Việt Nam, vốn đầu tư tăng thêm 52 triệu USD… Tién độ giải ngân vốn ĐTNN trong năm 2005 đã được đẩy nhanh nhất là đối với dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất. Tổng vốn ĐTNN thực hiện trong cả năm ước đạt 3,3 tỷ USD tăng 5,3% so với năm trước và đây là mức cao nhất kể từ khi ban hành luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1987 đến nay). 2. Hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết quả khả quan Hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đạt kết quả khả quan hơn mức dự báo. Trong năm qua, đã có thêm 200 doanh nghiệp có vốn ĐTNN đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần làm gia tăng năng lực sản xuất và xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN. Riêng doanh thu xuất khẩu không kể dầu thô) của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đạt 10,8 tủ USD, tăng 23% so với năm 2004, và nếu tính cả xuất khẩu dầu thô đạt gần 17 tỷ USD chiếm 53% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nộp ngân sách của khu vực DTNN tăng mạnh đạt 1,29 tỷ USD tăng 41% so với năm 2004. Đây là dự án đầu tiên kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài đến nay đóng góp cho ngân sách của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN (không kể thu từ dầu khí) vượt ngưỡng 1 tỷ USD. Với tốc độ tăng trưởng cả về sản xuất, xuất khẩu và nộp ngân sách của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đều cao hơn mức bình quân chung của cả nước. ĐTNN đã thực sự đóng vai trò động lực thúc đẩy và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta trong năm qua. 3. Để có được những kết quả đáng khích lệ của hoạt động ĐTNN trong thời gian qua là bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân Thứ nhất, việc thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa thu hút ĐTNN đặc biệt là các hoạt động ngoại giao của Lãnh đạo các cấp cao Đảng và Nhà nước, việc chủ động đẩy nhanh quá trình đàm pháp gia nhập tổ chức thương mại Thế giới (WTO) gắn với việc hoàn chỉnh hệ thống luật pháp chính sách trong nước, việc thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế,… đã củng cố lòng tin của các nhà đầu tư. Thứ, nền kinh tế nước ta duy trì tốc độ tăng trưởng cao, thu nhập và mức sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện đã góp phần mở rộng thị trường trong nước, việc thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do ASEAN việc tiếp tục khai thông thị trường Hoa Kỳ thông qua thực hiện Hiệp định Thương Mại Việt Nam – Hoa Kỳ, cũng như việc tăng cường quan hệ thương mại với Trung Quốc, Nhật Bản, EU và các nước khác, đã trực tiếp tháo gỡ rào cản về thị trường cho các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Thứ ba, sự ổn định về chính trị – xã hội cùng với sự đảm bảo về an ninh đã làm cho nước ta được cộng đồng các nhà đầu tư quốc tế đánh giá là địa bàn đầu tư an toàn . Thứ tư, hệ thống luật pháp chính sách về ĐTNN đã được hoàn chỉnh hơn tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, rõ ràng và thông thoáng hơn cho hoạt động ĐTNN. Trong năm qua chúng ta đã tiếp tục chỉnh sửa nhiều chính sách liên quan đến đầu tư, đồng thời hoàn tất lộ trình áp dụng cơ chế một giá, hỗ trợ nhà đầu tư giảm chi phí sản xuất. Thứ năm, hoạt động xúc tiến đầu tư đã được triển khai tích cực ở nhiều ngành, nhiều cấp, ở cả trong nước và nước ngoài dưới nhiều hình thức đa dạng, nhằm vào các địa bàn trọng điểm, dự án quan trọng. Đặc biệt tổ chức thành công diễn đàn hợp tác, đầu tư và Triển lãm ĐTNN (Việt Nam Forinvest 2005) đã thu hút mối quan tâm của hàng trăm tập đoàn công ty lớn của nước ngoài, góp phần quảng bá hoạt động ĐTNN tại Việt Nam. Ngoài ra, việc tăng cường cơ chế đối thoại giữa Chính phủ với các nhà đầu tư đã được cộng đồng các nhà đầu tư đánh giá tích cực, tạo điều kiện để các nhà đầu tư trực tiếp đối thoại với các cơ quan Chính phủ qua đó phát hiện và xử lý kịp thời hơn các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư. 4. Những mặt hạn chế Những kết quả đạt được là rất đáng khích lệ, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thu hút ĐTNN giữa các nước trong khu vực diễn ra hết sức gay gắt hiện nay. Tuy nhiên cũng cần nhận thấy rằng, trong hoạt động ĐTNN tại nước ta năm 2005 vẫn còn hạn chế cần khắc phục. Một là, kết quả thu hút vốn ĐTNN vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của nước ta cũng như với nhu cầu huy động vốn nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, mặc dù tiến độ giải ngân đã được đẩy nhanh so với các năm trước nhưng vốn thực hiện vẫn còn thấp hơn đáng kể so với vốn đăng ký. Hai là, tỷ lệ các dự án lớn gắn với chuyển giao công nghệ nguồn của các công ty xuyên quốc gia còn thấp, dòng vốn đầu tư chủ yếu vẫn từ các nước châu á, đầu tư từ EU, Hoa kỳ tăng chậm. Ba là, ĐTNN vẫn tập trung chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm với những lợi thế về kết cấu hạ tầng và thị trường tiêu thụ: đầu tư vào các địa phương khác chưa có dấu hiệu khởi sắc. Điều này cho thấy các chính sách khuyến khích đầu tư vào các tỉnh miền nút, vùng sâu, vùng xa chưa mang lại kết quả mong muốn và đòi hỏi trong thời gian tới cần có những giải pháp hữu hiệu hơn nữa nhằm hạn chế tình trạng mất cân đối về ĐTNN giữa các vùng kinh tế, qua đó góp phần hạn chế khoảng cách về phát triển giữa các vùng. Bốn là, sự gắn kết giữa khu vực kinh tế có vốn ĐTNN về kinh tế trong nước vẫn còn hạn chế, ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển và chưa đáp ứng được yêu cầu về cung cấp nguyên liệu, phụ tùng cho các nhà lắp ráp lớn. Điều này vừa hạn chế tác động lan toả (tác động tràn) của ĐTNN đối với nền kinh tế, vừa làm giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ta. Có thể nói, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế nói trên là những bất cập về cơ chế, chính sách. Nguồn kinh phí cho công tác xúc tiến đầu tư còn quá hạn hẹp, danh mục các dự án kêu gọi ĐTNN chưa được cập nhật bổ sung, chính sách ưu đãi đối với các dự án công nghệ cao và đầu tư vào các vùng kinh tế – xã hội khó khăn còn chưa hợp lý, việc nghiên cứu, ban hành quy hoạch và cơ chế chính sách khuyến khích phát triển ngành công nghiệp phụ trợ còn chậm… 5. Triển vọng năm 2006 Năm 2006, hoạt động ĐTNN tại nước ta sẽ chịu tác động mạnh mẽ của nhiều yếu tố mới, vừa thuận lợi, vừa khó khăn. Thứ nhất, năm 2006 sẽ là năm có sự thay đổi lớn trong hệ thống luật pháp về đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp vừa được quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 1/7/2006 sẽ tạo ra một mặt bằng pháp lý chung cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước. Thứ hai, tiến trình hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động ĐTNN tại Việt Nam. Cùng với việc đẩy nhanh đàm phán gia nhập WTO, việc thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định tự do hoá và xúc tiến đầu tư với Nhật Bản, các Hiệp định song và đa phương sẽ thúc đẩy quá trình hoàn thiện luật pháp chính sách của nước ta để đáp ứng yêu cầu hội nhập. Mặt khác, quá trình này sẽ đòi hỏi phải mở cửa thị trường dịch vụ theo lộ trình cam kết, trong khi năng lực cạnh tranh của khu vực dịch vụ nước ta còn yếu kém. Điều này sẽ đặt ra những thách thức mới hết sức gay gắt. Thứ ba, lượng vốn ĐTNN toàn cầu sẽ tiếp tục có xu hướng gia tăng nhưng cạnh tranh thu hút ĐTNN trong khu vực cũng sẽ diễn ra gay gắt đòi hỏi Việt Nam phải nâng cao hơn nữa sức cạnh tranh của môi trường đầu tư để tận dụng được cơ hội và thời cơ mới. Thứ tư, những kết quả tích cực đạt được trong năm 2005, nhất là kinh tế tăng trưởng nhanh, môi trường đầu tư được cải thiện uy tín của nước ta đối với các nhà đầu tư được nâng cao, kinh nghiệp có được trong vận động xúc tiến đầu tư theo hình thức mới cũng như hoạt động kinh doanh có hiệu quả của nhiều doanh nghiệp có vốn ĐTNN thời gian qua sẽ tạo đà cho sự gia tăngdòng vốn ĐTNN vào nước ta. Tuy nhiên, vấn đề lớn đang được đặt ra là phải đảm bảo các cân đối về kết cấu hạ tầng nhất là về cng cấp diện, nước, dịch vụ viễn thông, cảng biển, bảo vệ môi trường…. để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao một cách bên vững, cũng như tăng cường thu hút ĐTNN với quy mô lớn hơn. Trên cơ sở đánh giá tiềm năng của đất nước cũng như những nhân tố mới có tác động đến dòng vốn ĐTNNm có thể dự báo rằng, nếu những vấn đề mới đặt ra được giải quyết tốt, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam sẽ tiếp tục có xu hướng gia tăng. Vốn cấp mới trong năm 2006 có thể đạt hoặc vượt mức năm 2005, đặc biệt vốn thực hiện sẽ tăng với tốc độ cao hơn năm trước đạt trên 3,6 tỷ USD. Để tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn nữa nguồn vốn ĐTNN, đòi hỏi phải tiếp tục cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, làm cho Việt Nam thực sự là một trong những địa bàn đầu tư hấp dẫn hàng đầu trong khu vực Đông Nam á. Về môi trường pháp lý cần soạn thảo các văn bản hướng dẫn Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp và ban hành sớm các văn bản này để các nhà đầu tư cũng như các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương có thời gian tìm hiểu và chuẩn bị cho việc áp dụng. Trong quá trình này cần đặc biệt chú trọng việc đảm bảo cho gần 6.000 dự án ĐTNN đã được cấp giấy phép chuyển sang hoạt động theo các luật mới một cách thuận lợi. Đồng thời tiến hành rà soát các chính sách liên quan để kịp thời chỉnh sửa, hoàn chỉnh đảm bảo sự thống nhất của cả hệ thống luật pháp chính sách về đầu tư khẩn trương rà soát các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường để thực hiện theo đúng lộ trình. Về thủ tục hành chính, tậ trung sức can thiệp cơ chế “một cửa ở các cơ quan cấp phép và quản lý đầu tư, tăng cường phân cấp mạnh hơn nữa quản lý đầu tư đi đôi với tăng cường cơ chế phối hợp, giám sát và kiểm tra: giải quyết kịp thời các thủ tục về đất đai, xuất nhập khẩu, hải quan… Về kết cấu hạ tầng, tiếp tục huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước trong đó có việc ban hành quy chế khuyến khích tư nhân đầu tư nâng cấp các công trình giao thông, cảng biển, dịch vụ viễn thông, cung cấp điện nước, phấn đấu không để xảy ra tình trạng thiếu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Để phát huy lợi thế về nguồn nhân lực, cần tăng cường mạnh mẽ công tác đào tạo, nhất là đào tạo nghề với sự tham gia của các tổ chức trong nước và ngoài nước nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu lao động kỹ thuật cao của nhà đầu tư. Về xúc tiến đầu tư, trong năm tới cần triển khai xây dựng các đầu mối xúc tiến đầu tư ở một số địa bàn trọng điểm, đổi mới phương thức xúc tiến đầu tư, nhất là chuyển mạnh sang hình thức vận động đầu tư theo dự án và đối tác trọng điểm. Kinh nghiệm cũng cho thấy cần duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo Chính phủ, các Bộ ngành với các nhà đầu tư nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc của các dự án đang hoạt động, đảm bảo các dự án hoạt động có hiệu quả, đúng tiến độ. Một vấn đề khác không kém phần quan trọng là phải khẩn trương ban hành các chính sách hợp lý nhằm phát triển nhanh ngành công nghiệp phụ trợ, đảm bảo giải quyết tốt hơn việc cung cấp nguyên liệu, phụ thùng, linh kiện cho các nhà lắp ráp. trong quá trình đó, cần đặc biệt chú trọng sự liên kết giữa khu vực kinh tế trong nước và nước ngoài, tăng cường tác động lan toả của ĐTNN đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Cuối cùng cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình hành động Dáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn II cũng như chương trình kết nối kinh tế Việt Nam – Singapore nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nước ta. Mặc dù sẽ phải đối mặt với không ít thách thức, nhưng hoạt dodọng ĐTNN tại Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới. Điều này đòi hỏi phải có sự nỗ lực và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Trung ương và địa phương trong việc cải thiện môi trường đầu tư, nắm bắt cơ hội mới để tạo nên một làn sóng đầu tư nước ngoài mới có hiệu quả, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. phần 3: đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và nhiệm vụ đặt ra 1. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Nhìn lại chặng đường 18 năm qua, dù trải qua những bước thăng trầm, nhưng khu vực kinh tế có vốn FDI đã không ngừng mở rộng và phát triển, trở thành bộ phận hữu cơ ngày càng quan trọng của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới. Thể hiện trên một số mặt chính sau đây: Thứ nhất, dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng, góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triên. Tính từ năm 1988 đến nay, tại Việt Nam có đã có hơn 5.800 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 50 tỷ USD. Vốn thực hiện đạt 34,7 tỷ USD, chiếm trên 20% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2001 – 2005. Sau thời kỳ suy giảm do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực diễn ra vào năm 1997, dòng vốn FDI vào Việt Nam trong những năm gần đây đã từng bước phục hồi. Năm 2002 vốn đăng ký mới đạt 2,8 tỷ USD, năm 2003 đạt 3,1 tỷ USD, năm 2004 đã tăng lên 4,4 tỷ USD và năm nay dự kiến sẽ vượt 5 tỷ USD. Tính chung trong 5 năm (2001 – 2005), Việt Nam đã thu hút thêm 18,5 tỷ USD vốn đăng ký mới. Đến nay, đã có trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó trên 100 tập đoàn lớn thuộc danh sách 500 công ty đa quốc gia lớn nhất thế giới do Tạp chí Fortune bình chọn, có đầu tư tại Việt Nam, chjủ yếu phần quan trọngd dến từ các nước trong khu vực châu á. 10 nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam lần lượt là Đài Loan, Singaore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, quần đảo Virgin thuộc Anh, Pháp, Hà Lan, Thái Lan và Malấyi. Thứ hai, quá trình thu hút đầu tư nước ngoài đồng hành với công cuộc đổi mới của Việt Nam và đã có những đóng góp tích cực vào thành công của công cuộc đổi mới trong 20 năm qua. Công cuộc đổi mới được bắt đầu năm 1986 và một năm sau đó, Luật đầu tư nước ngoài được ban hành. Sau 18 năm, đến nay, đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận hữu cơ, năng động của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế Việt Nam. Giá trị kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn FDI tính cả xuất khẩu dầu thô cũng đã liên tục gia tăng từ 6,8 tỷ USD năm 2004 lên 14,5 tỷ USD năm 2004, chiế, 55% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Năm nay kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn FDI ước đạt 17,8 tỷ USD, tăng 23% so với năm 2004. Đóng góp của khu vực kinh tế có vốn FDI vào nền kinh tế gia tăng đáng kể. Năm 2005 đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 15,5% GDP, đóng góp vào ngân sách dự kiến vượt 1 tỷ USD trong năm nay. Đến nay, khu vực kinh tế có vốn FDI tuyển dụng hơn 865 nghìn lao động trực tiếp và trên 2 triệu lao động gián tiếp. Đầu tư nước ngoài cũng tác động tích cực đến các biến vĩ mô như cân đối ngân sách cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán thông qua chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp. Thứ ba, đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Về cơ cấu ngành, khu vực kinh tế có vốn FDI chiếm 37% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp quan trọng khác như công nghiệp dầu khí, công nghệ thông tin, hoá chất, lắp ráp ô tô, xe máy, sản xuất thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giầy, dệt may. Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ cũng đã kích thích ngành dịch vụ Việt Nam phát triển nhanh hơn, nhất là trong các ngành viễn thông, du lịch, kinh doanh bất động sản, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng, khu đô thị mới; hầu hết các khách sạn 3 – 5 sao là các khách sạn của doanh nghiệp FDI. Về cơ cấu vùng, đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm đã góp phần làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực để lôi kép sự phát triển kinh tế chung và các vùng phụ cận. Điều này cũng làm thay đổi bộ mặt và chuyển dịch cơ cáu kinh tế của một loạt địa phương, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới 86% giá trị sản xuất công nghiệp của Bà Rịa Vũng Tàu, 70% của Đồng Nai, 65% của Bình Dương, 46% của Hải Phòng, 35% của Hà Nội và 27% của Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy vậy, tác động của đầu tư nước ngoài đến các địa phương khác còn những hạn chế nhất định nên cần tiếp tục có chính sách ưu đãi, khuyến khích hơn đầu tư nước ngoài vào các vùng khó khăn. Thứ tư, đầu tư nước ngoài là cầu nối quan trọng giữa nền kinh tế Việt Nam và nền kinh tế thế giới, thúc đẩy phát triển thương mại du lịch và tạo điều kiện để Việt Nam hội nhập ngày càng chủ động và sâu sắc hơn vào nền kinh tế thế giới. Các nhà đầu tư đã có mặt ở Việt Nam trước khi Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam và chính các nhà đầu tư cũng là những người tích cực ủng hộ bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ và việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam. Việc ký kết của các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định đầu tư song phương, Hiệp định Thương mại song phương, đàm phán WTO liên quan đến đầu tư và việc thực hiện các cam kết của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện mở cửa thị trường dịch vụ của Việt Nam cho các nhà đầu tư nước ngoài. Thứ năm, đầu tư nước ngoài có những tác động đến kinh tế trong nước, thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức kinh doanh. Thông qua đầu tư nước ngoài, nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, lợi thế địa lý kinh tế, tài nguyên và tạo điều kiện phân bổ nguồn lực hợp lý. Qua đầu tư nước ngoài doanh nghiệp trong nước có thể học tập mô hình quản lý kinh doanh hiện đại, mở rộng mối liên kết kinh doanh với doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp phụ trợ, phụ liệu. Khu vực đầu tư nước ngoài cũng tạo sức ép cạnh tranh qua đó, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước cạnh tranh vươn lên, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện làm quen với phương thức làm ăn theo tiêu chuẩn quốc tế. Khu vực kinh tế có vốn FDI cũng góp phần thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính. Các thành quả kể trên đạt được trước hết do đường lối đổi mới đúng đắn của Việt Nam theo hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập quốc tế, mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài. Thực hiện nhất quán đường lối đổi mới đó, Chính phủ Việt Nam đã không ngừng cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh. Hệ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc32670.doc
Tài liệu liên quan