Đề tài Kế hoạch lao động – việc làm 2006 – 2010

MỤC LỤC

 

Lời nói đầu 1

PHẦN I: LÝ LUẬN VỀ KẾ HOẠCH LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM. 2

I. Lao động việc làm trong phát triển kinh tế Việt Nam. 2

1. Tổng quan về lao động – việc làm 2

1.1. Nguồn lao động và lực lượng lao động. 2

1.2. Quan niệm về việc làm. 2

1.3. Quan niệm về thất nghiệp. 3

2. Vấn đề lao động – việc làm trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay. 3

2.1. Nguồn lao động. 3

2.2. Sử dụng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân 3

2.3. Vấn đề việc làm 3

II. Lý luận về kế hoạch lao động – việc làm. 3

1. Ý nghĩa và nhiệm vụ. 3

2. Nội dung. 3

2.1. Định hướng các yếu tố tác động đến lao động – việc làm kỳ kế hoạch. 3

2.2. Định hướng và mục tiêu. 3

2.3. Các chỉ tiêu thường dùng trong kế hoạch lao động – việc làm 3

2.4. Các chính sách vĩ mô điều tiết sự lưu chuyển sức lao động. 3

PHẦN II: KẾ HOẠCH LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM 2006 – 2010. 3

I. Những thành tựu, hạn chế, thách thức rút ra từ thời kỳ kế hoạch 2001 – 2005. 3

II. Nội dung kế hoạch lao động – việc làm thời kỳ 2006 2010. 3

1. Định hướng, mục tiêu: 3

2. Các chỉ tiêu chủ yếu: 3

III. Tình hình triển khai thực hiện trong những năm 2006 – 2007. 3

1. Tình hình triển khai thực hiện năm 2006. 3

2. Tình hình triển khai thực hiện 6 tháng đầu năm 2007. 3

PHẦN III: CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN TỐT KẾ HOẠCH LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM THỜI KỲ 2006 – 2010. 3

KẾT LUẬN 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 3

 

 

docx25 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Lượt xem: 1898 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Kế hoạch lao động – việc làm 2006 – 2010, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chi và sản lượng giảm, chúng ta thấy thất nghiệp tăng hầu hết ở khắp nơi. Việc thất nghiệp tăng hầu hết ở các vùng là dấu hiệu cho thấy thất nghiệp tăng phần lớn là theo chu kỳ. *) Hình thức thất nghiệp ở các nước đang phát triển: Thất nghiệp hữu hình là hình thức thất nghiệp thường thấy ở khu vực thành thị, đặc điểm của hình thức thất nghiệp này là người lao động hoàn toàn không có một việc gì làm để tạo ra thu nhập, mặc dù anh ta luôn cố gắng đi tìm việc làm. Thất nghiệp trá hình hay còn gọi là thiếu việc làm là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế nông nghiệp, chậm phát triển. Trong khu vực thành thị, dạng thất nghiệp này tồn tại dưới dạng khác nhau như: làm việc với năng suất thấp, không góp phần tạo ra thu nhập cho xã hội mà chủ yếu chỉ tạo thu nhập đủ sống(nhiều khi dưới mức sống tối thiểu). Trong khu vực nông thôn, thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại dưới dạng thiếu việc làm. Chẳng hạn ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế, trong thời gian mùa vụ, một nông dân có thể làm việc 11 giờ/ngày, trong khi đó, ở thời kỳ nông nhàn họ chỉ làm việc 3 giờ/ngày. 2. Vấn đề lao động – việc làm trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay. Giải quyết việc làm là một chính sách kinh tế - xã hội cơ bản, là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng và yêu cầu bức xúc của nhân dân. 2.1. Nguồn lao động. Nguồn lao động của nước ta rất dồi dào. Theo điều tra của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, lực lượng lao động năm 1998 gồm 37,4 triệu người. Mặc dù mức gia tăng dân số và nguồn lao động đã giảm, mỗi năm vẫn tăng thêm khoảng 1,1 triệu lao động. Người lao động Việt Nam cần cù, khéo tay, có những truyền thống, kinh nghiệm sản xuất (nhất là trong nông, lâm, ngư nghiệp và sản xuất tiểu thủ công nghiệp) được tích luỹ qua nhiều thế hệ, có khả năng tiếp thu khoa học, kỹ thuật. Chất lượng nguồn lao động ngày càng cao do đội ngũ lao động có chuyên môn kỹ thuật là gần 5 triệu người, chiếm hơn 13% tổng lực lượng lao động, trong đó số người có trình độ đại học và cao đẳng trở lên chiếm 23%. Tuy nhiên, từ một nước nông nghiệp đi lên, người lao động nước ta nhìn chung còn thiếu tác phong công nghiệp, kỉ luật lao động chưa cao. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân có tay nghề cao vẫn còn mỏng trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Lực lượng lao động, đặc biệt là lao động có kỹ thuật, tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ, nhất là ở một số thành phố lớn (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ…). Đó là điều kiện thuận lợi để phát triển ở đây các ngành dịch vụ, các ngành công nghiệp đòi hỏi trình độ cao. Mặt khác, sự tập trung quá cao lực lượng lao động ở vùng đồng bằng và duyên hải có thể gây căng thẳng cho việc giải quyết việc làm. Trong khi đó, vùng núi và vùng trung du giàu tài nguyên lại thiếu lao động, đặc biệt là lao động có kỹ thuật. 2.2. Sử dụng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân a) So với những năm đầu Đổi mới, thì cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế quốc dân đã thay đổi đáng kể theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Lao động nông, lâm, ngư nghiệp chỉ còn chiếm 63,5% lao động trong công nghiệp và xây dựng đã chiếm 11,9%, lao động trong khu vực dịch vụ tăng mạnh, chiếm 24,6% lực lượng lao động. b) Việc sử dụng lao động trong các thành phần kinh tế có những thay đổi quan trọng. Nền kinh tế của nước ta hiện nay là nền kinh tế nhiều thành phần(1), có thể chia thành 2 khu vực lớn là khu vực Nhà nước (quốc doanh), và khu vực kinh tế tập thể và tư nhân (ngoài quốc doanh). Hiện nay đang có sự chuyển dịch lao động từ khu vực Nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Sự chuyển dịch lao động như vậy là phù hợp với quá trình nước ta chuyển sang kinh tế thị trường. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh không chỉ thu hút đa số tuyệt đối lao động nông, lâm, ngư nghiệp, mà còn thu hút ngày càng nhiều lao động làm công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. c) Năng suất lao động xã hội nói chung còn thấp làm cho phần lớn người lao động có thu nhập thấp, đồng thời làm chậm việc cải thiện sự phân công lao động xã hội. Thêm vào đó, vẫn còn nhiều quỹ thời gian lao động (ở nông thôn, cũng như trong các cơ quan, xí nghiệp) chưa được sử dụng. Nếu tổ chức tốt lao động, thì đây là một nguồn dự trữ lớn để nâng cao năng suất lao động xã hội. 2.3. Vấn đề việc làm a) Việc làm đang là một vấn đề kinh tế - xã hội gay gắt ở nước ta, đặc biệt là ở các thành phố. Theo điều tra của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, năm 1998 cả nước có 9,4 triệu người thiếu việc làm và 856 nghìn người thất nghiệp. Tỉ lệ thiếu việc làm ở vùng nông thôn là 28,2%. Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị là 6,8%. Hiện nay, tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn và tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị cao nhất là ở đồng bằng sông Hồng, tiếp đến là ở Bắc Trung Bộ. Vấn đề việc làm ở Đông Nam Bộ trước đây cũng rất căng thẳng, nay đã được cải thiện rõ rệt. b) Vấn đề việc làm đã và đang được giải quyết theo các hướng sau Phân bố lại dân cư và nguồn lao động giữa các vùng, để vừa tạo thêm việc làm, vừa khai thác được tốt hơn tiềm năng của mỗi vùng. Tây Nguyên (đặc biệt là Đắc Lắc) và Đông Nam Bộ (đặc biệt là Đồng Nai) đã tiếp nhận hàng chục vạn người đến xây dựng các vùng kinh tế mới, nhất là từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng và duyên hải miền Trung. Đẩy mạnh kế hoạch hoá gia đình và đa dạng hoá các hoạt động kinh tế nông thôn. Việc khẳng định vai trò của kinh tế hộ gia đình sẽ tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả hơn lao động nông nghiệp. Nền nông nghiệp đang chuyển dần từ tự cấp, tự túc thành nông nghiệp hàng hoá, thâm canh và chuyên canh. Các nghề thủ công truyền thống, các hoạt động dịch vụ ở nông thôn được khôi phục và phát triển. Lao động thuần nông ngày càng giảm đi. Nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá nông thôn, nhờ vậy vấn đề việc làm ở nông thôn sẽ được giải quyết vững chắc hơn. Phát triển các hoạt động công nghiệp và dịch vụ, trong đó có các hoạt động công nghiệp và dịch vụ quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh, sử dụng kỹ thuật tinh xảo và cần nhiều lao động, có khả năng tạo ra nhiều việc làm mới cho thanh niên ở các thành phố, thị xã. Việc đa dạng hoá các loại hình đào tạo (trong đó có các hình thức đào tạo từ xa, đào tạo mở rộng…), đẩy mạnh hoạt động hướng nghiệp ở các nhà trường, hoạt động dạy nghề và giới thiệu việc làm vừa giúp nâng cao chất lượng người lao động, vừa giúp cho người lao động có thể tự tạo việc làm hoặc dễ tìm việc làm hơn. Nhà nước và nhân dân ta đang tìm mọi biện pháp để giải quyết việc làm và sử dụng hợp lí sức lao động, vì nguồn nhân lực có ý nghĩa cực kì quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. II. Lý luận về kế hoạch lao động – việc làm. 1. Ý nghĩa và nhiệm vụ. Kế hoạch hóa lực lượng lao động là một bộ phận trong hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, nó xác định quy mô, cơ cấu, chất lượng của bộ phận dân số tham gia hoạt động kinh tế, xác định những chỉ tiêu xã hội của lực lượng lao động như tỉ lệ lao động có việc làm, tỷ lệ phần trăm thất nghiệp và mức thu nhập trung bình của lực lượng lao động, xác định những chính sách chủ yếu để sử dụng và điều phối lực lượng lao động một cách có hiệu quả nhằm thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và các mục tiêu phúc lợi xã hội khác của một quốc gia trong thời kỳ kế hoạch. Trong hệ thống kế hoạch hóa phát triển, kế hoạch hóa lực lượng lao động có ý nghĩa đặc biệt, nó bao hàm cả ý nghĩa của kế hoạch biện pháp và kế hoạch mục tiêu. Là kế hoạch biện pháp, kế hoạch phát triển lực lượng lao động nhằm vào mục tiêu của kế hoạch tăng trưởng, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kế hoạch phát triển vùng kinh tế, tạo ra các điều kiện về lao động để thực hiện các kế hoạch này. Là kế hoạch mục tiêu vì kế hoạch phát triển lao động bao hàm một số các chỉ tiêu nằm trong hệ thống các mục tiêu phát triển xã hội như: Giải quyết lao động, khống chế thất nghiệp hay các chỉ tiêu giáo dục, sức khỏe… Quan niệm như trên có một ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch về lao động. Một mặt kế hoạch lao động phải được xây dựng dựa trên cơ sở các yếu tố cầu do các kế hoạch về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặt ra nhưng đồng thời kế hoạch này còn bao hàm nội dung chủ động, tích cực và đặc biệt là trong việc tìm ra các cơ chế chính sách để thực hiện các mục tiêu do chính kế hoạch lao động đặt ra. 2. Nội dung. 2.1. Định hướng các yếu tố tác động đến lao động – việc làm kỳ kế hoạch. a. Xác định nhu cầu sức lao động xã hội. Nhu cầu sức lao động xã hội chỉ nhu cầu thu hút và tiếp nhận sức lao động nảy sinh trong hoạt động kinh tế - xã hội, nó có tính khách quan nội tại. Phân tích cụ thể nhu cầu nghĩa là có bao chỗ làm việc do hoạt động kinh tế - xã hội mang lại. Những nhân tố chi phối tổng hợp nhu cầu sức lao động xã hội chủ yếu bao gồm: Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng của nền kinh tế nếu coi các yếu tố khác không đổi thì nó phụ thuộc vào số lượng sức lao động và năng suất lao động. Nếu với mức năng suất lao động nhất định trên cùng một phương hướng, lượng nhu cầu sức lao động xã hội do quy mô và tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quyết định. Trình độ và tốc độ nâng cao năng suất lao động. Khi quy mô sản xuất xã hội ở mức nhất định, năng suất lao động càng cao thì sức lao động cần càng ít. Sự thay đổi trong cơ cấu ngành nghề, cơ cấu sản phẩm, cơ cấu hoạt động kinh tế - xã hội. Xuất phát từ nhu cầu sử dụng sức lao động khác nhau, có hoạt động cần một lượng sức lao động lớn, có hoạt động chỉ cần tương đối ít sức lao động, bởi vậy kết cấu hoạt động kinh tế, xã hội biến đổi cũng gây ảnh hưởng đến tổng lượng nhu cầu sức lao động xã hội. Khả năng đổi mới sức lao động. Ở một thời kỳ nhất định, do các nguyên nhân sức lao động vốn đang làm việc có một bộ phận rời khỏi chỗ làm việc, cần có sức lao động mới thay thế và bổ sung. Bởi vậy, thay thế, đổi mới sức lao động ảnh hưởng đến nhu cầu sức lao động xã hội. b. Xác định khả năng cung cấp lực lượng lao động xã hội. Khả năng cung cấp lực lượng lao động xã hội là bộ phận dân số tham gia hoạt động kinh tế; bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động có đủ khả năng tham gia lao động, đang tham gia lao động và có nhu cầu tìm việc làm. Việc xác định khả năng cung cấp lực lượng lao động xã hội được thực hiện qua các bước sau: Trước hết, xác định tổng nguồn nhân lực đất nước kỳ kế hoạch bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động. Quy mô nguồn nhân lực thường phụ thuộc vào các nhân tố sau: Quy mô và tốc độ tăng trưởng dân số. Quy mô dân số mở rộng hay thu hẹp, tăng trưởng dân số nhanh hay chậm chi phối sự biến động của bộ phận dân số trong tuổi lao động. Bởi vậy, có thể thông qua việc điều tiết có kế hoạch sự tăng trưởng dân số để điều tiết tài nguyên sức lao động xã hội. Tình hình cấu tạo tuổi tác của dân số. Cùng một tổng lượng dân số như nhau có thể hình thành lượng tài nguyên sức lao động khác nhau, nguyên nhân là do cấu tạo tuổi tác của dân số, cho nên mức độ ăn khớp giữa cấu tạo tuổi tác của dân số với quy định tuổi lao động sẽ chi phối lượng tài nguyên sức lao động của một tổng lượng dân số nhất định. Đó cũng là con đường điểu chỉnh lực lượng lao động xã hội. Quy định tuổi lao động. Khung tuổi lao động được xác định trên cơ sở khách quan nhất định. Giới hạn trên, dưới của tuổi lao động được quy định khác nhau, trực tiếp đưa một bộ phận dân số vào hoặc loại ra khỏi phạm vi tài nguyên sức lao động, do đó làm cho tài nguyên sức lao động mở rộng hoặc thu hẹp. Căn cứ khách quan của con đường này gồm có: Tình hình thể chất của con người, mức sống, điều kiện lao động, tình hình lao động v.v… 2.2. Định hướng và mục tiêu. Một mặt giữ cho dân số tăng trưởng không quá cao để hạn chế quy mô tăng sức lao động, giảm nhẹ áp lực xã hội do số lượng tài nguyên sức lao động quá thừa, đồng thời nâng cao chất lượng của dân số nhất là của sức lao động để thỏa mãn nhu cầu. Mặt khác điểu chỉnh và sắp xếp hợp lý kết cấu sản nghiệp, đặc biệt là căn cứ vào tình hình nhân lực của đất nước để điều tiết phương hướng phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm tạo ra nhiều chỗ làm việc hơn, sử dụng có hiệu quả nhất tài nguyên sức lao động. 2.3. Các chỉ tiêu thường dùng trong kế hoạch lao động – việc làm Tỷ lệ thất nghiệp: Được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp và lực lượng lao động trong độ tuổi lao động. Số lao động. Số việc làm. Cơ cấu lao động theo ngành. + cần xác định lao động nông, lâm nghiệp chiếm bao nhiêu % trong tổng lao động xã hội + xác định lao động công nghiệp và xây dựng chiếm bao nhiêu % trong tổng lao động xã hội + xac đinh lao động ngành dịch vụ - thương mại chiếm bao nhiêu % trong tổng lao động xã hội. 2.4. Các chính sách vĩ mô điều tiết sự lưu chuyển sức lao động. Ở phương diện vĩ mô, lưu chuyển sức lao động là yêu cầu tất yếu của xã hội hóa nền sản xuất lớn, là điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế hàng hóa. Theo đà tiến bộ của kỹ thuật và không ngừng nâng cao trình độ sức sản xuất, kết cấu sản nghiệp cũng sẽ biến động tương đối lớn, tất nhiên đòi hỏi phải có sự lưu chuyển tương ứng sức lao động. Ngoài ra, sự diễn biến của kết cấu tự thân sức lao động cũng là một nhân tố không thể bỏ qua được. Về mặt cá nhân, theo yêu cầu của thể lực và trí tuệ của con người lao động phải được phát triển và vận dụng tự do, đầy đủ, cần phải làm cho sức lao động được lưu chuyển hợp lý. Lưu chuyển hợp lý sức lao động cũng là yếu tố bảo đảm khách quan khiến người lao động thực hiện đầy đủ quyền lực lao động. Trong cơ chế tập trung, việc lưu chuyển sức lao động giữa các ngành, các địa phương được thực hiện theo sự khống chế trực tiếp của cấp trên bằng các chỉ tiêu cụ thể. Phương pháp này mang nhược điểm như sau: Hạn chế tính chủ động của các doanh nghiệp trong việc sử dụng biện pháp tiếp nhận và thải loại sức lao động để cân bằng sức lao động sống và lao động vật hóa, hình thành một hiện tượng kỳ lạ là vừa thiếu hụt lại vừa ngưng đọng sức lao động cùng tồn tại trong các doanh nghiệp. Do lượng cung lớn hơn lượng cầu về sức lao động, các cơ quan phân phối sức lao động thường phân phối nhiều sức lao động cho các doanh nghiệp để giảm nhẹ áp lực xã hội về công ăn việc làm. Điều đó dẫn đến sự dưa thừa lao động trong nội bộ doanh nghiệp. Kế hoạch pháp lệnh kết hợp với chế độ sử dụng cố định rất khó tạo nên sự hứng thú, sở trường và sự tự do chọn nghề của mỗi cá nhân lao động, do đó đã mang lại những vấn đề khó khăn lớn như: Học không được dùng, dùng không được học, không an tâm công tác v.v… Do bên cầu sức lao động không được tuyển lựa, bên cung cấp sức lao động không có cạnh tranh làm cho các xí nghiệp thiếu tích cực trong việc dùng người hợp lý. Như vậy, phương thức phân phối có kế hoạch tập trung cao độ sức lao động đã gây ra sự mất cân đối trong bố trí, mất hiệu quả trong sử dụng. Cần thiết phải cải cách để xây dựng cơ chế mới lưu chuyển sức lao động. Về nguyên tắc, căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, cơ chế lưu chuyển sức lao động hợp lý cần thỏa mãn các đòi hỏi sau đây: Người lao động phải có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp và nơi làm việc của mình theo sở trường và sở thích. Với tư cách người sản xuất hàng hóa và người kinh doanh tương đối độc lập, tự chủ, chịu trách nhiệm về lỗ, lãi, xí nghiệp được quyền lựa chọn, thu nạp, sa thải nhân viên theo đòi hỏi của sản xuất kinh doanh và yêu cầu kỹ thuật. Với tư cách là người đại biểu tập trung cho lợi ích toàn dân, Nhà nước cần thiết dùng những biện pháp nhất định can thiệp, điều tiết và khống chế lưu chuyển sức lao động. Căn cứ vào thực tế kể trên, khung cơ chế lưu chuyển sức lao động có thể mô tả bằng sơ đồ sau đây: Điều khiển kế hoạch vĩ mô Sức lao động Thị trường lao động Đơn vị có nhu cầu lao động Đặc điểm cơ bản của cơ chế lưu chuyển sức lao động là: Sức lao động lưu chuyển trên thị trường là hình thức cơ bản nhất. Trong nền kinh tế hàng hóa, muốn thực hiện sự phân bố hợp lý các yếu tố sức sản xuất, cần phải hòa toàn bộ các yếu tố của sức sản xuất vào hệ thống thị trường. Cơ chế cơ bản điều tiết sự cân bằng của thị trường sức lao động là sự tác động qua lại giữa cung – cầu và sự cạnh tranh. Điểu này đòi hỏi phải tạo cho nó những điều kiện nhất định để từng bước hoàn thành môi trường kinh tế - xã hội bảo đảm cho môi trường sức lao động ngày càng hoàn thiện. Nhà nước khống chế thị trường sức lao động chủ yếu bằng việc đưa ra các đường nét hướng đạo chính, bằng các kế hoạch mang tính chất co giãn. Ngoài các biện pháp luật, hành chính cần thiết, chủ yếu điều khiển bằng biện pháp kinh tế. Cụ thể là trên tầm vĩ mô Nhà nước nên xuất phát từ mục tiêu tổng thể, lâu dài về phát triển kinh tế - xã hội khống chế có kế hoạch tổng cung sức lao động, cân bằng sức lao động với tổng tiền lương. Đồng thời thông qua kế hoạch vĩ mô có sự cân đối cần thiết quy mô, kết cấu và phương thức lưu chuyển sức lao động, làm cho nó thích ứng được các mặt phát triển của kinh tế xã hội. Đặc biệt đối với một số nhân viên, cán bộ kỹ thuật chuyên môn cao cấp và sức lao động cần thiết cho các công trình trọng điểm của Nhà nước có thể điều phối bằng kế hoạch pháp lệnh. PHẦN II: KẾ HOẠCH LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM 2006 – 2010. I. Những thành tựu, hạn chế, thách thức rút ra từ thời kỳ kế hoạch 2001 – 2005. Bộ Lao động thương binh xã hội và Tổng cục thống kê đã đưa ra những đánh giá khách quan về số lượng và chất lượng của tình hình lao động 2001 -2005 như sau:  Lực lượng lao động cả nước vẫn tiếp tục gia tăng với tốc độ cao. Bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 tăng 2,5% với quy mô tăng 1 triệu người/năm; trong đó lực lượng lao động khu vực thành thị tăng 4,5%, lao động khu vực nông thôn tăng 1,9% Qui mô lao động qua đào tạo không ngừng tăng lên qua các năm. Từ 6 triệu người ở năm 2002, đến năm 2005 con số này đã lên tới 11 triệu người, gấp 1,8 lần so với năm 2000. Bình quân hàng năm, số lao động đã qua đào tạo tăng 12,9%. Về đánh giá tình hình phẩn bổ lao động, nếu phân chia theo 3 khu vực ngành kinh tế, cả nước có 24. triệu người làm việc chính ở khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, chiếm 56,8%; 7,7 triệu  người làm việc chính ở khu vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 17,9% và 11 triệu người làm việc ở khu vực dịch vụ, chiếm 25,3%. Cơ cấu lao động của cả nước tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng cả về số lượng và tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực công nghiệp và xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ lệ làm trong ngành nông nghiệp. Phân bổ lao động chia theo loại hình kinh tế, cả nước có 4,4 triệu người làm việc ở khu vực Nhà nước, chiếm 10,2%, 38. triệu người làm việc ở khu vực ngoài Nhà nước, chiếm 88,2% và 0, 7 triệu người làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 1,6%. Phân bố lực lượng lao động theo vùng lãnh thổ tuy có chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng vẫn còn nhiều bất cập so với tiềm năng và nhu cầu phát triển. Tỷ trọng lực lượng lao động ở các vùng Tây Bắc và Tây Nguyên trong tổn lực lượng lao động cả nước tuy có tăng nhưng chậm và còn rất thấp so với các vùng khác, trong khi Đông Nam Bộ vốn có mật độ dân số cao, lực lượng lao động đông đảo lại đang có xu hướng tăng mạnh về cả quy mô lẫn tỷ trọng Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị giảm (từ 6,4% năm 2000 xuống còn 5,3% ở năm 2005). Bình quân hàng năm tỷ lệ này giảm được trên 0,2%, đạt được mục tiêu là 5,5%. Về công tác chuẩn hoá đào tạo lao động, Bộ LĐTB&XH đã có quy định tạm thời về chuẩn trường dạy nghề, chuẩn chương trình, giáo viên, giáo trình. Hiện nay Tổng cục dạy nghề đang xây dựng 76 chương trình đào tạo dài hạn cho 48 nghề phổ biến. Bộ LĐTB&XH đẩy mạnh đổi mới cơ chế hoạt động, nâng cao năng lực và hiện đại hoá các trung tâm dịch vụ việc làm ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ sở vệ tinh để cung cấp các dịch vụ tư vấn, giới thiệu và cầu nối việc làm cho những người có nhu cầu. Hỗ trợ kinh phí cho 39 địa phương tổ chức Hội chợ việc làm, tác động tốt đến sự hình thành và phát triển thị trường lao động tại các địa phương và cả nước. Nhìn chung, lĩnh vực lao động - việc làm của cả nước nói chung và các vùng nói riêng trong 5 năm qua có nhiều chuyển biến tích cực về đào tạo, giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị, tăng tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động, tiền lương, tiền công tiếp tục tăng cao và ngày càng có quan hệ chặt chẽ với chất lượng lao động ở các vùng trong cả nước. Đến năm 2005, trừ tỷ lệ lao động qua đào tạo, còn các mục tiêu khác do Đại hội Đảng IX đề ra đều đạt và vượt. Tuy nhiên, tình hình lao đông - việc làm của Việt Nam còn nhiều bất cập. Đầu tiên, số lượng, tỷ lệ cũng như chất lượng và cơ cấu ngành nghề lao động đã qua đào tạo còn chưa đáp ứng được nhu cầu lao động ngày càng tăng cao, đặc biệt là ở vùng kinh tế trọng điểm. Thứ hai, sức ép về việc làm đối với lực lượng lao động trẻ ở khu vực thành thị do tỷ lệ thất nghiệp cao (13,3%), đặc biệt ở các đô thị tập trung, các vùng kinh tế trọng điểm. Thứ ba, nhiều ngành, nhiều địa phương còn rất thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, kỹ năng tay nghề giỏi, trong khi số lao động qua đào tạo (kể cả lao động cao đẳng, đại học) lại đang thất nghiệp với tỷ lệ không nhỏ. Sự cách biệt về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động thành thị và nông thôn còn lớn, đã đang và sẽ gây bất lợi cho khu vực nông thôn trong giai đoạn phát triển CNH, HĐH dưới tác động ngày càng mạnh của kinh tế thị trường và xu thế hội nhập, toàn cầu hoá về kinh tế. II. Nội dung kế hoạch lao động – việc làm thời kỳ 2006 2010. 1. Định hướng, mục tiêu: Ưu tiên dành vốn đấu tư của Nhà nước và huy động vốn xã hội để giải quyết việc làm. Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lao động. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản xuống còn 50% vào năm 2010, tăng lao động công nghiệp và xây dựng lên ít nhất 23 – 24% và tăng lao động dịch vụ - thương mại lên ít nhất 26 – 27%. Trong 5 năm 2006 – 2010, phấn đấu giải quyết việc làm cho trên 8 triệu lao động, trong đó khoảng 6 triệu chỗ làm việc mới, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 1,6 triệu người, ít nhất 50% là nữ. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, thanh niên, ưu tiên cho nữ thanh niên. Đảm bảo không có sự phân biệt đối xử về giới trong mọi hình thức việc làm. Thực hiện có hiệu quả chương trình xuất khẩu lao động, tăng tỷ lệ lao động có tay nghề. Phấn đấu 5 năm tới, mỗi năm đưa khoảng 100 ngàn lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài. Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống còn dưới 5% số lao động trong độ tuổi. 2. Các chỉ tiêu chủ yếu: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo năm 2010 đạt 40% tổng lao động xã hội. Quy mô dân số vào năm 2010 dưới 89 triệu người, tốc độ phát triển dân số khoảng 1,14%. 5 năm tạo việc làm, giải quyết thêm việc làm cho trên 8 triệu lao động, bình quân mỗi năm trên 1,6 triệu lao động, trong đó 50% là lao động nữ. 5 năm dạy nghề cho 7,5 triệu lao động, trong đó 25 – 30% dài hạn. Tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị dưới 5% năm 2010. Năm 2010, lao động nông nghiệp chiếm dưới 50% lao động xã hội. III. Tình hình triển khai thực hiện trong những năm 2006 – 2007. 1. Tình hình triển khai thực hiện năm 2006. Tổng số lao động được giải quyết việc làm khoảng 150 vạn lượt người, số lao động xuất khẩu trên 7 vạn người. Tuy nhiên tình trạng lao động bỏ trốn vẫn nghiêm trọng nhất là ở Đài Loan đã ảnh hướng đến uy tín của Việt Nam. Tại nhiều vùng nông thôn trong các tháng cuối năm, công việc làm tương đối ổn định. Nhiều nông dân đã biết tổ chức mô hình hợp tác làm ăn như câu lạc bộ những người nuôi cá, nuôi thỏ, nuôi tôm…, giúp nhau về kỹ thuật, giống, vốn và tiêu thụ sản phẩm, nên đã tạo được thu nhập khá. Nhiều địa phương đã trú trọng giải quyết việc làm ổn định cho nông dân và tăng cường mở lớp dạy nghề miễn phí cho nông dân, nhất là những người bị mất đất sản xuất, tạo cơ hội cho họ lựa chọn ngành nghề thích hợp với trình độ văn hóa. Đối với người lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, các cơ quan liên quan như Lao động thương binh xã hội, Tổng liên đoàn lao động… tiếp tục phối hợp bàn về giải pháp nhằm ngăn chặn tình trạng đình công bất hợp pháp; đẩy nhanh các chương trình dự án hỗ trợ người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất về điều kiện sinh hoạt, nhà ở. Đồng thời có chương trình về tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới. 2. Tình hình triển khai thực hiện 6 tháng đầu năm 2007. Số người được giải quyết việc làm trong tháng đầu năm 2007 ước đạt 78 vạn lượt người. Trong đó lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài khoảng trên 4,6 vạn người, trong đó 29,3% là lao động nữ. Số lao động đi làm việc ở nước ngoài 6 tháng đầu năm 2007 chủ yếu sang một số thị trường cũ như: Malaysia 14,7 nghìn người; Đài Loan 9,5 nghìn người; Hàn Quốc 5,2 nghìn người; Nhật Bản 1,75 nghìn người; Qatar 3,7 nghìn người… Nhiều hoạt động hỗ trợ giải quyết lao động – việc làm đã được triển khai như tìm kiếm và mở rộng thị trường

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxda_123_5056.docx
Tài liệu liên quan