LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 3
1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung 3
1.1.2 Khái niệm về FDI theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 5
1.2 Vai trò của FDI 7
1.2.1 Vai trò của FDI đối với nước nhận đầu tư (là nước đang phát triển) 7
1.2.2 Những đóng góp cụ thể của FDI đối với Việt Nam 9
CHƯƠNG 2: VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG FDI TẠI VIỆT NAM 13
2.1 Thực trạng cấp giấy phép FDI tại Việt Nam 13
2.1.1 Tình hình chung 13
2.1.2 Về các đối tác được cấp giấy phép đầu tư 14
2.1.3 Về địa bàn đầu tư 15
2.1.4 Giấy phép đầu tư theo nghành kinh tế 16
2.1.5 Về các hình thức đầu tư 17
2.2 Tình hình thực hiện của các dự án FDI tại Việt Nam 18
2.2.1 Tiến độ thực hiện vốn FDI 18
2.2.2 Về vấn đề góp vốn của hai bên đối tác 19
2.2.3 Đầu tư nước ngoài vào một số lĩnh vực kinh tế tiêu biểu 20
2.2.4 Tình hình xuất nhập khẩu của doanh ngiệp FDI 21
2.3 Một số nhận xét về thực trạng hoạt động FDI trong
thời gian vừa qua 28
2.3.1 Vấn đề về một số quan hệ trong liên doanh 28
2.3.2 Về cơ cấu đầu tư FDI 31
2.3.3 Vấn đề thực hiện chiến lược CNH hướng về xuất khẩu ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 32
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT FDI TẠI VIỆT NAM 34
3.1 Thống nhất quan điểm nhận thức chung về FDI 34
3.2 Xây dựng danh mục kêu gọi FDI 34
3.3 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về FDI 35
3.4 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về FDI 37
3.5 Cải tiến các thủ tục hành chính 38
3.6 Đẩy mạnh công tác vận động, xúc tiến đầu tư 39
3.7 Xây dựng một đội ngũ cán bộ có năng lực, công nhân kỹ thuật có trình độ cao trong khu vực FDI 41
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
46 trang |
Chia sẻ: huong.duong | Lượt xem: 1302 | Lượt tải: 4
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực trạng và một số giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iện của các dự án FDI tại Việt Nam
2.2.1 Tiến độ thực hiện vốn FDI
- Có 785 dự án sau một thời gian triển khai đến nay có nhu cầu xin được tăng vốn, mở rộng sản xuất. Tổng số vốn đã được phê đuyệt tăng thêm là 5.171 triệu USD (bằng 14% tổng vốn đăng ký và bằng 28,4% dự án được cấp giấy phép).
- 127 dự án hết thời hạn thực hiện hợp đồng (bằng 4,6% số dự án được cấp giấy phép), 466 dự án đã bị rút giấy phép (chiếm 16,8%). Như vậy, tính đến 31/12/1999 trên lãnh thổ Việt Nam còn 2.173 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đang hoạt động, với tổng số vốn đăng ký của các dự án còn hiệu lực là 36.086 triệu USD.
- Đến nay số vốn đã thực hiện của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng 42,4% của tổng số vốn đăng ký. Trong điều kiện của một nền kinh tế kém phát triển, kết cấu hạ tầng lạc hậu, các nguồn lực cũng như các chính sách đối với đầu tư nước ngoài còn nhiều biến động, thị trường phát triẻn chưa đầy đủ… thì tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được ở mức như vậy là không thấp. Tuy vậy, xuất phát từ đặc điểm các dự án sau khi được phê duyệt thường chưa đủ các điều kiện để triển khai ngay, do đó, số vốn thực hiện trong năm chủ yếu là của các dự án đã được phê duyệt từ các năm trước đó. Nếu so sánh số vốn thực hiện của từng năm với số vốn đăng ký còn lại (tổng vốn đăng ký từ trước trừ đi số vốn đã thực hiện) thì tỷ lệ vốn thực hiện diễn biến theo xu hướng thieuú ổn định. Tỷ lệ này tăng nhanh từ đầu đến năm 1995 (vốn thực hiện 1992/vốn đăng ký 1988-1991 còn lại =13,6%; số Tưong ứng 1993=23,5%; 1994=30,1%; 1995=32,2%) và sau đó giảm dần Từ năm 1996 đến nay (số liệu Tương ứng 1996=21,8%; 1997=18,1%; 1998=10,1% và 1999=7,1%). Điều này một phần cơ bản là do tác động của cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực-khi mà một số nhà đầu tư thuộc các quốc gia xảy ra khủng hoảng đang còn số vốn mà họ chưa thực hiện lại phải dùng để đối phó với tình trạng xấu xảy đến một cách đột ngột, buộc họ phải dừng hoặc chấm dứt không thể đầu tư được… Mặt khác, một số nhà đầu tư khi lập dự án dẫ tính toán chưa thật sát với thực tế nên khi triển khai dự án đã gặp phải một số vấn đề phát sinh vượt cả khả năng tài chính cũng như các yếu tố điều kiện cho doanh nghiệp vận hành. Thậm chí có một số nhà đầu tư nước ngoài, thực chất là yếu về năng lực tài chính nên mặc dù đã được cấp giấy phép đầu tư, nhưng do không huy động được vốn đúng như dự kiến, buộc họ phải triển khai thực hiện dự án chậm, có khi mất khả năng thực hiện.
2.2.2 Về vấn đề góp vốn của hai bên đối tác
Theo quy định của “Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” thì đối tác nước ngoài có thể góp vốn vào liên doanh bằng tiền nước ngoài, tiền Việt Nam, thiết bị máy móc nhà xưởng…, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kĩ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kĩ thuật. Đến nay, tất cả các thiết bị và các quyền sở hữu của bên nước ngoài chuyển vào thực hiện tại Việt Nam đều được quy đổi thành tiền. Số tiền vốn thực hiện mà ta thống kê được như trên là bao gồm cả vốn thực hiện của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và cả số tiền “khai vống giá trị tài sản” của đối tác nước ngoài khi đưa thiết bị vào thực hiện dự án đầu tư. Bên nước ngoài góp vốn chủ yếu bằng tiền mặt và trang thiết bị do đó trong giai đoạn đầu triển khai dự án, thực hiện các công việc xây dựng cơ bản bị phụ thuộc rất nhiều vào tiến độ góp vốn của bên nước ngoài. Trong giai đoạn xây dựng cơ bản, đối tác nước ngoài gần như nắm quyền điều hành toàn bộ các hoạt động của liên doanh. Do trình độ cán bộ, nên trong các liên doanh có rất ít cán bộ của đối tác Việt Nam giành được tiếng nói chi phối các hoạt động này. Đến nay, các đối tác nước ngoài đã đưa vốn vào thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam là 13.341 triệu USD (gấp 6 lần số vốn của Việt Nam tham gia vào hoạt động này).
Cũng theo quy định của “Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” thì bên Việt Nam có thể góp vốn tham gia liên doanh bằng tiền, giá trị quyền sử dụng đất, các nguồn nguyên, giá trị sử dụng mặt nước, mặt biển, thiết bị máy móc, nhà xưởng, giá trị quyền sở hữu công nghiệp bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, các dịch vụ... Thực tế, lâu nay Việt Nam góp vốn tham gia liên doanh chủ yếu bằng giá trị quyền sử dụng đất và giá trị thiết bị nhà xưởng hiện có. Tất cả những thứ này đều được chuyển một lần ngay vào thời điểm bứt đầu triển khai thực hiện dự án đầu tư, do đó nếu theo giấy phép đăng ký thì bên Việt Nam góp 21,9%, bên nước ngoài góp 78,1% nhưng trên thực tế góp vốn thực hiện trong liên doanh thời kỳ 1988-1997 bên Việt Nam đã góp tới 31,3%, bên nước ngoài là 68,7%. Số vốn góp của Việt Nam ở thời điểm này gồm 74% bằng giá trị quyền sử dụng đất ;15% bằng giá trị nhà xưởng , thiêts bị, và 11% là bằng tiền mặt, nguyên vật liệu và các dịch vụ. Số tiền của bên nước ngoài góp gồm: 76,6% bằng tiền mặt, 15,4% bằng giá trị thiết bị, máy móc, phần còn lại là các dịch vụ tư vấn, công nghệ…
2.3 Đầu tư nước ngoài vào một số lĩnh vực kinh tế tiêu biểu
-Lĩnh vực dầu khí: so với các nghành kinh tế Việt Nam thì đây là một trong rất nghành thu hút được các tập đoàn kinh tế lớn của thế giới đến tham gia đầu tư. Đến nay, ngoài xí nghiệp liên doanh dầu khí VietsoPetro chúng at đã cấp 33 giấy phép hoạt đọng cho các nhà đầu tư tương đối có tiềm lực về mọi mặt thuộc Bắc Mỹ, châu Âu, châu úc, châu á. Hình thức hoạt động chủ yếu của các nhà đầu tư này là hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm.
-Lĩnh vực công nghiệp điện tử: là lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài có mặt tương đối sớm, vốn thực hiệ chiếm tỷ lệ cao so với vốn đăng ký, có tiến độ thực hiện đúng với cam kết được ghi trong giấy phép đầu tư và đây là lĩnh vực rất sớm phát huy hiệu quả. Một trong những yếu tố hơn hẳn so với lĩnh vựuc đầu tư khác là các hà đầu tư thuộc lĩnh vực này phần lớn thuộc các công ty đa quốc gia và các hãng điện tử mạnh trên thế giơí như: SONY, JVC, TOSHIBA, PHILLIP, MATSUSHITA, FUJITSU, LG, SAMSUMNG, DAEWOO…
-Lĩnh vực công nghiệp ô tô và xe máy: đây cũng là một trong nhừng lĩnh vực thu hút được nhiều nhà đầu tư thuộc các hãng lớn mà sản phẩm của họ đã nổi tiéng và có lợi thế cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thế giới, như TOYOTA, FORD, HONDA, SUZUKI…Đến 12/1999 chúng ta đã cấp giấy phép hoạt động cho 14 dự án đầu tư sản xuất ô tô và 4 dự án đầu tư sản xuất xe máy; số vốn thực hiện của các dự án đầu tư sản xuất ôtô đến 12/1999 là 376 triệu USD (bằng 43,12% vốn dăng ký), với số sản phẩm bình quân 140.000 xe ôtô/năm. một đặc điểm tương đối nổi bật của các dự án đầu tư sản xuất ôtô xe máy là bên cạnh các hoạt động cuả chính bản thân các dự án này có tác động đến việc hình thành các dự án sản xuất linh kiện, phụ tùng tương ứng. Các dự án vệ tinh này thường là những bạn hàng truyền thống của các nhà đầu tư hoặc các doanh nghiệp cơ khí sẵn có của Việt Nam, trong đó có cả các doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong SXKD, thậm cí có nguy cơ phá sản
-Lĩnh vực viễn thông: đến nay đã có 14 dự ándt nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký là 1.545 triệu USD, trong đó số vốn đã thực hiện là 388 triệu USD (bằng 25% vốn đăng ký). Trong số các dự án ở lĩnh vực này, có đến 94% số dự án đầu tư theo hình thức hợp đòng hợp tác kinh doanh về dịch vụ viễn thông, 6% theo hình thức liên doanh để sản xuất các thiết bị vật tư bưư điện. đặc biệt, đây là lĩnh vực không có dự án đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
-Hoạt động kinhdoanh khách sạn, du lịch: là lĩnh vực ngay từ đầu đã biểu hiện còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác nên ngay từ đầu đã thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Mặc dù số dự án cũng như vốn đăng ký vào nghành này có tỷ trọng chưa cao trong tổng số dự án cũng như tổng vốn FDI tại Việt Nam, đến nay cũng đã có 202 dự án với 4.834,8 triệu USD đăng ký đầu tư xây dựng khách sạn, văn phòng,căn hộ cho thuê, pháy triển đô thị . đây cũng là tình trạng cung vượt quá cầu ở một số thành phố như TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đã Nẵng, Hải Phòng.
-Lĩnh vực công nghiệp hoá chất: đến nay đã thu hút được 89 dự án với tổng số vốn đăng ký 1.117 triệu USD (36 dự án 100% vốn nước ngoài,48 liên doanh, 5 hợp đồng hợp tác kinh doanh ) trong đó số vốn đã thực hiện là397,6 triệu USD( bằng35,6% tổng vốn đăng ký).
-Lĩnh vực dệt may giày dép: là nghành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, suất đầu tư cho mỗi lao động thấp, triển khai SXKD nhanh;dặc điểm này rất thích hợp với điều kiện kinh tế và trình độ pháy triển thời kỳ đầu tiến hành CNH-HĐH của nước ta. đến nay đã có 250 dự án với tổng số vốn đăng ký 2.396 triệu USD; trong đó vốn thực hiện là 1.079 triệu USD. Đây là một trong những lĩnh vực có tỷ lệ vốn thực hiện đạt vào loại cao.
2.2.4 Tình hình xuất nhập khẩu của doanh ngiệp FDI
Theo số liệu thống kê của vụ Đầu Tư-Bộ Thương Mại, kết quả XNK của các doanh ngiệp FDI được chia ra các năm như sau(không tính dầu khí):
Bảng 7: Kim nghạch XNK của các doanh ngiệp FDI
Đơn vị :triệu USD
Năm
Xuất khẩu
Nhập khẩu
1989-1991
52
192
1992
112
230
1993
140
491
1994
165
750
1995
403
1653
1996
786
2232
1997
1497
2700
1998
1982
2900
1999
2590
3382
2000(quý 1)
66174
Nguồn : Vụ Đầu Tư-Bộ Thương Mại
Từ số liệu bảng 7 ta thấy:
-Về nhập khẩu: kim nghạch NK tăng mạnh qua các năm là do tiến độ triển khai xây dựng, sản xuất của các doanh ngiệp được thực hiện theo lịch trình đã xét duyệt. Hàng hoá nhập chủ yếu là máy móc,thiết bị phục vụ cho xây dựng cơ bản, hình thành doanh ngiệp và vật tư, nguyên liệu cho sản xuất. Tuy nhiên,việc NK tăng cũng chưa phản ánh hết tốc độ đầu tư. thực tế cho thấy, mặc dù kim nghạch NK có tăng nhưng trị giá thiết bị máy móc NK lại giảm (nhất là cuối năm 1996), chứng tỏ tốc độ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm.
-Về xuất khẩu: kết quả XK được phản ánh bằng sự tăng trưởng của kim nghạch XK của các doanh ngiệp FDI tăng mạnh qua các năm chứng tỏ doanh ngiệp FDI đã đóng góp đáng kể trong kim nghạch XK của cả nước , làm thay đổi cơ cấu hàng XK, tăng dần tỷ lệ XK hàng công nghiệp, hàng có kỹ thuật coa trong cơ cấu hàng XNK của Việt Nam.
-Tỷ trọng XK của các doanh ngiệp FDI:
Bảng 8: Tỷ trọng XK của các doanh ngiệp FDI
Năm
Doanh nghiệp FDI
Cả nước
Tỷ lệ
1996
786.000.000
6.868.000.000
11,4%
1997
1.479.653.000
8.758.900.413
17,09%
1998
1.982.638.000
9.323.648.397
21,25%
1999
2.365.000.000
11.520.600.002
22,5%
2000(quý 1)
665.000.000
650.800.000
26%
Nguồn : Vụ Đầu Tư-Bộ Thương Mại
Qua bảng 5 ta thấy XK của các doanh ngiệp FDI tăng ổn định qua các năm và chiếm tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch XK của toàn bộ nền kinh tế ( trên 20%).
-Cơ cấu đầu tư và cơ cấu XK: theo số liệu của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, tổng kết tình hình đầu tư trong những năm qua( 1998 -3/2000) cơ cấu đầu tư và XK trong lĩnh vực như sau:
Bảng 9: Cơ cấu đầu tư và XK của các doanh ngiệp FDI
Lĩnh vực kinh tế
Số dự án
Trị giá vốn đầu tư
Tỷ lệ %
Doanh thu
1000 USD
Trị giá XK
1000 USD
1. Công nghiệp
1.203
12.642.542
35,2
11.659.257
5.021.565
Công nghiệp nặng
500
6.474.370
5.715.376
1.997.524
Công nghiệp nhẹ
577
3.774.759
3.389.864
2.656.922
Công nghiệp thực phẩm
126
2.393.383
7,2
2.554.017
367.119
2.Dỗu khí
23
2.558.268
5,7
1.391.764
3.Nông lâm thuỷ sản
294
3.030.477
371.529
Nông lâm nghiệp
245
1.874.827
1.227.743
309.714
Thuỷ sản
49
15.556.560
25,3
164.021
61.815
4. Du lịch-Dịch vụ KS
315
9.059.044
1.221.007
KS-DL-VP-Căn hộ
156
8.099.955
641.405
Văn hoá-Y tế-Giáo dục
76
433.107
208.45
Dịch vụ
119
525.982
11,7
121.152
5.Xây dựng
221
4.204.727
679.906
Xây dựng
208
3.401.187
601.322
XD Hạ Tầng KCX-KCN
13
803.45
7,8
58.284
6.GTVT-Bưu điện
97
2.804.627
1.822.965
7.Tài chính-Ngân hàng
48
542.25
1,5
261.409
Tổng cộng
2.339
35.786.144
17.197.429
11.248.000
Nguồn : Vụ Đầu Tư-Bộ Thương Mại
Từ số liệu trên ta thấy: cơ cấu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể(32% trong tổng số vốn đầu tư ). Doanh thu, doanh số của các doanh ngiệp thuộc lĩnh vực này cũng chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên, cũng có những lĩnh vực chiếm giá trị lớn như du lịch,khách sạn lại không có khả năng XK và đạt doanh thu không cao.
-Về cơ cấu hàng XK: Cơ cấu hàng XK trước tiên phụ thuộc vào cơ cấu đầu tư Do vậy, tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp càng lớn thì tỷ lệ XK hàng công nghiệp càng cao(chiếm khoảng 44,6%),điều này càng khảng định chủ trương thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực SX hàng công nghiệp của Đảng và Nhà nước ta là một chủ trương đúng đắn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH.
-Về cơ cấu thị trường XK: thị trường XK của các doanh ngiệp có vốn đầu tư nước ngoài phần lớn do các nhà đầu tư nước ngoài quyết định. Trong số các nước có quan hệ hợp tác đầu tư với Việt Nam thì các nước châu á đầu tư lớn nhất, như: Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore. Và cũng chính các nước này NK hàng hoá nhiều nhất từ các doanh nghiệp FDI Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan , năm1998, chỉ riêng thị trongường Nhật Bản và các nước ASEAN, trị giá kim nghạch XK của các doanh nghiệp FDI đạt 886,9 triệu USD, chiếm 44,7%. Các nước , các khu vự còn lại như EU đạt 456triệu USD,chiếm 30%, Hoa Kỳ đạt 107,4 triệu USD, chiếm 5,4%; Nga 4 triệu, các nước khác đạt 28,4 triệu,chiếm 26%.
-Tỷ trọng XK chung của cả nước thời kỳ 1992-1998 cho thấy Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, Nhật Bản chỉ giữ vai trò trong các năm 1991-1995(chiếm bình quân trên 30% tổng kim nghạch XK của các doanh nghiệp FDI). Sau đó giảm dần,năm 1998 chỉ còn 15,8% kim nghạch XK nhưng các nước ASEAN không có sự thay đổi lớn trong suốt thời kỳ 1991-1998(chiếm tỷ trọng bình quân là 21,5% kim nghạch XK).
-Tỷ trọng XK vào EU tăng khá đều trong các năm qua: Năm 1991, EU mới đạt 5,7% kim nghạch XK của ta, nhưng tới năm 1998 đã chiếm 22,5%. Riêng trong khối FDI, tỷ lệ XK cũng đạt 30% kim nghạch của cả khối.
Phân tích cơ cấu XK một số mặt hàng chính vào các thị trường chính trong các năm 1998,1999 ta thấy:
-XK vào thị trường ASEAN:
Bảng 10: XK của các doanh nghiệp FDI vào thị trường ESEAN năm 1998
Đơn vị: 1000 USD
Thị trường
Gạo
Hải sản
Cà phê
Cao su
Giầy dép
Dệt may
Điện tử
Hàng khác
Tổng
trị giá
Brunei
183
183
Campuchia
9
8.086
17.086
Indonéia
7.89
97
707
707
3
164
7.897
1693.79
Lào
225
1.419
226.419
Malãiia
250
262
342
288
601
29.232
1772.23
Mianma
8
1.026
9.026
Philippine
638
71
231.814
940.814
Singapore
2.828
1.499
259
82
1.881
7.67
3.827
57.494
416.199
Thái Lan
168
138
1.131
2.615
67
188.492
565.238
Tổng
10.968
1.667
494
344
4.752
10.655
4.884
525.642
1396.57
Nguồn : Vụ Đầu Tư-Bộ Thương Mại
-XK vào thị trường Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nga
Bảng 11: XK vào thị trường Nhật Bản, Hoa Kỳ, Nga
Đơn vị: 1000 USD
Thị trường
Gạo
Hải sản
Cà phê
Cao su
Giầy dép
Dệt may
Điện tử
Hàng khác
Tổng
trị giá
Nhật Bản
3.553
19.600
4
-
6.049
90.809
3.452
193.942
428.282
Mỹ
411
553
703
-
82.956
16.204
479
6.071
127.892
Nga
-
-
-
-
1.106
549
-
2.388
7.112
Tổng
3.963
20.213
707
66
100.111
107.563
3.931
202.401
563.286
Nguồn : Vụ Đầu Tư-Bộ Thương Mại
-XK vào thị trường EU
Bảng 12: XK vào thị trường EU
Đơn vị: 1000 USD
Thị trường
Hải sản
Cà phê
Cao su
Giầy dép
Dệt may
Điện tử
Hàng khác
Tổng
trị giá
Anh
-
6.515
136
27.571
7.272
1.623
16.210
59.326
Aó
-
-
-
390
122
38
915
1.464
Bỉ
107
-
-
77.989
6.468
25
28.421
113.009
Bồ Đào Nha
-
-
-
206
41
28
803
1.007
Đan Mạnh
-
-
-
986
865
1.159
3.296
6.305
Đức
41
569
-
21.176
32.144
9.264
33.032
96.239
Hà Lan
199
-
27
13.302
8.196
4.143
11.008
36.875
Hy Lạp
1.289
-
-
1.188
183
-
1.085
2.585
Italia
459
-
-
18.637
5.312
1.746
10.470
36.637
Phần Lan
-
-
-
2.067
833
212
1.788
4.909
Tây Ban Nha
20
-
-
4.505
2.674
681
8.580
16.459
Thuỵ Điển
45
-
-
2.456
1.889
2.490
4.149
11.028
Thuỵ Sĩ
-
202
-
1.253
999
-
2.907
5.361
Cộng
999
7.285
176
183.393
88.263
21.765
154.021
455.915
Nguồn : Vụ Đầu Tư-Bộ Thương Mại
- Thị trường khác đạt 528.363.854 USD
Như vậy, XK của các doanh ngiệp FDI sang Nhật Bản các nước ASEAN
Kim nghạch tuy có tăng 10% so với năm 1997 (975 so với 886 triệu USD) và chiếm phần lớn kim nghạch của khối(37,6%) nhưng thị phần lại giảm (từ 44,7% xuống 37,6%). XK sang thị trường Nhật Bản vẫn không thay đổi về thị phần. Kim nghạch XK sang EU tăng cao gần 50%. XK sang thị trường Nga và Mỹ có tăng hơn năm trước nhưng chậm.
+ Năm 1999
-XK vào thị trường Mỹ, Nhật và Nga
Bảng 13: XK của các doanh nghiệp FDI vào thị trường Mỹ, Nhật và Nga năm 1999
Thị trường
Gạo
Hải sản
Cà phê
Cao su
Giầy dép
Dệt may
Điện tử
Hàng khác
Tổng trị giá
Nhật Bản
4.864
12.407
-
-
21.996
13.543
287.064
287.064
428.282
Hoa Kỳ
-
850
-
-
96.465
178
22.321
22.321
127.892
Nga
-
-
-
433
202
-
5.961
5.961
7.112
Cộng
4.864
13.257
-
433
118.663
13.721
306.346
306.346
563.286
Nguồn : Vụ Đầu Tư-Bộ Thương Mại
-XK sang thị trường ASEAN
Bảng 14: XK của các doanh ngiệp FDI vào thị trường ASEAN năm 1999
Thị trường
Gạo
Hải sản
Cà phê
Cao su
Giầy dép
Dệt may
Điện tử
Hàng khác
Tổng
trị giá
Brunei
-
-
-
-
-
-
-
116
116
Campuchia
-
93
1
-
44
9
-
5.546
5.684
Indonéia
519
-
-
-
951
-
164
9.903
11.726
Lào
-
-
-
-
-
101
225
245
346
Malãiia
7.751
651
-
357
3.019
601
25.430
72.807
Mianma
-
-
-
-
-
61
-
620
681
Philippine
145
-
-
-
403
262
-
9.767
229.940
Singapore
785
1.623
681
748
6.970
10.578
3.827
38.672
68.265
Thái Lan
128
201
-
-
356
2.615
10.130
17.410
157.075
Tổng
9.328
2.568
682
748
9.081
15.151
401.373
107.709
546.640
Nguồn : Vụ Đầu Tư-Bộ Thương Mại
Năm 1999, XK của các doanh nghiệp FDI vào thị trường EU
+ Mặt hàng : hải sản, cà phê, cao su, giầy dép, dệt may, điện tử và một số hàng khác
+Tổng kim nghạch: 684.425 triệu USD
Theo số liệu trong các bảng trên, cơ cấu thi trường XK của các doanh nghiêpppj cũng không có sự thay đổi lớn so với năm 1998, thị trường XK chủ yếu vẫn là các nước châu á và chiếm lớn nhất vẫn là thị trường Nhật Bản và các ASEAN: 75 triệu USD chiếm 37,6%.
Nhìn chung, hoạt động XK của các doanh nghiệp FDI ngày càng có xu hướng phát triển cả về số lượng lẫn tốc độ và ngày càng đóng vai trò to lớn trong hoạt động XK của đất nước, góp phần tăng trưởng kinh tế và bình ổn cán cân thương mại.
2.3 Một số nhận xét về thực trạng hoạt động FDI trong thời gian vừa qua
Hoạt động FDI trong thời gian vừa qua đã thực sự có tác động tích cực, có vị trí quan trọng, góp phần chuyển biến nền kinh tế Việt Nam theo hướng CNH-HĐH. ảnh hưởng của loại hình kinh tế này đang ngày càng rõ nét và lan rộng trên nhiều mặt trong đời sống KT-XH của đất nước ta.
Tuy vậy không phải ở bất cứ đâu, thời gian nào hoạt động này cũng đưa lại kết quả như mong muốn và so với mục tiêu nhà nước ta đã đề ra cho FDI htì không phải dự án nào cũng đạt được. Điều này là khó tránh khỏi đối với chúnh ta ở giai đoạn đầu. Tuy niên có thể nói rằng đây là một lĩnh vực còn khá mới mẻ đối với nước ta (chưa đầy 20 năm). Mặt khác nhu cầu thu hút vốn nước ngoài của Việt Nam còn lớn, cơ sở cho hoạt động đầu tu nước ngoài lại thiếu thốn nên Việt Nam chưa có điều kiện lựa chọn, do đó có những dự án chỉ đạt được một hoặc một số mục tiêu nhưng hoàn cảnh buộc chính phủ ta chấp nhận. Qúa trình thực hiện FDI trong thời gian qua bộc lộ một số vấn đề sau cần quan tâm giải quyết:
2.3.1 Vấn đề về một số quan hệ trong liên doanh
a. Quan hệ giữa phương thức góp vốn và lợi ích của các bên đối tác đầu tư
Thực tế về phương thức và việc thực hiện góp vốn là việc góp vốn của bên Việt Nam thường được thực hiện một lần ngay khi dự án bắt đầu triển khia xây dựng cơ bản, trong khi đó việc góp vốn của bên nước ngoài thường được thực hiện rải ra trong một thời gian dài. Như vậy, có những thời kỳ tỷ lệ góp vốn thực tế của Việt Nam cao hơn hẳn bên nước ngoài, nhưng theo quy định thì lợi ích mà hai bên được hưởng cũng như vị thế trong điều hành hoạt động của lien doanh lại theo tỷ lệ với phần vốn pháp định đã được ghi trong giấy phép đầu tư. điều này một mặt gây thua thiệt cho bên Việt Nam cả về kinh tế lẫn quyền điều hành liên doanh, mặt khác làm mất đi yếu tố kinh tế để ràng buộc và thúc đẩy bên nước ngoài thực hiện việc góp vốn đầy đủ và đúng tiến độ.
Việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất trong hoàn cảnh thiếu vốn và các nguồn lực khác là cách tạo thêm diều kiện để phía Việt Nam tham gia vào liên doanh, nhưng có nhược điểm là khi cần khuyến khích cần khuyến khích đầu tư chính phủ Việt Nam tiến hành giảmt giá thuê đất, điều này đồng nghỉa với việc chúng ta chấp nhận giảm xuông về quy mô gốp vốn của phía Việt Nam trong một liên doanh nào đó và việc này đã tồn tại ởm một số cơ quan, doanh nghiệp…Khi đang chiếm giữ được một diện tích đất đai nào đó, họ sẵn sàng mời chào, kêu gọi đầu tư nước ngoài, bất chấp những dự án mà họ thamgia đàm phán có liên quan đến chuyên môn, hiểu biết hay kinh nghiệm của cơ quan doanh nghiệp mình không. Kết quả là nếu dự án thành hiện thực thì không những hoạt động của liên doanh đó rất kém hiệu quả mà rất có thể làm tổn hại đến lợi ích chung của đất nước ta.Kết cục , nếu dự án đầu tư trở thành hiện thực, thì không những hoạt động của liên doanh đó rất kém hiệu quả mà cũng rất có thể làm tổn hại đến lợi ích chung của đất nước ta; hơn nữa số cán bộ của bên việtnam ổ dạng này, do không có chuyên môn và sự am hiểu nên không có khả năng tham gia điều hành liên doanh, đã trở thành những bên đối tác lệ thuộc và làm thuê cho chủ đầu tư nưức ngoài.
Trên thực tế vừa qua, việc góp vốn bằng thiết bị, máy móc, nhà xưởng, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật… bên Việt Nam chỉ mới có được một số nhà xưởng, công trình (cũ), số còn lại chủ yếu là của bên nưức ngoài. Thu hút máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ… hiện đại từ các nhà đầu tư nước ngoài là mong muốn và là những điều đạt được đáng phấn khởi của Việt Nam trong thời gian qua. Tuy vậy, do thiếu chặt chẽ trong quản lý, yếu trong khả năng kiểm tra kiểm soát… của bên Việt Nam nên vẫn tồn tại bên nước ngoài đưa vào thực hiện những dự ná đầu tư những thiết bị kém chất lượng hơn dự kiến, không những thế một số trường hợp còn khai tăng giá so với giá trị thực của thiết bị; hoặc như trong việ chuyển giao công nghệ, ở một số trường hợp, mặc dù công nghệ đã loại phổ biến như bên Việt Nam bị ép buộc phải chấp nhận và chịu lệ phí chuyển giao công nghệ. Trong trường hợp này, ta thấy quy luật kinh tế vận động theo hướng thu lợi (hay thua thiệt) với cấp số nhân, tức là nếu việc tăng giá (hay chịu lệ phí chuyển giao công nghệ) thực hiên trong việc mua bán thiết bị (công nghệ) thì mức độ có lợi (thiệt hại) chỉ diễn ra một lần qua trao đổi, nhưng khi số giá trị này đưa vào trong việc góp vốn (và nếu liên doanh hoạt động có lãi) thì việc bên nước ngoài thu lợi còn bên Việt Nam chịu thiệt sẽ diễn ra trong cả qua trình hoạt đôngj sản xuất-kinh doanh của dự án và bên nước ngoài lợi bao nhiêu thì bên Việt Nam thiệt bấy nhiêu.
b. Về vấn đề con ngưòi trong mối quan hệ giữa thực lực với vị trí và một số tranh chấp của các bên đối tác trong liên doanh
Trong hầu hết các dự án được triển khai hoạt động vào thời kỳ đầu thì không chỉ riêng số cán bộ thuộc các cơ quan, doanh nghiệp tham gia liên doanhđơn thuần bằng quyền sử dụng đất mà nhìn chung số cán bộ của bên Việt Nam trong các liên doanh đều là những người xuất thân hoặc từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc từ các doanh nghiệp nhà nước ít năng động và yếu kém hay nói cách khác đó là những doanh nghiệp ít vốn, kỹ thuật công nghệ lạc hậu, chưa thích nghi được với cơ chế thị trường… Bản thân một số cán bộ trong diện này chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về tổ chức, hoạt động của nền kinh tế hiện đại nên họ rất thiếu kiến thức trong giao dịch, thương lượng hợp đồng , tổ chức quản lý SXKD cũng như kiểm soát hoạt động của liên doanh. Sự chênh lệch về trình độ đã dẫn đến tình trạng hoặc bên Việt Nam mất quyền đièu hành chi phối và lệ thuộc vào cách điều hành liên doanh của bên nước ngoài hoặc làm nảy sinh những tramh chấp khó giải quyết. Khi những đại diện cho bên Việt Nam tham gia vào bộ máy của liên doanh chưa khẳng định được vị trí của mình thì theo logic, họ cũng dễ mất khả năng đứng ra bẩo vệ các quyền lợi chính đáng của công nhân Việt Nam. Trong khi đó,với mục đích thu lợi nhuận cao nên một số nhà đầu tư nước ngoài đã cố tình không thực hiện một số chế độ theo qui định như kéo dài thời gian lao động, trả lương thấp hơn mức tối thiểu, không thực hiện các chế đọ bảo hiểm,…không những thế họ còn có biểu hiện đối xử không tốt với người Việt Nam. Về phía người lao động Việt Nam thì còn có nhiều người thiếu về pháp luật, nhất là luật lao động nên có những đòi hỏi khôgn phù hợp với lợi ích của mình . những điều nêu trên là nguyên nhân cơ của đến mâu thuẫn giữa giới chủ với người lao động dẫn đến việc tranh chấp căng thẳng trong một số doanh nghiệp FDI.
c. Việc tiêu thụ sản phẩm
Trong liên doanh, do bên Việt Nam chưa có khả năng tạo ra
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- C0258.doc