Giáo trình Dinh dưỡng và điều trị

DINH DƯỠNG VỚI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG .9

Phân loại. 11

Nguyên nhân. 11

Triệu chứng . 12

Dinh dưỡng với bệnh tiểu đường . 12

BỆNH TIM MẠCH .17

DINH DƯỠNG VỚI BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH .18

Bệnh động mạch vành . 18

Nguyên nhân. 18

a. Tuổi tác . 19

b. Giới tính. 19

c. Di truyền . 20

d. Chủng tộc . 20

đ. Thuốc lá . 20

e. Béo phì . 20

g. Huyết áp cao . 21

h. Bệnh tiểu đường . 21

i. Ít vận động cơ thể . 21

k. Cao cholesterol . 21

Dinh dưỡng với bệnh động mạch vành . 23

1. Chọn thực phẩm có ít chất béo . 23

2. Giảm chất béo bão hòa . 23

3. Tăng chất béo chưa bão hòa . 24

4. Giảm cholesterol . 24

5. Ăn nhiều cá . 24

6. Tăng lượng chất xơ hòa tan và tinh bột . 25

DINH DƯỠNG VỚI BỆNH HUYẾT ÁP CAO .27

Huyết áp là gì? . 28Dinh dưỡng và điều trị

342

Sự thoái hóa của khớp . 69

Triệu chứng . 71

Điều trị. 72

1. Vật lý trị liệu . 72

2. Vận động . 73

3. Giảm béo phì . 73

4. Dược phẩm . 73

Dinh dưỡng với bệnh viêm khớp xương . 74

Kết luận . 76

DINH DƯỠNG VỚI BỆNH UNG THƯ .77

I. Thực phẩm tăng nguy cơ ung thư . 78

1. Chất béo . 78

2. Chất đạm . 80

3. Carbohydrat . 80

4. Tiêu thụ năng lượng . 81

5. Rượu . 81

6. Chất phụ gia thực phẩm . 81

7. Aflatoxins . 83

8. Thuốc trừ sâu . 83

9. Nấu nướng thực phẩm. 83

10. Cà phê . 84

11. Thuốc lá . 84

II. Dinh dưỡng làm giảm nguy cơ ung thư . 85

1. Vitamin A. 85

2. Vitamin C . 85

3. Vitamin E . 86

4. Calci . 86

5. Selen . 86

6. Chất xơ (fiber) . 87

7. Hợp chất indole . 87

8. Bioflavonoid . 87

III. Những quan niệm sai lầm . 88

IV. Hậu quả của ung thư về mặt dinh dưỡng . 89

V. Ảnh hưởng của điều trị ung thư với dinh dưỡng. 90Dinh dưỡng và điều trị

344

Tiên lượng . 129

Điều trị . 129

Phòng ngừa . 129

IV. Dinh dưỡng với bệnh viêm gan . 129

Bệnh xơ gan . 130

DINH DƯỠNG VỚI BỆNH TÁO BÓN .132

Định nghĩa . 132

Các loại táo bón. 133

Thay đổi chức năng của ruột khi tuổi già . 134

Nguyên nhân. 135

1. Chế độ ăn uống . 135

2. Tác dụng phụ của dược phẩm . 135

3. Các bệnh mạn tính . 136

4. Bệnh tâm thần . 136

5. Ít vận động . 136

Định bệnh . 136

Biến chứng . 137

Điều trị. 138

1. Không dùng dược phẩm . 138

2. Sử dụng dược phẩm . 141

DINH DƯỠNG VỚI SỰ VẬN ĐỘNG CƠ THỂ .144

Carbohydrat . 144

Chất đạm . 146

Chất béo . 146

Nước . 146

Vitamin và khoáng chất . 148

Vài trường hợp đặc biệt . 148

Kết luận . 150

 

pdf173 trang | Chia sẻ: trungkhoi17 | Ngày: 27/09/2021 | Lượt xem: 131 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giáo trình Dinh dưỡng và điều trị, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng máu; 20% còn lại được hấp thụ ở dạ dày. Dinh dưỡng và điều trị 162 – Những khó khăn căng thẳng trong cuộc sống gia đình. – Bệnh hoạn, phải sống phụ thuộc vào người khác. – Buồn rầu, cô đơn, lẻ loi khi mất người bạn đời thân thương, khi bạn bè tâm giao lần lượt ra đi. – Có quá nhiều thời gian nhàn tản, buồn tẻ, bất ổn về tài chính. – Sau khi hưu trí không có sự chuẩn bị chương trình hoạt động hay sinh hoạt bổ ích nào, lại xem như có thời gian rảnh rỗi được tự do vui nhậu với những bạn bè “đồng cảnh”. Dấu hiệu phát hiện người nghiện rượu Có một số dấu hiệu khiến ta nghi ngờ một người uống rượu quá độ: – Sao lãng săn sóc cá nhân, nhà cửa không ngăn nắp, sạch sẽ như trước; – Quên bỏ hẹn ngày khám bệnh, bỏ sinh hoạt thường nhật, không liên hệ với thân nhân, bạn bè; – Giảm khả năng nhận thức, bối rối mất định hướng với những công việc rất thông thường như ngày giờ, sự vật chung quanh; – Hay bị té ngã, gặp tai nạn thương tích; – Kém ăn, thiếu dinh dưỡng, mất ngủ, dễ mắc các bệnh dạ dày, phổi, gan, thiếu máu; dễ nhiễm độc. – Trên cơ thể thấy có những vết da bầm, vết sẹo vì thương tích của té ngã hoặc đập phá trong khi say; da Dinh dưỡng và điều trị 164 Nhưng hệ trọng hơn cả là ảnh hưởng của rượu lên hệ tim mạch, thần kinh, tâm thần: – Huyết áp và bệnh tim tăng đưa đến nhiều nguy cơ tai biến mạch máu não; – Chức năng não bộ suy kém, rối loạn định hướng, không phân biệt sự việc, sa sút trí tuệ, mê sảng, hay buồn ngủ; – Tê yếu ngoại biên, mất thăng bằng đưa đến té ngã; – Thay đổi tâm thần, bị trầm cảm, đôi khi có ý nghĩ quyên sinh. Có tới 13% người trên 65 tuổi bị trầm cảm thường uống rượu, và khi uống rượu nhiều thì bệnh trầm cảm cũng nặng thêm. So với những người cùng độ tuổi không uống rượu, người cao tuổi nghiện rượu thường có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao hơn, và rượu thường là nguyên nhân đưa họ vào các bệnh viện tâm thần, nhà dưỡng lão, bệnh viện đa khoa. Ngoài ra, vấn đề tương tác giữa rượu với các dược phẩm chữa bệnh khác mà người cao tuổi đang dùng cũng cần được lưu ý. Có tới 75% quý vị cao niên thường uống nhiều loại dược phẩm cùng một lúc và một số dược phẩm này khi gặp rượu sẽ gia tăng tác dụng phụ hay độc tính, đặc biệt là các thuốc về thần kinh và thuốc được chuyển hóa tại gan. Dược phẩm có tương tác mạnh với rượu là: Aspirin, Tylenol, thuốc trị bệnh mỡ trong máu, tiểu đường, thuốc chống viêm không có steroid, thuốc an thần nhóm benzodiazepine (Valium, Librium...), một vài loại kháng sinh, thuốc nitroglycerine chữa cơn đau thắt tim. Dinh dưỡng và điều trị 166 – Có bao giờ cụ cảm thấy là cần phải cắt giảm số lượng rượu đang uống không? – Khi bị người khác chỉ chích thói quen uống rượu, cụ có thấy khó chịu không? – Có bao giờ cụ cảm thấy không vui hoặc có cảm giác tội lỗi về sự uống rượu của cụ? – Có bao giờ, vào buổi sáng, cụ thấy cần phải làm một ly để lấy tinh thần hoặc để làm mất đi những hậu quả khó chịu sau khi đã uống quá nhiều rượu? Nếu các cụ trả lời có cho hai câu hỏi trên thì các cụ có vấn đề với rượu rồi; nếu chỉ trả lời có cho một câu hỏi thì cần điều tra thêm. Viện Đại học Michigan cũng đưa ra một bản trắc nghiệm với 22 câu hỏi tập trung vào thói quen uống rượu, loại rượu, ảnh hưởng của rượu trên cơ thể, cảm nghĩ về sự uống rượu... Bản trắc nghiệm này cũng rất hữu ích trong việc phát hiện người nghiện rượu. Điều trị – Cai rượu Cũng như bệnh nghiện rượu ở các tuổi khác, để việc điều trị hữu hiệu người bệnh phải có ý thức cao về vấn nạn của mình, về ảnh hưởng xấu của rượu trên cơ thể, trong nếp sống hằng ngày cũng như nguy cơ có thể trở thành bệnh hoạn, tàn phế vào cuối cuộc đời, nếu không nói là còn bị rút ngắn tuổi thọ. Dinh dưỡng và điều trị 168 và chia sẻ những kinh nghiệm về đời sống, để thấy rằng họ không cô đơn. Hội viên không phải đóng lệ phí, chỉ cần có ý nguyện muốn cai rượu là đủ. – Được thành lập năm 1950, Al–Anon Family Groups là hội của những người không nghiện rượu nhưng có thân nhân nghiện rượu. Họ chia sẻ những kinh nghiệm, khó khăn do người khác gây ra và hỗ trợ lẫn nhau, tạo điều kiện để giúp thân nhân của họ cai nghiện. Tổ chức này hoạt động chia thành hai nhóm là Alateen dành cho những người dưới 21 tuổi và Al-Anon dành cho những người từ 21 tuổi trở lên. Thuốc Disulfam Đây là loại thuốc viên không phải để giúp cai nghiện rượu, mà để ngăn ngừa uống rượu. Tác dụng của thuốc là làm rối loạn sự chuyển hóa của rượu trong gan. Nếu có rượu trong cơ thể, thuốc sẽ gây ra một phản ứng mạnh, khó chịu như ói mửa, nhức đầu, đau bụng, mặt nóng bừng... khiến người dùng thuốc sợ không dám uống rượu nữa. Trong khi uống thuốc này mà dùng nước hoa, kem bôi da, thuốc súc miệng có chất cồn cũng bị phản ứng như trên. Kết luận Những đấng mày râu nghiện rượu thường tự biện hộ bằng câu: “Nam vô tửu như kỳ vô phong.” (Làm trai không uống rượu như lá cờ không có gió.) 170 DINH DƯỠNG VỚI SỰ LÃO HÓA Theo S. Day Olshansky, Trung tâm Lão khoa của Đại học Chicago thì “mọi sự vật đều tan rã dần theo thời gian, cho nên lão hóa là diễn biến không thể đảo ngược được. Đây là sự tích lũy của quá trình thoái hóa diễn ra ngay trong cấu trúc căn bản của các phần tử tạo thành cơ thể. Thoái hóa là sản phẩm của sự tăng trưởng, xảy ra ở người già cũng như người trẻ.” Nhưng người trẻ có thể dễ dàng tái tạo cũng như giới hạn sự thoái hóa ở mức tối thiểu, còn người già thì sự thoái hóa đã đi đến gần giới hạn cuối cùng của nó, nên vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn nhiều. Tuổi già thường đưa tới sự suy yếu của cơ thể. Mà con người thì không những “không muốn già” mà cũng “không muốn yếu”. Nên từ xa xưa đã có rất nhiều cố gắng tìm tòi, nghiên cứu khoa học nhằm chinh phục hoặc trì hoãn sự lão hóa. Mà muốn chinh phục, trì hoãn một trở ngại, bệnh tật nào đó thì điều tất yếu là phải biết rõ căn bệnh đó ra sao, diễn tiến như thế nào, nguyên nhân nằm ở đâu. Về sự lão hóa thì cũng đã có nhiều lý thuyết đưa ra để giải thích lý do, nhưng dường như chưa thuyết nào được đa số các nhà nghiên cứu đồng ý. Cho nên, sự chinh phục tuổi già cũng chỉ là những dò dẫm, ước mong có kết quả. Dinh dưỡng và điều trị 172 Aging Medicine cũng tuyên bố rất lạc quan rằng “một xã hội không tuổi tác đã thực sự bắt đầu với HGH”. Một số nhà khoa học gia tin rằng trong một tương lai không xa, tuổi thọ trung bình của con người sẽ tăng tới 100 tuổi hoặc nhiều hơn nữa. Nhưng trong thực tế đời sống hiện nay, đa số trong chúng ta có thể chống lại tiến trình lão hóa đến mức nào và bằng cách nào? Dưới đây xin trình bày một số vấn đề xem như đáp án cho câu hỏi đó. Hạ nhiệt độ cơ thể Quan sát cho thấy con thằn lằn ở vùng New England lạnh lẽo sống lâu hơn đồng loại ở Florida với khí hậu ôn hòa, và một vài loại cá sống trong hồ nước lạnh có tuổi thọ cao hơn sống trong vùng nước ấm. Từ các nhận xét này, nhiều nhà khoa học gia đã thử nghiệm kéo dài tuổi thọ của súc vật bằng cách hạ nhiệt độ cơ thể xuống từ 3 đến 5 độ. Kết quả ban đầu khá hứa hẹn, và họ đang tiếp tục nghiên cứu ở động vật có xương sống. Nhiều động vật hoang dã đi vào giấc ngủ suốt mùa đông (hibernation) và khi thức dậy chúng rất khỏe mạnh. Ngăn chặn phản ứng gốc tự do Mọi tế bào đều cần đến oxygen để chuyển hóa chất dinh dưỡng thành năng lượng. Đó là phản ứng oxy hóa. Phản ứng này tạo ra các phân tử có số lẻ điện tử gọi là gốc tự do. Gốc tự do có công dụng cho cơ thể, đồng thời cũng gây ra tổn thương cho màng tế bào, chất đạm và nhân DNA. Các gốc này được nhà hóa học Denham Harman coi như là nguyên nhân Dinh dưỡng và điều trị 174 khả năng kéo dài tuổi thọ của các thuốc này và ngần ngại chưa muốn sử dụng kê đơn cho người già muốn sống lâu. Họ chờ kết quả nghiên cứu của khoa học chính xác hơn là “tin đồn”. Sử dụng hormon Với tuổi già, một số hormon trong cơ thể giảm xuống, con người cũng yếu đi. Chẳng hạn như testosteron, hormon tăng trưởng HCG, hormon tuyến thượng thận DHEA. Dựa vào điều đó, nhiều người tin rằng việc bổ sung các hormon nói trên có thể giúp con người trẻ lại, sống lâu hơn. Nhưng việc bổ sung các hormon cũng gây ra tác dụng không tốt cho cơ thể, nên khi dùng cũng cần dè dặt, cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị. Ngoài ra mỗi lần tiêm HCG cũng tốn khá nhiều tiền và không phải chỉ tiêm một lần. Giảm năng lượng tiêu thụ Nghiên cứu tiết giảm năng lượng ở loài khỉ do Viện Lão khoa Hoa Kỳ thực hiện cho thấy: nhóm khỉ giảm tiêu thụ 30% tổng số năng lượng đều nhẹ hơn, nhỏ con hơn nhóm khỉ ăn uống bình thường, nhưng chúng dường như ít bị các bệnh về tim cũng như ung thư. Nghiên cứu đang được tiếp tục để kiểm chứng xem sự tiết giảm năng lượng có làm con người khỏe mạnh hơn và sống lâu hơn hay không. Dinh dưỡng và điều trị 176 Đời sống tinh thần Benjamin Franklin đã nói: “Keep up your spirits, that will keep up your body.” (Hãy giữ vững tinh thần, điều đó sẽ giúp duy trì cơ thể khỏe mạnh.) Trong Cung Oán Ngâm Khúc có câu rằng: Giết nhau chẳng cái dao cầu, Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa. Khoa học cho thấy, khi ta tức giận thì lượng adrenalin trong máu lên cao, huyết áp tăng. Liên tục như vậy thì trái tim sẽ mau suy yếu, sức khỏe sút giảm, tuổi thọ do đó ngắn lại. Cho nên “giữ vững tinh thần” là điều cần làm. Một thái độ sống tích cực, lạc quan cộng với không bệnh tật có tác dụng tốt trên các chức năng tâm thần và thể xác. Và “lạc quan, trường thọ; bi quan, mệnh yểu” là vậy. Một vị hoàng đế hỏi lão sư Chi Po về bí quyết sống lâu, Chi Po đáp: “Con đường đi đến bách niên trường thọ là phối hợp nếp sống tinh thần và thể xác.” Đức tin Niềm tin tôn giáo cũng có ảnh hưởng tới sự sống lâu. Kết quả các nghiên cứu của Jeffrey S. Levin và Harold Y. Vanderpool cho thấy có những ảnh hưởng tốt của đức tin và sự tham gia các nghi lễ tôn giáo đối với nhiều bệnh tật như bệnh tim, huyết áp cao, tai biến mạch máu não, ung thư... và tình trạng sức khỏe toàn diện. Nghiên cứu của các tác giả D. A. Mathews, D. B. Larson và C. P. Barry cho hay yếu tố tinh thần và tôn giáo làm Dinh dưỡng và điều trị 178 Với vận động cơ thể, ta có thể lấy lại một phần sinh lực đã mất cũng như loại bỏ khả năng thể xác tiêu hao do sự ít vận động chứ không phải do sự lão hóa. Nhiều sự kiện thường bị gán cho sự lão hóa, nhưng thực ra lại là do thiếu vận động. Thí dụ một cánh tay gãy bó bột một thời gian, bàn tay teo nhỏ, yếu, nom như già đi, nhưng thực ra không phải do lão hóa mà là do không vận động. Sự không vận động làm cơ thịt và da mềm xệ, xương yếu, hệ thống miễn dịch suy yếu... tất cả đều góp phần đẩy nhanh tiến trình lão hóa. Dinh dưỡng với sự lão hóa Dinh dưỡng đúng hoặc sai có ảnh hưởng rất lớn tới toàn bộ cơ thể con người, từ tinh thần tới thể chất, từ chức năng các cơ quan nội tại cũng như ngoại vi. Hãy so sánh một người thiếu dinh dưỡng với một người ăn uống đầy đủ. Một bên thì hồng hào, đầy sinh lực, yêu đời. Bên kia thì ốm yếu, gầy còm, chậm chạp. Thiếu dinh dưỡng kinh niên thì làm sao có năng lượng để sống lâu, chẳng khác chi ngọn đèn cạn dầu, tắt lụi dần dần. Cho nên biết ăn để mà sống lâu là cả một nghệ thuật. Các cụ ta vẫn nói “Bệnh tùng khẩu nhập”. Bệnh gây ra do những thực phẩm mà ta đưa vào miệng, những thực phẩm quá nhiều hoặc quá ít từ số lượng tới phẩm chất. Vậy thì ăn như thế nào để vừa khỏe mạnh, vừa sống lâu? Khi ăn, không phải chỉ để no bụng cho hôm nay, tuần này mà cần nhớ là ăn cho mai sau, cho sức khỏe của những năm sắp tới. Dinh dưỡng và điều trị 180 có thể trong ngày, trong tuần. Các chuyên gia dinh dưỡng vẫn khuyên nên theo tỷ lệ 30% béo, 15–20% đạm, 45–50% carbohydrat. 3. Đa dạng Đừng để sở thích chi phối hoàn toàn việc chọn lựa món ăn, mà cần phải lưu ý đến việc ăn nhiều món khác nhau. Mỗi một thực phẩm có chất dinh dưỡng với công dụng riêng mà những món khác không có và không thay thế được. Bỏ quên một chất dinh dưỡng nào đó quá lâu sẽ đưa tới thiếu dinh dưỡng. Sau đây là một số hướng dẫn về việc sử dụng các chất dinh dưỡng: a. Chất đạm Đạm gồm có nhiều acid amin, trong đó có một số cơ thể không tự tổng hợp được và phải do thực phẩm cung cấp. Đạm động vật có hầu hết các acid amin, đạm thực vật có thể thiếu một vài loại, nhưng khi ăn nhiều rau trái khác nhau ta sẽ được bổ sung đầy đủ. Khi sử dụng đạm động vật, chúng ta cũng cần lưu ý: – Thịt bò, lợn, cừu thường kèm theo nhiều chất béo. – Thịt gà, gà tây ít béo hơn nếu bỏ da; ăn cá tốt hơn nữa, tôm hơi nhiều cholesterol; – Sữa, trứng, pho mát loại ít béo thì tốt hơn; – Sữa chua giảm cholesterol. – Hạn chế các món chiên rán. Hấp, nướng bỏ lò tốt hơn. Dinh dưỡng và điều trị 182 cung cấp quá nhiều, năng lượng thừa sẽ chuyển thành ra mỡ béo, dẫn đến béo phì. Tiêu thụ nhiều đường cũng dễ gây sâu răng, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường khi tuổi lên cao, làm tăng cholesterol và bệnh tim mạch. e. Muối ăn Muối ăn (NaCl) là thành phần quen thuộc và không thể thiếu trong hầu hết các bữa ăn. Nhưng ăn nhiều muối quá có thể bị huyết áp cao. Thường thì chúng ta ăn nhiều hơn nhu cầu cần thiết của cơ thể chỉ để thỏa mãn khẩu vị, và như vậy là buộc thận phải hoạt động nhiều hơn để bài tiết lượng muối thừa. Khi điều này thường xuyên xảy ra, thận sẽ suy yếu, hư hao. g. Vitamin và khoáng chất Vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể, nhưng điều đó không có nghĩa là việc uống bổ sung các chất này bao giờ cũng tốt cho sức khỏe. Trong thực tế, một người khỏe mạnh với chế độ dinh dưỡng cân đối, đa dạng thì không cần uống thêm vitamin và khoáng chất. Người ăn chay thuần túy rau trái có thể cần dùng thêm vitamin B12, phụ nữ có thai cần thêm folacin, sắt. Một số vitamin như các vitamin C, E, beta caroten hiện nay rất phổ biến. Nhiều người dùng vì tác dụng chống oxy hóa của chúng, nhưng nên tránh dùng liều quá cao. h. Nước Nước rất cần cho hầu hết các chức năng của cơ thể. Nước điều hòa thân nhiệt, chuyên chở chất dinh dưỡng và dưỡng Dinh dưỡng và điều trị 184 2. Thực phẩm có vitamin B5 (pantothenic acid) có khả năng vừa chống gốc tự do vừa làm giảm cholesterol, chống ô nhiễm, bảo vệ gan. Vitamin B5 có nhiều trong men, gạo lức, hạt bí ngô, hạt mè... 3. Vitamin C có nhiều trong trái cam, chanh, dâu, cải lá xanh, cà chua, súp lơ xanh, khoai tây, khoai lang... 4. Vitamin E có trong mầm lúa mạch, đậu nành, bắp su, súp lơ xanh, cải lá xanh... 5. Thực phẩm chứa nhiều calci gồm có sữa ít béo, đậu phộng, sữa chua không béo, quả óc chó (walnut), phó mát, hạt hướng dương, đậu nành, các loại đậu khô, cá đóng hộp (ăn cả xương), cải lá xanh, cá hồi (salmon), súp lơ xanh... 6. Khoáng chất iod có trong tảo bẹ (kelp), hành, các loại hải sản, đa số cải lá xanh... 7. Khoáng chất sắt có nhiều trong sò hến, quả hạch, đào sấy khô, các loại đậu, thịt nạc, măng tây (asparagus), mật mía, trứng, bột yến mạch (oatmeal)... 8. Mầm lúa mạch (wheat germ), cám, cá tuna, hành, cà chua, súp lơ xanh chứa khoáng chất selen. 9. Thực phẩm giàu chất đạm gồm có: cá, tôm cua, sữa ít béo, sữa chua không béo, thịt gà, thịt cừu, thịt bò lọc bỏ bớt mỡ, hạt hướng dương, hạt bí ngô, đậu phộng rang, bơ đậu phộng... 10. Trái cây chống lão suy gồm có: quả kiwi, nho đen Hy Lạp, hồng qua, đu đủ, các loại quả thuộc giống cam quít, dâu, ổi, đào lông (peach), quả xuân đào (nectarine), dưa hấu... Những loại quả này có chứa 186 DINH DƯỠNG VỚI PHỤ NỮ CÓ THAI Khi một người phụ nữ mang thai, những người thân đều cầu chúc cho được “mẹ tròn, con vuông”, ngụ ý là sự sinh nở sẽ được thuận lợi, dễ dàng và cả mẹ lẫn con đều bình an, khỏe mạnh. Nhưng để đạt được như vậy, không chỉ dựa vào những lời cầu chúc, mà còn phải cần đến rất nhiều yếu tố khách quan, trong đó chế độ dinh dưỡng dành cho người phụ nữ có thai đóng một vai trò rất quan trọng. Trước khi mang thai, trong thời kỳ mang thai cũng như khi cho con bú mà người mẹ có một chế độ dinh dưỡng đầy đủ thì cả mẹ lẫn con đều tránh được một số bệnh tật, rủi ro. Đứa con sẽ tròn trĩnh, đủ cân đủ lạng, cơ thể vẹn toàn, trí óc phát triển tốt. Cũng có trường hợp mẹ thiếu dinh dưỡng mà con vẫn khỏe, nhưng thực ra là người mẹ phải trả giá đắt, vì khi thai nhi phát triển đã rút lấy nhiều chất dinh dưỡng từ cơ thể người mẹ. Hơn nữa, sự khỏe mạnh của đứa bé trong trường hợp này chắc chắn chưa phải là tối ưu, vì bé còn có khả năng phát triển tốt hơn nữa nếu như người mẹ có được một chế độ dinh dưỡng đầy đủ. Và chỉ khi đó mới có thể thực sự được xem là “mẹ tròn, con vuông”, tốt đẹp cho cả mẹ lẫn con. Từ thuở xa xưa, các danh y như Hippocrates (460-377 trước Công nguyên), Galen (129-199) đã nhận thấy rằng Dinh dưỡng và điều trị 188 1. Hệ tuần hoàn – Lượng máu lưu thông tăng lên 1/3. – Nhịp tim tăng nhanh, từ 70 lên 85 nhịp một phút. – Khối lượng máu trong cơ thể từ 4 lít tăng lên 5,2 lít; – Khối huyết tương tăng 40%. – Hồng cầu tăng 18%. Các gia tăng này đều là để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho người mẹ và thai nhi. 2. Tuyến nội tiết Có nhiều thay đổi quan trọng a. Nang thượng thận tăng sản xuất hormon aldosterone để giữ nước và muối trong cơ thể nhiều hơn cho nhu cầu của thai nghén. b. Estrogen và progesteron từ noãn sào gia tăng để bảo vệ thai nhi, tránh sẩy thai trong hai tháng đầu. c. Lượng đường cao hơn trong máu người mẹ để nuôi thai nhi, insulin từ tụy tạng gia tăng để kiểm soát ổn định mức đường. d. Tuyến giáp hơi lớn lên để tăng hấp thụ khoáng iod. đ. Progesteron, estrogen, human chorionic gonadotropin từ nhau được sản xuất để duy trì thai trong 8 tuần lễ đầu. e. Sau khi sinh con, tuyến yên tăng sản xuất prolactin để kích thích việc tiết sữa cho con bú. 3. Hệ tiêu hóa Thực phẩm lưu lại dạ dày và ruột lâu hơn để được tiêu hóa kỹ và sự hấp thụ chất dinh dưỡng cao hơn cho nhu cầu Dinh dưỡng và điều trị 190 dùng toàn đạm thực vật sẽ có nguy cơ thiếu một vài loại acid amin cần thiết. Một cách cụ thể, nếu người mẹ uống hai ly sữa, ăn một miếng thịt nạc, miếng cá bằng lòng bàn tay, kèm theo các loại hạt, rau là có thể đủ cho nhu cầu trong ngày. b. Carbohydrat Vì chất đạm được dùng cho sự tăng trưởng tế bào, nên carbohydrat sẽ là nguồn năng lượng chính cho mẹ và con. Carbohydrat nên được sử dụng đa dạng từ gạo còn cám, bánh mì, bột ngũ cốc bổ sung các loại vitamin, rau, trái cây, khoai... c. Chất béo Chất béo rất cần thiết cho sự phát triển của não bộ thai nhi cũng như là nguồn năng lượng quan trọng. d. Nước Nước cần để gia tăng khối lượng máu; tránh khô da, táo bón cũng như tạo ra nước ối che chở phôi thai. đ. Vitamin A Vitamin A giúp da lành mạnh, thị giác tốt và xương mau lớn. Nhu cầu vitamin A khi mang thai không cần gia tăng, chỉ cần giữ đủ như mức bình thường là khoảng 750mcg mỗi ngày. Lượng vitamin A này có thể dễ dàng có được trong phó mát, sữa, bơ, các loại rau trái... Dinh dưỡng và điều trị 192 thai hoặc sinh con nhẹ ký. Nếu chỉ thiếu folacin (acid folic) thì thai nhi dễ bị tật nứt đốt sống (spina bifida), khuyết tật ống thần kinh (neural tube defect). Nhu cầu folacin của người mẹ tăng gấp đôi bình thường hoặc hơn nữa, vào khoảng 400mcg mỗi ngày. Số lượng này được cung cấp đầy đủ trong rau lá xanh, trái cây, gan... Nếu nhiều folacin quá thì sự hấp thụ kẽm sẽ giảm. Nhu cầu vitamin B12 bình thường là 2mcg - 4mcg, khi có thai cần thêm khoảng 0,2mcg mỗi ngày. Vitamin B12 có nhiều trong thực phẩm động vật, nên với những người ăn chay cần uống bổ sung. i. Vitamin C Nhu cầu vitamin C bình thường là 60mg mỗi ngày. Khi mang thai, người mẹ cần tăng thêm khoảng 10mg. Chỉ cần uống một ly nước cam là có thể đáp ứng đủ nhu cầu này. Vitamin C giúp thai nhi phát triển tốt xương và răng lợi, tăng cường hấp thụ khoáng calci và sắt. k. Sắt Sắt là khoáng chất cần thiết cho việc tạo hồng cầu. Nhu cầu sắt lên cao nhất vào 3 tháng cuối của thai kỳ, khi thai nhi cần sắt để dự trữ cho khoảng 6 tháng sau khi sinh, vì trong sữa mẹ có rất ít sắt. Thai nhi ít khi bị thiếu sắt vì có thể lấy ở người mẹ, nhưng cũng vì thế mà người mẹ dễ bị thiếu sắt nếu không ăn đầy đủ, và sẽ dẫn đến thiếu máu. Nhu cầu sắt bình thường là 15mg, khi có thai người mẹ Dinh dưỡng và điều trị 194 trầm trọng thì người mẹ có thể bị bướu cổ (lớn tuyến giáp), hormon tuyến giáp giảm và đến lượt thai nhi bị ảnh hưởng. Đứa con sinh ra có thể sẽ bị đần độn, thiểu năng tuyến giáp bẩm sinh, chậm phát triển trí tuệ, da và nét mặt thô, xương thiếu khoáng chất và cơ thể lùn thấp. Những đứa trẻ này sẽ cần phải uống hormon tuyến giáp suốt đời. Dùng muối iod và hải sản đều có thể giúp tránh được sự thiếu hụt khoáng chất này. Các bệnh thường gặp 1. Bệnh tiểu đường Khi mang thai, một số hormon liên hệ tới thai nghén như estrogen, human chorionic gonadotropin, lactogen của nhau (placenta) được tiết ra. Các hormon này làm giảm tác dụng của insulin khiến tụy phải làm việc nhiều hơn để sản xuất thêm. Nếu insulin sản xuất không đủ thì dấu hiệu của bệnh tiểu đường sẽ xuất hiện. Ở một số người, hiện tượng này mất đi sau khi sinh, nhưng hơn 50% trường hợp có nhiều nguy cơ mắc bệnh tiểu đường trong tương lai. Mọi phụ nữ có thai đều nên được kiểm tra kỹ các dấu hiệu của bệnh này, vì nếu không phát hiện hoặc không điều trị sẽ có nhiều nguy cơ tử vong cho cả mẹ lẫn con. Người mẹ có thể bị nhiễm độc, rút ngắn thai kỳ (sinh non), huyết áp cao cộng với các biến chứng thông thường của tiểu đường như bệnh võng mạc, thận, dây thần kinh. Thai nhi có thể bị khuyết tật thần kinh, bệnh tim hoặc kém phát triển cột sống. Tiểu đường do thai nghén thường xảy ra vào giữa thời kỳ Dinh dưỡng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfgiao_trinh_dinh_duong_va_dieu_tri.pdf
Tài liệu liên quan