Giáo trình Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của Asean (Phần 2)

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA KHU VỰC. 7

I. Khái niệm khu vực . 7

II. Những luận điểm chủ yếu

về chủ nghĩa khu vực . 17

III. Chủ nghĩa quốc gia (nationalism) . 24

IV. Chủ nghĩa toàn cầu (globalism) . 27

V. Chủ nghĩa khu vực (regionalism) . 36

VI. Các mô thức cơ bản của chủ nghĩa khu vực . 52

Chương 2: SỰ HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA KHU VỰC

CỦA ASEAN . 68

I. ĐNÁ- một chỉnh thể khu vực địa lý-

văn hóa - lịch sử . 68

II. Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN

nhìn từ bình diện địa - chính trị . 82

III. Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN

nhìn từ bình diện địa - kinh tế . 117

IV. Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN

nhìn từ bình diện an ninh khu vực . 132294

Chương 3: CHỦ NGHĨA KHU VỰC ASEAN:

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC. 155

I. ASEAN trong trật tự thế giới mới . 155

II. ASEAN và các cơ hội phát triển . 168

III. Những thách thức phát triển của ASEAN . 176

Kết Luận: . 193

Phụ lục . 207

 

pdf137 trang | Chia sẻ: trungkhoi17 | Ngày: 25/09/2021 | Lượt xem: 148 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giáo trình Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của Asean (Phần 2), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uồn tài nguyên, vốn, nhân lực, công nghệ và trình độ quản lý sản xuất toàn vùng. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) theo kế hoạch, chính thức ra đời vào năm 2003 sẽ là sự thể hiện ở trình độ cao của chủ nghĩa khu vực kinh tế ở ĐNÁ. 7. Nhìn từ bình diện an ninh khu vực, sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN gắn liền với việc xử lý các yếu tố an ninh bản địa. Về cơ bản, an ninh ĐNÁ được cấu thành bởi ba yếu tố : 1/ Tình trạng tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải, xung 198 đột sắc tộc, tôn giáo; 2/ Những thách thức về an ninh từ phía Trung Quốc đối với ĐNÁ ; 3/ Ảnh hưởng của chiến tranh lạnh và trật tự thế giới lưỡng cực Yalta. An ninh khu vực ĐNÁ là một vấn đề cực kỳ phức tạp. Chỉ đứng trên lập trường an ninh toàn khu vực mới có thể giải quyết thỏa đáng mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố của an ninh bản địa. Sự kết hợp hài hòa lợi ích an ninh quốc gia và an ninh khu vực chính là chìa khóa để các nước ASEAN đi từ chủ nghĩa quốc gia đến chủ khu vực trên bình diện an ninh Chính sách an ninh khu vực của ASEAN dựa trên đường lối hòa bình, tự do, trung lập, tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc của tất cả các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, giải quyết tranh chấp bất đồng bằng biện pháp hòa bình, không đe dọa hoặc dùng vũ lực, hợp tác với nhau có hiệu quả. Trong quá trình thực hiện đường lối an ninh khu vực, ASEAN đã tạo ra một cộng đồng an ninh và đã giải quyết khá thành công các vấn đề an ninh nội bộ. Đồng thời ASEAN cũng thực hiện nhiều chính sách đối ngoại khôn khéo, đảm bảo để không một cường quốc hoặc nhóm nước nào độc quyền gây ảnh hưởng hoặc thống trị khu vực. Trong xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa sau chiến tranh lạnh, ASEAN đã kịp thời đưa ra sáng kiến thành lập Diễn đàn an ninh khu vực (ARF) tạo ra các đối thoại an ninh đa phương để mở rộng không gian cho sự ổn định và phát triển của mình. Cho nên có thể nói rằng, cộng đồng an ninh ASEAN là cái đích của chính sách an ninh khu vực, là biểu hiện sinh động của chủ nghĩa khu vực ASEAN. 8. Sau sự sụp đổ của hệ thống lưỡng cực, một trật tự thế giới mới đang hình thành. Mặc dù tình hình quốc tế đã căn 199 bản thay đổi, nhưng do nằm ở vị trí địa – chính trị quan trọng, ĐNÁ trước sau vẫn là vùng tranh giành ảnh hưởng khá quyết liệt giữa các cường quốc. Sự lớn mạnh của ASEAN đã và đang gây ra nhiều lo ngại cho những thế lực nào muốn kiềm chế tổ chức này vào quỹ đạo của chúng. Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế mới đã tạo cơ hội cho ASEAN phát triển cả về quy mô tổ chức và trình độ hợp tác, liên kết toàn khu vực. Về chính trị, ASEAN đã thu nạp tất cả các quốc gia còn lại của ĐNÁ, đẩy sự hợp tác chính trị khu vực lên tầm cao mới. Về kinh tế, ASEAN đang đẩy mạnh tiến trình liên kết các nền kinh tế riêng biệt vào trong một thị trường khu vực thống nhất. Về an ninh, ASEAN đang khẳng định vai trò nổi bật độc đáo của mình tại châu Á – Thái Bình Dương, thông qua Diễn đàn ARF. Nó tự lấy mình làm một trung tâm để hình thành cục diện cân bằng giữa các nước lớn, đồng thời đóng vai trò hòa hoãn xung đột, cân bằng điều hòa các nước lớn với nhau. Nó khiến cho cục diện châu Á – Thái Bình Dương vốn lấy quan hệ giữa các nước lớn làm chủ đạo đã có những biến đổi quan trọng, có lợi cho an ninh khu vực ĐNÁ. 9. Càng ở trình độ cao của sự liên kết khu vực, ASEAN càng phải đối mặt với những thách thức to lớn. Thách thức đầu tiên có thể nói đến là vấn đề hệ tư tưởng và chủ nghĩa quốc gia - dân tộc. Do tồn tại “độ vênh” tất yếu giữa quyền lợi quốc gia và quyền lợi khu vực, chủ nghĩa quốc gia - dân tộc khó vươn tới sự thống nhất về tư tưởng để xây dựng ASEAN thành một “nhà nước khu vực” ( regional state ). Càng khó hơn khi thực lực các quốc gia thành viên chênh lệch nhau quá nhiều. Và cũng còn quá nhiều tranh chấp hoặc bất đồng ý kiến về các vấn đề lãnh thổ, lãnh hải, tôn giáo, sắc tộc. 200 Những trở ngại trên bình diện hệ tư tưởng là rất phức tạp, nhưng dù sao vẫn chưa phải là thách thức nghiêm trọng. Đối với ASEAN, thách thức nghiêm trọng nhất có lẽ nằm ở vấn đề mở rộng tổ chức, thống nhất khu vực cả về chính trị và kinh tế theo một mô hình nào đó. Dù phát triển theo mô hình nào thì sự khác biệt khá lớn về chế độ chính trị giữa các nước thành viên, sự độc đoán, gia trưởng, tham nhũng trong một số bộ máy nhà nước, sự phân cực giàu nghèo giữa các thành viên cũ và mới là những trở ngại căn bản. Triển vọng của AFTA – như là một thước đo sự thành công của chủ nghĩa khu vực ASEAN trong giai đoạn tới. Vì thế, vẫn là một câu hỏi lớn treo ở phía trước. Nhưng dù sao, người ĐNÁ đã có hơn ba mươi năm xây dựng tổ chức khu vực của mình. Những nguyên tắc về tính “thống nhất trong đa dạng”, tinh thần bình đẳng nhất trí trong hợp tác sẽ luôn là nền tảng căn bản để chủ nghĩa khu vực ASEAN tiếp tục phát triển. 10. Đối với Việt Nam, bài học về việc xử lý các mối quan hệ với các nước lớn, nhỏ, nhất là với các nước láng giềng trong thời gian qua đã quá rõ ràng. Và chúng ta đã biết rút kinh nghiệm. Trong quá trình hội nhập của Việt Nam vào khu vực và quốc tế (trước tiên là hội nhập khu vực), chúng ta có nhiều cơ hội và cũng gặp phải nhiều thách thức. Bởi vì bản chất của quá trình liên kết khu vực ở ĐNÁ luôn bao gồm hai mặt hợp tác và đấu tranh. Đó là sự thống nhất biện chứng của phát triển. Cho nên theo chúng tôi, Việt Nam nên chăng cần quán triệt các quan điểm có tính nguyên tắc như sau: - Về nhận thức tính thống nhất khu vực : ĐNÁ là một chỉnh thể khu vực địa lý – lịch sử – văn hóa. Điều này tưởng chừng rất tự nhiên nhưng không phải chúng ta lúc nào cũng 201 nhận thức đầy đủ. Là một nước thành viên của ĐNÁ, số phận lịch sử của Việt Nam gắn liền với những thăng trầm của lịch sử khu vực. Ví trí địa - chính trị và đặc điểm của những dân tộc láng giềng đối với mỗi quốc gia là một thách thức tự nhiên. Ông cha ta đã dạy “bán anh em xa mua láng giềng gần”. Trong khi ta chưa đủ lực để quan tâm đến một số nước ở xa, nhưng với các nước láng giềng thì phải luôn coi trọng. Vì thế, “trong toàn bộ chính sách đối ngoại của Việt Nam cũng như trong chính sách châu Á – Thái Bình Dương của Việt Nam, ưu tiên thứ nhất giành cho các nước cùng tiểu khu vực ĐNÁ, các nước ASEAN, vì lợi ích hòa bình ổn định khu vực cũng như vì lợi ích phát triển kinh tế của Việt Nam” – như phát biểu của cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ - là hoàn toàn đúng đắn. - Về xử lý các mối quan hệ bên trong khu vực : trong quá trình phát triển của ASEAN, mâu thuẫn có thể nảy sinh và được tích hợp. Vấn đề là không để cho các mâu thuẫn trở nên đối kháng mặc dù phải có mâu thuẫn sự vật mới phát triển được. Việt Nam cần đóng vai trò hạt nhân đoàn kết nội bộ khu vực, bởi vì đây là giá trị truyền thống quý báu mà dân tộc ta có thể đóng góp cho nhân dân khu vực. Thông qua vai trò này Việt Nam khẳng định vị trí vững chắc của mình trong tổ chức; phát triển hơn nữa các mối quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao nhân dân để tăng cường sự hiểu biết của khu vực về Việt Nam; chúng ta cần nắm vững lợi ích tối cao của dân tộc mình trong khi vẫn chú ý và tôn trọng những lợi ích chính đáng của dân tộc khác. Đó là cách xử lý và kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia dân tộc và lợi ích toàn khu vực. 202 - Về xử lý các mối quan hệ bên ngoài khu vực: quan hệ với bên ngoài khu vực ở đây là quan hệ với các nước lớn và các tổ chức khu vực hoặc tổ chức quốc tế khác. Việt Nam là một nước nhỏ. Trong quan hệ quốc tế, phát biểu với tư cách là một tổ chức khu vực có lợi hơn là với tư cách một quốc gia riêng lẻ. Vì thế, Việt Nam và mỗi thành viên ASEAN cần phải tuân thủ các nguyên tắc của tổ chức, đoàn kết, nhất trí cùng chung lập trường trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực, vì dân chủ và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Trong khi nhận thức được tính thống nhất của khu vực thì chúng ta cũng lưu ý tới tính chất tương đối của sự thống nhất ấy. Vì thế chúng ta vẫn phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ mở rộng quan hệ đa phương, phấn đấu vì một Việt Nam “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”, trong cộng đồng ASEAN phồn vinh và phát triển. 203 PHỤ LỤC COLOMBO PLAN COUNCIL FOR TECHNICAL CO-OPERATION IN SOUTH AND SOUTH-EAST ASIA CONSTITUTION PREAMBLE The Governments of Australia, Canada, Ceylon, India, New Zealand, Pakistan and the United Kingdom having considered: (a) the urgent need for further technical assistance, additional to that available from other sources, to promote economic development in South and South-East Asia with a view to raising the living standards of the peoples of the area, (b) the desirability of developing further co-operation and enterprise in the provision of technical assistance, and (c) the need for fullest co-operation with the United Nation and other agencies providing technical assistance in the area, with a view to encouraging and speeding the provision of technical assistance from all sources, Have resolved that a scheme should be organized to provide assistance up to a maximum value of £8 million sterling over the three years, commencing 1 st July 1950, and that for the purpose of this work, a Council for Technical Co- operation in South and South-East Asia should be set up with the following constitution. 209 A. Functions 1. The purpose of the Council for Technical Co- operation is to assist in the economic development of South and South-East Asia by the provision of technical assistance. 2. The Council will organize the provision of such assistance as the following: (1) (a) training of personnel from countries in the area in countries where suitable instruction is available and the despatch of missions abroad to study the latest techniques of practices; (b) experts, instructors and advisory missions to assist in planning, development or reconstruction, or for use in public administration, in health services, scientific research, in agricultural, industrial, or other productive activities and in the training of personnel; (c) the provision of equipment required for training or use by technical experts in the region. (2) where any co-operating Government considers that the provision of technical assistance requires the establishment, equipment, extension or endowment of training or other institutions in the countries of the region not available under any other schemes, such facilities may be contributed as technical assistance. It will be for the country requested to provide assistance to decide whether such assistance should be afforded. 3. The Council will investigate any obstacles or difficulties that reduce or prevent the availability or best use 210 of technical assistance, and will use its best endeavours to remove or mitigate all such obstacles or difficulties. 4. For the guidance of co-operating Governments the Council will endeavour to agree on the general conditions such as remuneration and allowances which might best apply to experts and others who are employed in various countries of South and South-East Asia and to trainees, whenever sent out of their own country. B. Organisation 5. The Council will consist of one representative of each co-operating Government. The Council may at any time admit to its membership a Government which applies to co-operate under the Scheme. 6. The council will establish head quarter in Colombo where it will normally meet as business requires. It may, however, meet from time to time at any their convenient place in the area. 7. Each co-operating Government will meet the expenses of its representatives on the Council. 8. To assist the Council in the performance of its duties a Bureau will be established consisting of a Director and such other staff as the Council may appoint. 9. Under the control of the Council, the Director of the Bureau shall organize the development of the Technical Co- operation Scheme. 10. The Director shall submit for approval by the Council an estimate of expenditure for each year ending 30 th June. 211 11. Contributions by each Government to meet the working expenses of the Council for any year will, unless otherwise determined by the Council, be in the same proportion as the contributions to the Technical Co-operation Scheme for that year. 12. The Council will make appropriate provision for the maintenance and audit of its accounts. 13. The Council will take into account the known views of co-operating Governments unable from time to time to be represented at a Council meeting. Any increase in the membership of the Council or changes in its constitution or office of Director will be made only after proposals have been discussed and agreed between all co-operating Governments. The estimated working expenses of the Council and the proportion in which these expenses will be borne by co- operating Governments will also be discussed and agreed between them. The Council will proceed in the co-operative spirit which is the keynote of the Scheme and endeavour at all times to reach agreement without formal rules of procedure. C. Administration 14. The Director of the Bureau shall maintain an make available to all co-operating Governments an up-to-date record of all sources of technical assistance available to the area through any international or national agency. 15. The Director of the Bureau shall establish liaison immediately with the United Nations and the specialised agencies, and with all other organizations or countries not 212 members of the Scheme, which are presently affording technical assistance within South and South-East Asia, or which may in future decide to do so. 16. Each co-operating Government will supply the Director of the Bureau with a statement of the types of technical assistance which it can make available, and will from time to time supplement and revise such information. 17. Co-operating Government seeking technical assistance under the Scheme will state their requirements to the Director of the Bureau, and will the Bureau do not normally act as a clearing house for offers of, and requests for, technical assistance as envisaged in paragraphs 16 to 19 of the Constitution. These requests and offers are now made direct from government to government through bilateral channels, copies being sent to the Bureau to enable it to assist the Council to carry out its function of watching over the general operation of the Technical Co-operation Scheme. 213 THE SOUTH-EAST ASIA COLLECTIVE DEFENCE TREATY AND THE PACIFIC CHARTER The Parties to this Treaty, Recognizing the sovereign equality of all the Parties, Reiterating their faith in the purposes and principles set forth in the Charter of the United Nations and their desire to live in peace with all peoples and all Government, Reaffirming that, in accordance with the Charter of the United Nations, they uphold the principle of equal tights of self-determination of peoples, and declaring that they sill earnestly strive by every peaceful means to promote self- government and to secure the independence of all countries whose peoples desire it and are able to undertake its responsibilities, Desiring to strengthen the fabric of peace and freedom and to uphold the principles of democracy, individual liberty and the rule of law, and to promote the economic well-being and development of all peoples in the Treaty Area, Intending to declare publicly and formally their sense of unity, so that any potential aggressor will appreciate that the Parties stand together in the area, and Desiring further to coordinate their efforts for collective defence for the preservation of peace and security. Therefore agree as follows: 214 Article I The Parties undertake, as set forth in the Charter of the United Nations, to settle any international dispute in which they may be involved by peaceful means in such a manner that international peace and security and justice are not endangered, and to refrain in their international relations from the threat or use of force in any manner inconsistent with the purposes of the United Nations. Article II In order more effectively to achieve the objectives of this Treaty, the Parties, separately and jointly, by means of continuous and effective self-help and mutual aid will maintain and develop their individual and collective capacity to resist armed attack and to prevent and counter subversive activities directed from without against their territorial integrity and political stability. Article III The Parties undertake to strengthen their free institutions and to co-operate with one another in the further development of economic measures, including technical assistance, designed both to promote economic progress and social well-being and to further the individual and collective efforts of governments toward these ends. Article IV 1. Each Party recognizes that aggression by means of armed attack in the Treaty Area against any of the Parties or against any State or Territory which the Parties by unanimous 215 agreement may hereafter designate, would endanger its own peace and safety, and agree that it will in that event act to meet the common danger in accordance with its constitutional processes. Measures taken under this paragraph shall be immediately reported to the Security Council of the United Nations. 2. If, in the opinion of any of the Parties, the inviolability or the integrity of the territory or the sovereignty of political independence of any Party in the Treaty Area or of any other State or territory to which the provisions of paragraph 1 of this Article from time to time apply is threatened in any way other than by armed attack or is affected or threatened by any fact or situation which might endanger the peace of the area, the Parties shall consult immediately in order to agree on the measures which should be taken for the common defence. 3. It is understood that no action on the territory of any State designated by unanimous agreement under paragraph 1 of this Article or on any territory so designated shall be taken except at the invitation or with the consent of the government concerned. Article V The Parties hereby establish a Council, on which each of them shall be represented, to consider matters concerning the implementation of this Treaty. The Council shall provide for consultation with regard to military and any other planning as the situation obtaining in the Treaty Area may from time to 216 time require. The Council shall be so organized as to be able to meet at any time. Article VI This Treaty does not affect and shall not be interpreted as affecting in any way the rights and obligations of any of the Parties under the Charter of the United Nations or the responsibility of the United Nations for the maintenance of international peace and security. Each Party declares that none of the international engagements now in force between it and any other of the Parties or any third party is in conflict with the provisions of this Treaty, and undertakes not to enter into any international engagement in conflict with this Treaty. Article VII Any other State in a position to further the objectives of this Treaty and to contribute to the security of the area may, by unanimous agreement of the Parties, be invited to accede to this Treaty. Any State so invited may become a Party to the Treaty by depositing its instrument of accession with the Government of Republic of the Philippines. The Government of the Republic of the Philippines shall inform each of the Parties of the deposit of each such instrument of accession. Article VIII As used in this Treaty, the Treaty Area is the general area of South-East Asia, including also the entire territories of the Asian Parties, and the general area of the South-West Pacific not including the Pacific area north of 21 degrees 30 minutes north latitude. The Parties may, by unanimous 217 agreement, amend this Article to include within the Treaty Area the territory of any State acceding to this Treaty in accordance with Article VII or otherwise to change the Treaty Area. Article IX 1. This Treaty shall be deposited in the archives of the Government of the Republic of the Philippines. Duly certified copies thereof shall be transmitted by that Government to the other signatories. 2. The Treaty shall be ratified and its provisions carried out by the Parties in accordance with their respective constitutional processes. The instruments of ratification shall be deposited as soon as possible with the Government of the Republic of the Philippines, which shall notify all of the other signatories of such deposit. 3. The Treaty shall enter into force between the States which have ratified it as soon as the instruments of ratification of a majority of the signatories shall have been deposited, and shall come into effect with respect to each other State on the date of the deposit of its instrument of ratification. Article X This Treaty shall remain in force indefinitely, but any Party nay cease to be a Party one year after its notice of denunciation has been given to the Government of the Republic of the Philippines, which shall inform the Governments of the other Parties of the deposit of each notice of denunciation. 218 Article XI The English text of this Treaty is binding on the Parties, but when the Parties have agreed to the French text thereof and have so notified the Government of the Republic of the Philippines, the French text shall be equally authentic and binding on the Parties. Understanding of the United States of America The United States of America in executing the present Treaty does so with the understanding that its recognition of the effect of aggression and armed attack and its agreement with reference thereto in Article IV, paragraph 1, apply only to Communist aggression but affirms that in the event of other aggression or armed attack it will consult under the provision of Article IV, paragraph 2. In witness whereof, the undersigned Plenipotentiaries have signed this Treaty. ∗ Done at Manila, this eighth day of September, 1954 ( Signed for Australia by Richard G. Casey, Minister of External Affairs; for France by Guy La Chambre, Minister of State; for New Zealand by T. Clifton Webb, Minister of External Affairs; for Pakistan by Chaudhri Muhammad Zafrulla Khan, Foreign Minister; for the Republic of the Philippines by Carlos P. Garcia, Vice President and Secretary of Foreign Affairs, Francisco A. Delgado, Chairman of the Senate Committee of Foreign Relations, Senator Thomas L. Cabili, Senate Committee of Foreign Relations, Senator Thomas L. Cabili, Senator Lorenzo M. Tanada, and Tepresentative Cornelio T. Villareal; for Thailand by Prince Wan Waithyakon Krommuen Naradhip Bongsprabandh, Minister of Foreign Affairs; for the United Kingdom by the Marquess of Reading, Minister of State; and for the United States by John Foster Dulles

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfgiao_trinh_su_hinh_thanh_chu_nghia_khu_vuc_cua_asean_phan_2.pdf
Tài liệu liên quan