Giáo trình Atlas các bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam giai đoạn 2000-2011

Định nghĩa:

Bản đồ thể hiện phạm vi bao phủ với ba liều

của vắc xin kết hợp bạch hầu, uốn ván và ho

gà - (DTP3) ở trẻ sơ sinh (tuổi <1 năm). Nó là

vác xin 3 trong 1 được tiêm 3 lần trong năm đầu

tiên. Vắc xin này giá rẻ, sẵn có và là một phần

của lịch tiêm chủng trẻ em được WHO khuyến

cáo kể từ khi Chương trình Tiêm chủng Mở

rộng (EPI) bắt đầu vào năm 1974. Vì vậy sự bao

phủ của DTP3 thường được sử dụng để giám sát

hiệu suất tổng thể của chương trình tiêm chủng

quốc gia. Các chương trình tiêm chủng mở rộng

đã được áp dụng tại Việt Nam vào năm 1981 và

DTP đã được sử dụng vào năm 1985.

Xu hướng:

Tại Việt Nam có mức gia tăng nhanh mức độ

bao phủ của các vắc xin theo lịch TCMR từ năm

1986 đến năm 1990, với DTP3 tăng từ 43% đến

87%: DTP3 đã vượt quá 90% kể từ năm 2003.

Cho đến gần đây Việt Nam đã sản xuất được

DTP trong nước, nhưng từ năm 2010 chuyển

sang vắc xin 5 trong 1 kết hợp DTP – viêm gan

B-Hib. Mức độ bao phủ tiêm chủng ở Việt Nam

vẫn còn rất cao và đã chứng minh cho sức mạnh

của hệ thống y tế công cộng trong việc tiếp cận

phần lớn các quần thể đích. Tuy nhiên bản đồ

cho thấy những thách thức trong việc duy trì

mức độ bao phủ cao của vác xin tại những khu

vực nông thôn khó tiếp cận. Những thách thức

khác cho chương trình tiêm chủng quốc gia bao

gồm các tác động của các tác dụng phụ, nhận

thức về an toàn vắc xin và vai trò ngày càng

tăng của khu vực y tế tư nhân.

pdf133 trang | Chia sẻ: trungkhoi17 | Ngày: 20/09/2021 | Lượt xem: 182 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giáo trình Atlas các bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam giai đoạn 2000-2011, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
years. This declining fertility coupled with an increase in life expectancy has led to an aging population, with a smaller proportion of the population in the younger age groups. The share of the population below 15 years of age has declined from 33% in 1999 to 25% in 2009. As well as an ageing population, Vietnam’s population is also urbanizing. During the period 1999–2009, the average annual population growth in urban areas was 3.4%, compared to 0.4% in rural areas. Of the population increase of 9.47 million persons occurring between 1999- 2009, 77% was accounted for by increases in urban areas. However, the population remains mostly rural, with 30% of the population living in urban areas in 2009. Định nghĩa: Bản đồ thể hiện sự phân bố dân cư ở Việt Nam năm 2009, lấy từ “Tổng điều tra dân số và nhà ở” năm 2009, Tổng cục thống kê Xu hướng: Theo kết quả “Tổng điều tra dân số và nhà ở”, dân số Việt Nam đến thời điểm 1 tháng 4 năm 2009 là 85,789,573 người, là quốc gia đông dân thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á chỉ sau Indonesia, Philippines và là quốc gia đông dân thứ 13 thế giới. Mật độ dân cư là 259 người/km2, đứng thứ 3 Đông Nam Á (chỉ sau Philippines và Singapore). Tuy vậy sự phân bố dân cư lại rất đa dạng với tỷ lệ 43% dân số sinh sống tại khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Mê Kông. Tỷ lệ gia tăng dân số phần nào thể hiện sự phát triển kinh tế của quốc gia, tỷ lệ tăng dân số tại những nước nghèo là gấp đôi so với những nước phát triển. Trong giai đoạn từ 1999 đến 2009, tỷ lệ tăng dân số trung bình của Việt Nam vào khoảng 1,2% mỗi năm (trung bình 947 nghìn người mỗi năm) và đây là giai đoạn có tỷ lệ tăng dân số thấp nhất trong 30 năm. Điều này cùng với tuổi thọ trung bình gia tăng đã dẫn đến cấu trúc dân số già, chỉ có một phần nhỏ dân số trẻ. Trong đó, nhóm dân cư dưới 15 tuổi đã giảm từ 33% năm 1999 xuống 25% vào năm 2009. Cùng với tuổi thọ dân số gia tăng, Việt Nam cũng phải đối mặt với tình trạng gia tăng dân cư khu vực đô thị. Cũng trong giai đoạn 1999– 2009, sự gia tăng dân cư đô thị trung bình hàng năm là 3.4% so với 0.4% của khu vực nông thôn. Trong 10 năm, dân cư tăng thêm 9.47 triệu người, có đến 77% ghi nhận tại khu vực đô thị. Tuy vậy, phần lớn dân cư vẫn tập trung tại khu vực nông thôn và chỉ có 30% dân số sinh sống tại các khu vực đô thị (số liệu năm 2009). Tầm quan trọng đối với bệnh truyền nhiễm: Nhiều ý kiến đưa ra rằng nếu dân số gia tăng quá khả năng cung cấp của tài nguyên thiên nhiên sẽ chắc chắn dẫn đến hậu quả là chiến Subject: Population distribution Chủ đề: Phân bố dân cư 65 Significance for infectious diseases: It has long been argued that war, famine and disease are an inevitable consequence when population density exceeds the natural carrying capacity of the ecosystem. However there is the ability of technological, commercial and social advances to sustain ever-increasing population densities. Although the size and demographic profile of populations influence the infectious diseases that thrive, densely populated countries can be healthy. For health policy makers, a distinction is needed between the risk of infection, which may be greatest in poor rural areas, and the overall burden, which may be greatest in densely populated areas. Map sources: The final results of the 2009 Vietnam Population and Housing Census. Vietnam General Statistics Office, Hanoi, 2010. The data was collected by population and housing census questionnaire in each household in April 2009. tranh, đói nghèo và bệnh tật. Tuy nhiên sự tiến bộ trong khoa học kỹ thuật, xã hội và thương mại vẫn có thể đảm bảo sự cân bằng với tốc độ gia tăng không ngừng của dân số và mật độ dân số. Bất chấp cấu trúc và tính chất nhân khẩu học của dân số ảnh hưởng tới các bệnh truyền nhiễm, tình trạng sức khoẻ của các quốc gia đông dân cư có thể tốt. Với những người làm chính sách y tế, cần có cái nhìn sâu sắc và cụ thể nhằm phân biệt rõ giữa những nguy cơ về bệnh truyền nhiễm tại khu vực nông thôn khó khăn và gánh nặng chung tại những khu vực có mật độ dân cư cao. Nguồn bản đồ: Số liệu của cuộc tổng điều tra dân số năm 2009, Tổng cục thống kê. Số liệu được thu thập từ phiếu điều tra dân số và nhà ở tại từng hộ gia đình tháng 4 năm 2009. Key references/Tài liệu tham khảo chính: - The 2009 Vietnam Population and Housing Census. Final Results. Vietnam General Statistics Office, Hanoi, 2010. - United Nations, Department of Economic and Social Affairs, Population Division: World Population Prospects: The 2008 Revision. New York, 2008. - United Nations, Department of Economic and Social Affairs, Population Division: World Urbanization Prospects, the 2009 Revision: Highlights. New York, 2010 - Wertheim H, Horby P, Woodall J (2012). Atlas of Infectious Diseases. Wiley-Blackwell, Oxford, United Kingdom Subject: Population distribution Chủ đề: Phân bố dân cư 66 Subject: Poverty rate Chủ đề: Tỷ lệ hộ nghèo 67 Definition: The map opposite shows the proportion of the population estimated to live in poverty by district in 2009. Poverty is derived using data from the 2009 Population and Housing Census and the 2010 Vietnam Household Living Standard Survey. Trends: Vietnam has been highly successful in reducing poverty, becoming a lower middle-income country with per capita income of $1,130 by the end of 2010, and achieving Millenium Development Goal 1 (Eradicate Extreme Poverty and Hunger) ahead of the 2015 deadline. From a poverty rate of 58.1 percent in 1993, Viet Nam successfully reduced poverty to an estimated rate of 14.5 percent in 2008 – a reduction of 75 percent. Vietnam’s poverty alleviation policies have been widely praised and Vietnam has been more successful than most countries in achieving equitable development. Nevertheless, economic development has not benefited everyone equally. Poverty in Vietnam is highly geographical, with the remote mountainous regions of the North and Central Highlands being the poorest areas, and the Red River Delta and Mekong Delta are more prosperous. However, because population density is far higher in the Red River and Mekong Delta’s, a large proportion of all the poor people in Vietnam live in the deltas. Ethnic minority populations are concentrated in the remote rural areas where poverty is greatest, and within these poor areas poverty is more common in ethnic minority households compared to Kinh and Hoa households. As of 2008, 50 percent of ethnic minorities were still living below the general poverty line, and up to 31 percent suffered from food poverty. Significance for infections: Poverty is the single most important global Định nghĩa: Bản đồ thể hiện tỷ lệ hộ nghèo theo khu vực trong năm 2009. Tình trạng nghèo được lấy từ “Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009” và điều tra mức sống hộ gia đình năm 2010. Xu hướng: Việt Nam đã có những nhiều tiến bộ trong việc giảm nghèo, trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp với thu nhập bình quân đầu người đạt mức 1,130$ vào cuối năm 2010, và hoàn thành mục tiêu thiên niên kỷ số 1 (xóa đói giảm nghèo) trước thời hạn 2015. Tỷ lệ nghèo của quốc gia đã giảm 75%, từ mức 58,1% năm 1993 xuống chỉ còn 14,5% năm 2008. Những chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam được đánh giá rất cao và Việt Nam đã thành công hơn rất nhiều nước khác trong việc đạt được sự phát triển công bằng. Tuy vậy, không phải tất cả mọi người được hưởng lợi ngang nhau từ những phát triển kinh tế. Tình trạng nghèo đói ở Việt Nam vẫn còn mang nặng tính vùng miền, những khu vực vùng núi xa xôi phía Bắc hoặc Tây Nguyên là khu vực có tỷ lệ nghèo đói cao nhất trong khi khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Mê Kông là thịnh vượng hơn. Tuy vậy, mật độ dân cư tại khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Mê Kông lại rất cao, do đó vẫn có một tỷ lệ cao dân cư sống trong tình trạng nghèo tập trung tại các khu vực đồng bằng này. Cộng đồng dân tộc thiểu số sống tại những khu vực nông thôn xa xôi nơi có mức sống thấp nhất; ngay cả trong khu vực nghèo này, các hộ gia đình dân tộc thiểu số vẫn có mức sống thấp hơn so với hộ gia đình người Kinh hoặc người Hoa. Trong năm 2008, 50% số người dân tộc thiểu số vẫn sống dưới mức nghèo và trên 31% chịu cảnh thiếu đói. Tầm quan trọng đối với bệnh truyền nhiễm: Nghèo đói là tác nhân quyết định toàn cầu quan trọng nhất của nguy cơ bệnh truyền nhiễm. Nghèo đói là một nhân tố của một chùm dấu Subject: Poverty rate Chủ đề: Tỷ lệ hộ nghèo 68 determinant of infectious disease risk. Poverty is a marker of a constellation of vulnerabilities that includes environmental, sanitary, nutritional, behavioral and health care access components. But poverty is also both the result and a cause of poor governance structures, a condition which is accompanied by weak preventive and curative health systems, food insecurity and internal social disruption. In general, infectious diseases remain a significant health problem in countries with low GDP, where as non-communicable diseases dominate the illness landscape of richer nations. The epidemiological transition, from infectious diseases to non-communicable diseases, is not however always smooth and many countries experience a period of a ‘double-burden’ where infectious diseases predominate in certain risk groups whilst non-communicable diseases begin to burden more affluent sectors of society. Achieving continued reductions in poverty is probably the most effective intervention to reduce the global burden of infectious diseases. Map sources: Lanjouw, Peter & Marra, Marleen & Nguyen, Cuong, 2013. “Vietnam’s evolving poverty map: patterns and implications for policy,” Policy Research Working Paper Series 6355, The World Bank This study uses two data sets. The first is the 15-percent sample of the Vietnam Population and Housing Census (VPHC). The 2009 VPHC was conducted by the General Statistics Office of Vietnam in April 2009 The second dataset is the 2010 Vietnam Household Living Standard Survey (VHLSS). The 2010 VHLSS was also conducted by GSO with technical support from the World Bank in Vietnam. hiệu cho tình trạng dễ bị tôn thương bao gồm môi trường, tình trạng vệ sinh, chế độ dinh dưỡng, thái độ và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Nghèo đói vừa là nguyên nhân lại vừa là kết quả của những cấu trúc quản lý yếu, một tình trạng mà trong đó đồng hành cùng với những hệ thống y tế dự phòng và chữa trị kém, mất an ninh lương thực và cả những phân hóa trong lòng xã hội. Nhìn chung, bệnh truyền nhiễm vẫn là vấn đề y tế lớn đối với những quốc gia có GDP thấp, trong khi đó bệnh không truyền nhiễm chiếm chủ đạo trong bối cảnh bệnh của những quốc gia giàu có hơn. Sự chuyển giao về mặt dịch tễ học, từ những bệnh truyền nhiễm sang những bệnh không lây, tuy nhiên, thường không dễ dàng, nhiều quốc gia trải qua một khoảng thời gian của một “gánh nặng kép”, khi mà những bệnh truyền nhiễm vẫn chiếm ưu thế ở một nhóm nguy cơ nhất định trong khi những bệnh không lây cũng bắt đầu trở thành gánh nặng với tầng lớp giàu có hơn của xã hội. Kết luận lại, duy trì những thành tích đạt được trong xóa đói giảm nghèo chính là biện pháp hiệu quả nhất để giảm gánh nặng bệnh truyền nhiễm toàn cầu. Nguồn bản đồ: Lanjouw, Peter & Marra, Marleen & Nguyen, Cuong, 2013. “Vietnam’s evolving poverty map: patterns and implications for policy,” Policy Research Working Paper Series 6355, The World Bank Nghiên cứu trong bài báo sử dụng hai nguồn số liệu. Nguồn thứ nhất bao gồm 15% mẫu của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được tiến hành bởi Tổng cục thống kê vào tháng tư năm 2009. Nguồn số liệu thứ hai từ Khảo sát tiêu chuẩn mức sống của các hộ gia đình do Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới tại Việt Nam. Subject: Poverty rate Chủ đề: Tỷ lệ hộ nghèo 69 Key references/Tài liệu tham khảo chính: - Rural Poverty and Inequality Maps in Vietnam: Estimation using Vietnam Household Living Standard Survey 2006 and Rural Agriculture and Fishery Census 2006. MPRA Paper No. 36378. Online at - World Development Indicators. World Bank 2010. ISBN 978-0-8213-8232-5 - Human Development Report 2009. Overcoming barriers: Human mobility and development. UNDP 2009. ISBN 978-0-230-23904-3 - Lanjouw, Peter & Marra, Marleen & Nguyen, Cuong, 2013. “Vietnam’s evolving poverty map : patterns and implications for policy,” Policy Research Working Paper Series 6355, The World Bank - Wertheim H, Horby P, Woodall J (2012). Atlas of Infectious Diseases. Wiley-Blackwell, Oxford, United Kingdom. Subject: Poverty rate Chủ đề: Tỷ lệ hộ nghèo 70 Subject: Poultry density Chủ đề: Mật độ gia cầm 71 Definition: The maps show the distribution and density of do- mestic poultry. Trends: Due to the increase in global human population and economic development, demand for livestock products has risen dramatically over the last 50 years, with the per capita consumption of meat in developing countries more than tripling since the early 1960’s and egg consumption increas- ing fivefold. The increased demand for meat has been met by more intensive and geographically concentrated production of livestock, especially pigs and poultry. In Vietnam, the highest propor- tion of households engaged in animal husbandry are located in the mountainous areas. In the Red River and Mekong River deltas, the percentage of rural households with animal husbandry are generally below 10%. Small scale farmers are be- ing replaced by larger industrial farms (particular pig and poultry). In southern Vietnam the house- holds are typically engaged with large-scale ani- mal husbandry, mainly poultry. In the north, more households are raising pigs: 70-80% of rural households as compared to 20-30% in southern Vietnam. In Vietnam about 84% of rural house- holds hold poultry: in north 70-80% and in south 40-60%. In the north most rural households keep small numbers of poultry for domestic use. In the south the poultry keeping households are often more industrial large scale farms. Like pigs, poul- try follows the human population distribution. Highest number of poultry is found in southern Vietnam. Significance for infections: Though this map only depicts poultry livestock, we will provide some brief information on the significance of livestock in general for infections. It has been proposed that the domestication of livestock around 10,000 years ago was a major factor behind the adaptation and emergence of many infections that are now well established in humans, like measles. Today, livestock can be the source of a wide range of zoonotic infections. High-density monoculture of domestic animals is Định nghĩa: Những bản đồ này thể hiện sự phân bố và mật độ gia cầm. Xu hướng: Dân số toàn cầu gia tăng và sự phát triển kinh tế là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng đáng kể về nhu cầu đối với các sản phẩm của ngành chăn nuôi gia súc trong 50 năm qua. Ước tính tại các quốc gia đang phát triển, mức tiêu thụ bình quân đối với thịt lợn tăng gấp 3 lần và đối với trứng tăng gấp 5 lần so với đầu những năm 1960. Để đáp ứng nhu cầu này các quốc gia đã phải tăng năng suất chăn nuôi và cả hình thành những khu chăn nuôi tập trung, đặc biệt đối với lợn và gia cầm. Ở Việt Nam, tỷ lệ chăn nuôi quy mô gia đình nhỏ lẻ chủ yếu tập trung ở các vùng miền núi. Ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ của các hộ gia đình với chăn nuôi thường là thấp hơn 10%. Các nông hộ quy mô nhỏ đang được thay thế bởi các trang trại công nghiệp quy mô lớn (đặc biệt là lợn và gia cẩm). Ở miền nam các hộ gia đình thường có xu hướng đầu tư với quy mô lớn, chủ yếu là chăn nuôi gia cầm. Ở miền bắc tỷ lệ hộ gia đình chăn nuôi lợn có xu hướng tăng cao; 70-80% của nông hộ so với chỉ 20-30% của khu vực miền Nam. Ở nông thôn Việt Nam có 84% hộ gia đình chăn nuôi gia cầm; miền Bắc 70-80% và miền nam là 40-60%. Ở miền bắc các nông hộ nuôi gia cầm ở quy mô nhỏ chủ yếu cung cấp thị trường nội địa. Ở miền Nam các nông hộ chăn nuôi gia cầm thường là quy mô trang trại công nghiệp lớn. Tương tự như chăn nuôi lợn, gia cầm được chăn nuôi cũng phụ thuộc vào phân bố dân số. Số lượng gia cầm lớn nhất là ở khu vực miền Nam. Tầm quan trọng đối với bệnh truyền nhiễm: Trên bản đồ, bên cạnh thông tin về đàn gia cầm còn có những thông tin cơ bản về mối liên quan giữa đàn gia cầm nói chung với các bệnh truyền nhiễm. Có giả thuyết cho rằng phương thức chăn nuôi gia súc khoảng 10 ngàn năm trước đây là một yếu tố chính của việc thích ứng và lây lan của các tác nhân nhiễm trùng đã hình thành từ lâu ở quần thể người, như bệnh sởi. Ngày nay, chăn nuôi gia súc là nguồn của các bệnh truyền Subject: Poultry density Chủ đề: Mật độ gia cầm 72 a form of low biodiversity that poses a particular threat for the spread of infectious diseases from farmed animals to humans. Where domesticated animals are a conduit of spread from wild animals to humans, high density livestock production may promote spread of zoonotic diseases. Genetic di- versity within an individual host species is impor- tant since genetic diversity limits the potential for devastating epidemics. The best known example of zoonotic infections from poultry in Vietnam is avian influenza (influenza A/H5N1, see avian in- fluenza map).. Influenza is interesting since wild birds are the natural reservoir and it is also en- demic in human populations, with livestock (pigs and poultry) acting as intermediary hosts and ‘mixing vessels’. Other examples of infectious diseases from poultry is campylobacteriosis by eating undercooked poultry meat or salmonellosis (inadequately heated eggs or other contaminated food stuffs). The widespread use of antimicrobials in animal production for prevention and treatment of infection, and for growth promotion, presents a risk of the development and transfer of antimi- crobial resistance. The intensification of livestock production systems can improve food safety but can also introduce new risks by increasing the interaction between livestock and wild animal reservoirs, whilst sophisticated production and distribution chains can increase opportunities for rapid dispersal of pathogens. Map sources: Poultry data is from 2005 census, Department of Animal Health- Ministry of Agriculture and Rural Development and General Statistics Office. The data was collectednthrough household and farm surveys between April 2005 an1 October 2005. nhiễm khác nhau có nguồn gốc từ động vật.Hình thức độc canh mức độ cao đối với một số loài động vật dẫn đến mức đa dạng sinh học thấp và là mối đe dọa lan truyền bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người. Tại những nơi gia súc là trung gian lây truyền bệnh từ động vật hoang dã sang người, mật độ chăn nuôi gia súc cao làm tăng sự lây truyền của các bệnh có nguồn gốc động vật. Tính đa dạng sinh học về nguồn gen của những loài vật chủ cụ thể rất quan trọng bởi lẽ tính đa dạng làm giới hạn nguy cơ phát tán dịch bệnh. Ví dụ sinh động nhất về bệnh lây truyền qua gia súc tại Việt Nam là Cúm gia cầm (cúm A/H5N1, trong bản đồ cúm gia cầm). Vi rút cúm đang được quan tâm do các loài chim hoang dã là ổ chứa tự nhiên và nó cũng là bệnh dịch trong quần thể người, với gia súc (lợn và gà) đóng vai trò vật chủ trung gian và “bình trộn”. Ví dụ khác là bệnh viêm dạ dày vi khuẩn campylobacter do ăn thịt gia cầm chưa nấu chín hoặc nhiễm Salmonella (Trứng chưa chín kĩ hoặc các loại thức ăn nhiễm khuẩn). Việc sử dụng kháng sinh để phòng và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn ở đàn gia súc cũng như thuốc tăng trưởng là một nguy cơ của việc phát triển và truyền việc kháng thuốc kháng sinh. Việc đẩy mạnh hệ thống chăn nuôi có thể cải thiện an toàn thực phẩm nhưng cũng có thể tạo lên những nguy cơ mới bởi tăng sự tương tác giữa động vật nuôi và các ổ chứa động vật hoang dã, trong khi đó những chuỗi sản xuất và cung ứng thực phẩm nguỵ biện có thể tăng những cơ hội cho việc lây lan nhanh chóng các tác nhân. Nguồn bản đồ: Dữ liệu về gia cầm từ Tổng điều tra 2005, Cục Thú Y, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Tổng Cục Thống kê. Số liệu đã được thu thập từ điều tra các hộ gia đình và trang trại vào 04/2005 đến 10/2005 Key references/Tài liệu tham khảo chính: - Food and Agriculture Organization. (2009) The state of food and agriculture – livestock in the balance. FAO Report. - Epprecht M and Robinson T (Eds). (2007) Agricultural atlas of Vietnam.Cartographic Publishing House. - Wint GRW,et al. (2007) Gridded livestock of the world 2007. FAO Report. - Wertheim H, Horby P, Woodall J (2012). Atlas of Infectious Diseases. Wiley-Blackwell, Oxford, United Kingdom. Subject: Poultry density Chủ đề: Mật độ gia cầm 73 Subject: Undernutrition Chủ đề: Tình trạng suy dinh dưỡng 74 Definitions: A person has under nutrition if their diet does not contain sufficient protein and calories for growth or maintenance, or if they are not able to absorb sufficient protein and calories because of ill health. Under-nutrition manifests as low weight for age (underweight), low weight for height (wasted), or low height for age (stunted). The prevalence of stunting is a good measure of chronic undernutrition and the damage stunting causes to a child’s development is permanent. A person has overnutrition if their diet supplies more calories and protein than they require, leading to unhealthy weight gain. The term malnutrition encompasses both under- nutrition and over-nutrition. The map shows the prevalence of moderate and severe stunting, underweight and wasting in children less than 5 years of age in 2010 from Nutrition surveillance survey (National Institute of Nutriton) and sentinel survey (General Statistic Office). Trends: In the past, the Vietnamese people had very high rates of undernutrition but Vietnam has made substantial progress in improving the nutritional status of children over the past decade. The prevalence of underweight in children under 5 has reduced on average by 1.5% annually, from 31.9% in 2001, to 25.2% in 2005, and 17.5% in 2010. The prevalence of stunting in children under 5 has also been reduced, from 43.3% in 2000 to 29.3% in 2010. However, Vietnam remains among the 36 countries with the highest stunting rates in the world, with the prevalence of stunting being ≥ 30% in 33 provinces, and 1 in 3 Vietnamese children failing to reach their full height potential. The highest prevalence of undernutrition is in the remote and hard to reach Northern Mountainous Area and the Central Highlands. In these areas, under- nutrition is concentrated in ethnic minority populations. The rate of overweight and obesity among children aged under 5 years is 5.6% and is 6 times higher than the rate in 2000. In Định nghĩa: Suy dinh dưỡng là tình trạng mà chế độ ăn của một người không cung cấp đầy đủ chất đạm (protein) và năng lượng (calo) cho sự sống và phát triển, hoặc người đó không có khả năng hấp thu chất đạm và năng lượng cần thiết do tình trạng bệnh lý. Suy dinh dưỡng thể hiện ở tình trạng: Nhẹ cân so với tuổi (Nhẹ cân), nhẹ cân so với chiều cao (Gầy còm) hoặc thấp bé hơn so với tuổi (Thấp còi)”. Tỷ lệ nhẹ cân so với chiều cao (Thấp còi) là một chỉ số về tình trạng suy dinh dưỡng mãn tính có ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển thể lực và trí tuệ của trẻ. Thừa dinh dưỡng là tình trạng nếu chế độ ăn của người đó cung cấp quá nhu cầu protein và calo, dẫn đến quá cân. Thuật ngữ rối loạn dinh dưỡng bao gồm cả suy dinh dưỡng và thừa dinh dưỡng. Bản đồ cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao của trẻ dưới 5 tuổi theo điều tra giám sát dinh dưỡng (của Viện Dinh dưỡng Quốc gia) và điều tra điểm (Tổng Cục Thống Kê) năm 2010. Xu hướng: Trước đây, tỷ lệ người dân Việt Nam bị suy dinh dưỡng là rất cao tuy nhiên nhờ những thành tựu quan trọng được thực hiện trong suốt hàng chục năm qua, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em đã được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm trung bình 1,5% hàng năm, từ 31,9% năm 2001 xuống 25,2% năm 2005 và 17,5% năm 2010. Tỷ lệ trẻ thấp bé dưới 5 tuổi cũng giảm từ 43,3% năm 2000 xuống 29,3% năm 2010. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn trong nhóm 36 quốc gia có tỷ lệ trẻ thấp còi cao nhất, tỷ lệ trên 30% trong tổng số 33 tỉnh/TP và cứ 1 trên 3 trẻ em không đạt được đủ chiều cao tối đa. Tỷ lệ suy dinh

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfgiao_trinh_atlas_cac_benh_truyen_nhiem_tai_viet_nam_giai_doa.pdf
Tài liệu liên quan