Hệ thông tin địa lý và khả năng ứng dụng vào khoa học xã hội nhân văn ở Việt Nam: hiện trạng và các thách thức

Mới đây, chúng tôi có cộng tác với một nhóm các

trường đại học của Canada thực hiện một dự án mang

tên ChATSEA (Challenges of Agrarian Transition in

South East Asia- Các thách thức biến đổi nông nghiệp

ở Đông Nam Á). Có nhiều giáo sư nổi tiếng của các

trường đại học tham gia dự án, song không một vị nào

dùng bản đồ! Trên thực tế, họ đã thực hiện rất nhiều

công trình nghiên cứu tầm cỡ có giá trị rất lớn về mặt

học thuật. Họ tiến hành điều tra trên thực địa rất công

phu và đóng góp nhiều trong việc tin học hóa các

công trình nghiên cứu của mình, nhưng lại không hề

thấy có bóng dáng của bản đồ trong các nghiên cứu

của họ. Tôi chưa tổng kết về việc sử dụng bản đồ trong

làng xã hội nhân văn ở Việt Nam vì chưa có cơ hội.

Nhưng dịp này tôi sẽ tìm hiểu. Song tôi có cảm giác ở

Việt Nam các nhà xã hội học dùng bản đồ nhiều hơn

so với các nước phương Tây, đặc biệt là so với Bắc Mĩ,

Canađa. Ngược lại, chúng tôi, những người làm về hệ

thống thông tin địa lý thường hiểu rất vụng về hoặc đặt

ra những câu hỏi ngây ngô về các vấn đề xã hội. Đây

là một điểm mà hai bên không gặp được nhau. Một

bên thì coi thường không gian, một bên lại không hiểu

các khía cạnh về chuyên đề.

pdf24 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Lượt xem: 1484 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Hệ thông tin địa lý và khả năng ứng dụng vào khoa học xã hội nhân văn ở Việt Nam: hiện trạng và các thách thức, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ước đó, v.v… Mặc dầu vậy, quan niệm về quy mô không gian lại khác nhau. Điểm khác thứ nhất là những người làm khoa học vật lý hoặc địa lý tự nhiên thường chú trọng tới cấu hình vật lý của vấn đề, còn trong giới khoa học xã hội thì lại không phải như vậy. Tôi lấy ví dụ là ban nãy tôi có nói chuyện về HIV với một chị học viên. Rõ ràng, ta không thể khoanh vùng HIV ở trong quận Đống Đa là nơi chị ấy làm tư vấn cho dự án, bởi vì nguồn gốc của HIV có thể từ trên Sơn La, từ biên giới Lào, có thể từ Hải Phòng, Quảng Ninh, và cũng có thể 95Hệ thống thông tin địa lý từ thành phố Hồ Chí Minh. Trong địa lý tự nhiên, khái niệm về không gian sẽ chỉ tính riêng mỗi quận Đống Đa. Đây là một sai lầm! Điểm khác thứ hai là trong địa lý tự nhiên, người ta hay dùng từ tỉ lệ để chỉ khái niệm không gian. Trong tiếng Pháp, tỉ lệ trong địa lý tự nhiên được gọi là échelle và trong tiếng Anh là scale. Khi dịch sang tiếng Việt, từ échelle và từ scale lẽ ra phải dịch là tỉ lệ và quy mô. Trong tiếng Pháp, thực chất từ échelle được hiểu theo cả hai nghĩa là tỉ lệ và quy mô, còn trong tiếng Việt chúng ta thường chỉ dịch là tỉ lệ và đôi khi chúng ta ngộ nhận, đặc biệt là trong địa lý tự nhiên. Khi nói đến tỉ lệ của vấn đề, ta thường nói vấn đề đó có bao nhiêu chi tiết. Khi nói tỉ lệ trong địa lý tự nhiên, người ta hay đo bằng thước. Đó là sự khác nhau về khái niệm. Qua những kiến thức đọc trong tài liệu, tôi cố gắng hiểu rằng bên địa lý nhân văn và xã hội nhân văn có rất nhiều quá trình mà như tôi nói là nó vượt quá tầm mà kết cấu có tính chất vật lý về không gian theo như bên địa lý tự nhiên người ta hiểu, vượt ra quy mô không gian đó. Việc này thể hiện rõ tính độc đáo của nhận thức. Ví dụ, tôi đang ngồi ở đây, song tôi lại xét quan hệ của tôi với anh Stéphane cách đây 15 năm tại một phòng nghiên cứu đặt ở Láng Thượng. Có nghĩa là ở đây không gian và thời gian đã vượt ra khỏi khung cảnh mà chúng ta đang nói chuyện. Đây là một điểm rất đáng khích lệ trong các nghiên cứu và nó sát với thực tế hơn là cách hiểu về không gian của các nhà địa lý tự nhiên. Trong địa lý nhân văn, khái niệm tỉ lệ lại được hiểu khác, nên ở đây tôi cũng xin dùng từ khác, đó là từ quy mô, chỉ về tầm cỡ của quá trình (ampleur). Trong tiếng Pháp, thực chất từ échelle cũng đã bao gồm cả nghĩa quy mô của quá trình, và đây là điều mà bên địa lý tự nhiên người ta không làm. Thêm một vấn đề nữa là khái niệm về không gian, tính chất không gian của các quá trình xã hội chính là yếu tố tác động rất mạnh đến quan hệ này. Tôi lấy ví dụ về vấn đề xuất khẩu lao động ở Malaysia mà tôi vừa trao đổi với chị Lê Thu Hương là nghiên cứu sinh ở Đại học Genève. Chị có đưa ra nhận xét là thời kỳ đầu, những người lao động Việt Nam xuất khẩu đầu tiên sang Malaysia là người gốc Hưng Yên, Thái Bình. Nhưng bây giờ người ở Hưng Yên, Thái Bình đi xuất khẩu lao động sang Malaysia đều chọn công việc tốt hơn theo định nghĩa của họ, có nghĩa là việc dễ làm và được trả nhiều tiền hơn ở những thành phố lớn. Còn những công việc nặng nhọc mà người xuất khẩu lao động nhận được ở Malaysia lại dành cho người ở Nghệ An ở tận vùng sâu vùng xa. Như vậy khoảng cách địa lý từ Hưng Yên đến Hà Nội ngắn hơn so với từ Nghệ An ra Hà Nội đã khiến hình thành hai nhóm hành vi khác nhau khi người ta quyết định sẽ làm gì khi đi xuất khẩu lao động sang Malaysia. Qua đó, chúng ta thấy rõ một điều là khía cạnh không gian trong khoa học xã hội này tác động rất lớn đến các mối quan hệ. Song rất may mắn cho chúng ta là cả hai nhóm làm về vật lý, về xã hội nhân văn, về địa lý tự nhiên và địa lý nhân văn khi nói chuyện đều phải dùng tới đơn vị không gian. Và đơn vị không gian mà chúng ta hay nói đến và buộc phải nói đến chính là các đơn vị hành chính. Mà đây là cơ hội để chúng ta đưa các phương pháp định lượng và phương pháp phân tích không gian vào trong các phân tích của xã hội nhân văn. Chúng ta thử xem báo cáo mà nhóm nghiên cứu của các anh François, Jean Pierre, và chị Mireille đã trình bày ngày hôm qua và có nói về việc thay đổi của Việt Nam trước tác động khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Chúng ta cũng có thể nói là việc Việt Nam gia nhập WTO khiến cho quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc thay đổi ra sao. Hàng nghìn cuộc phỏng vấn ấy được thực hiện trên khắp các tỉnh thành Việt Nam. Và như vậy ta sẽ phải nói đến quy mô cấp tỉnh. Còn nếu chúng ta nghiên cứu việc Việt Nam gia nhập WTO tác động đến vấn đề đổi công như thế nào tại xã anh Olivier Tessier nghiên cứu, thì chúng ta buộc phải nhìn vào vấn đề ở từng thôn bản. Và trong những ngày tới, nếu ai tham dự lớp học ở trên Tam Đảo về phân tích không gian, thì các bạn sẽ thấy tất cả số liệu chúng tôi đưa ra đều phải gắn với các xã. Và nhân đây tôi cũng xin giải đáp luôn một câu hỏi có rất nhiều người thắc mắc: sau khi đã hoàn thành điều tra nông hộ thì sẽ đưa kết quả lên bản đồ như thế nào? Câu trả lời là: chúng ta sẽ chỉ số hóa tất cả các kết quả nghiên cứu của chúng ta. Và phương pháp chỉ số hóa thế nào tôi sẽ xin trình bày ở phần sau. Vấn đề là chúng ta phải chỉ số hóa tất cả các nghiên cứu chúng ta đã thực hiện và gắn chúng với đơn vị không gian, và nhờ đó chúng ta sẽ xem xét được các quan hệ xã hội nó diễn ra thế nào trong không gian, chứ không phải là chúng ta mô tả một cách tường minh. Với phương pháp này và trong công nghệ này chúng ta bắt buộc phải số hóa tất cả các mối quan hệ đó. Chúng ta biết hiện nay trên thế giới có ba cách có thể số hóa : định danh, định hạng và bằng số. Định danh có nghĩa là nói: đây là A, đây là B, đây là C. Còn định hạng thì nói việc này tốt, việc này trung bình, việc này kém. Còn bằng số thì nói đây là số 10, kia là số 29, đây là số 30. Nếu khi làm công việc này mà chúng ta gắn nó với đơn vị không gian thì chúng ta sẽ thấy bài toán của các nhà xã hội học là khả thi và giải được. Như vậy là đi đến đây, chúng ta thấy cũng sắp gỡ được vật cản giữa hai cách tiệm cận định lượng và định tính của hai cộng đồng làm khoa học. Một điểm nữa tôi muốn nói ở đây là cả bên xã hội nhân văn và bên địa lý tự nhiên cũng như bên tính toán đều phải dùng tư duy đa tỉ lệ. Khi thực hiện phép so sánh, bạn luôn luôn phải vượt ra khỏi không gian mà bạn bị đóng khung về mặt vật lý để tìm hiểu xem đối tượng bạn muốn nghiên cứu có quan hệ gì với đối tượng nằm ngoài lãnh thổ đó không. Việc nghiên cứu đa tỉ lệ là một trong những điểm mạnh của công nghệ thông tin. Có hẳn một ngành nghiên cứu chuyên ngành mà thuật toán trong nghiên cứu gọi là đa tỉ lệ. Các anh thấy 96 Khóa học Tam Đảo 2008 trong văn liệu có những từ là down-scaling, up-scaling thì đó chính là tư duy đa tỉ lệ. Vậy thì không gian là gì? Chúng ta đều biết là cho đến nay, việc đo vẽ bản đồ của loài người hiện mới chỉ dừng ở trái đất. Các cơ quan hàng không vũ trụ như NASA, ESA của châu Âu và CSA của Canađa đang cố gắng vẽ bản đồ của một số hành tinh khác. Ở đây chúng ta đã dùng bản đồ, và ngay từ cấp học phổ thông, nhiều người trong số chúng ta đã phải học địa lý và đều phải dùng bản đồ. Và chắc chắn chúng ta còn nhớ là trái đất có hình cầu. Bây giờ chúng ta duỗi nó ra thành mặt phẳng. Và nhờ cách làm này người ta đã mô phỏng được bề mặt thế giới thực trên một mặt phẳng. Và mặt phẳng này có rất nhiều đặc điểm chúng ta buộc phải tuân theo, đó là hệ thống tọa độ của nó. Vậy thì hệ thống đó là gì? Nó có nhiệm vụ duỗi quả cầu chúng ta thành mặt phẳng. Và tôi lấy ví dụ có một điểm nào đó ở đây sẽ có tọa độ tương ứng như thế trên quả cầu, và bây giờ ta vẽ nó lên mặt phẳng, tọa độ sẽ nằm ở đây. Nhưng đây là công việc chuyển đổi của ngành hình học, chúng ta chỉ là người sử dụng, chúng ta không cần phải bận tâm. Nhưng khi các bạn dùng hệ thống thông tin địa lý thì việc đầu tiên bắt buộc bạn phải khai báo là bạn dùng hệ tọa độ nào. Việt Nam hiện nay dùng hệ tọa độ gọi là VN 2000 và có một loạt tham số. Bởi vậy nếu đưa vào các kết quả của những tác giả nghiên cứu khác dùng bản đồ IGN mang về từ Paris chẳng hạn thì sẽ không thực hiện được. Vì vậy có một việc bắt buộc phải làm, đó là đồng nhất hóa về đơn vị không gian. Nếu không đưa được lên mặt phẳng có tọa độ tính toán như thế này thì chúng ta không thể nào gán được dân số vào điểm tương ứng. Với hình dung như vậy, chúng ta thấy cách thức mà chúng ta tiến hành nghiên cứu từ bao lâu nay đã bỏ qua khía cạnh không gian, mà thực ra nó chỉ là một bài toán kỹ thuật. Và nếu chúng ta thống nhất được với nhau sẽ làm việc ở trên không gian nào đó, thì hẳn sẽ có người giúp chúng ta thực hiện dữ liệu hóa và tài liệu hóa tất cả những quan sát của chúng ta ở ngoài thực địa, bằng cách thống kê vào trong không gian nơi chúng ta cần. Nói một cách đơn giản là thống kê vào trong một bản đồ, là nơi đã có hệ thống tọa độ. Trong thực tế nghiên cứu không bao giờ chúng ta dùng một bản đồ. Tôi lấy ví dụ chúng ta có bản đồ dân số và bản đồ tiêu thụ năng lượng. Nếu chúng ta không có hệ thống tọa độ trùng lặp với nhau thì hai bản đồ đấy không khớp được lên nhau. Nhưng nếu hai bản đồ đó có cùng hệ thống tọa độ khớp được lên nhau thì bạn sẽ phát hiện được một điều rất thú vị là ở Nam Á, khu vực đông dân nhất thế giới, tiêu thụ năng lượng lại ít nhất. Còn khu vực thưa dân nhất thế giới là Bắc Mĩ tiêu thụ năng lượng cực kỳ nhiều. Chỉ bằng cách đơn giản chồng ghép hai bản đồ như vậy, ta thấy ngay rằng thế giới ngày nay đang phát triển không bền vững. Các nước giàu tiêu thụ cực kỳ nhiều năng lượng, còn các nước nghèo lại có rất ít năng lượng. Tương tự như vậy, bạn lấy hai bản đồ dân số và bản đồ phát thải khí nhà kính thì sẽ nhận thấy các nước có dân số ít lại đưa vào khí quyển một lượng khí nhà kính cực kỳ lớn. Hiện nay có một đối thủ ngoại lệ cũng nhảy vào xu hướng này là Trung Quốc, một nước quá đông dân. Nhưng trước khi Trung Quốc tham gia vào nhóm phát thải khí nhà kính thì chỉ có Mỹ và Canađa - những nước dân số không đông lắm – là tham gia nhiều nhất. Ngoài ra có Úc và Nhật Bản, nhưng nếu so với những nước như Trung Quốc, Ấn Độ thì không đáng kể. Bây giờ tôi xin nói về vấn đề tỉ lệ mà chắc hẳn ai cũng biết. Đứng về mặt vật lý và toán học mà nói, tỉ lệ là đo một tỉ số của độ dài hoặc độ rộng, hoặc là đơn vị đo của đối tượng nào đó trên bản đồ so với mặt đất. Ví dụ ta nói là tỉ lệ 1 : 100 000, tức là 1cm trên bản đồ tương ứng với 1km trên mặt đất. Tỉ lệ 1 : 50 000, thì 1cm trên bản đồ ứng với 500m trên mặt đất, v.v… Song có nhiều loại bản đồ khác nhau. Một loại bản đồ ai cũng phải dùng chính là bản đồ nền chúng ta vừa cùng nhau xem. Bản đồ mặt phẳng để đưa vào tất cả những thông tin khác. Ở đây chúng ta thấy trên bản đồ nền thường có những thông tin gì? Thứ nhất là thông tin về địa hình, tức là bạn đã có độ cao. Độ cao ở đây biểu diễn bằng dạng đường đồng mức (courbe de niveau). Thứ hai là các điểm cao, rồi tiếp trên đó nó đặt mạng lưới thủy văn, mạng lưới đường xá, đường điện, rồi các hiện trạng lớp phủ bề mặt, ví dụ chỉ rõ đâu là điểm dân cư, đâu là rừng, là lúa, là nghĩa trang, là nhà thờ, là quảng trường, rồi đâu là khu nhà dân, là địa danh, v.v… Sѫ ÿӗ hóa phép chiӃu ĈiӇm (O,I) X Y ĈiӇm (X,Y) ĈiӇm Trái Ĉҩt Mһt phҷng X = f(OI) Y = g(OI) Sѫ ÿӗ hóa phép chiӃu ĈiӇm (O,I) X Y ĈiӇm (X,Y) ĈiӇm Trái Ĉҩt Mһt phҷng X = f(OI) Y = g(OI) Lѭӟi chiӃu bҧn ÿӗ ChiӃu hình cҫu sang mһt phҷng Lѭӟi chiӃu bҧn ÿӗ ChiӃu hình cҫu sang mһt phҷng 97Hệ thống thông tin địa lý Còn các loại bản đồ chuyên đề thì có rất nhiều và không thể liệt kê hết. Đối với khoa học xã hội, bạn cho ra được sản phẩm gì mà có thể không gian hóa được, thì sẽ có được bản đồ tương ứng. Gần đây nhất, Trung tâm công nghệ thông tin của Bộ nông nghiệp và Viện nghiên cứu về hệ thống nông sản đặt ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có xuất bản hai cuốn Atlas. Một cuốn chuyên về dân số, và một cuốn chuyên về tình trạng nghèo đói của Việt Nam. Tương tự như vậy bạn sẽ lập được bản đồ các xã. Thật khó xác định được số lượng chính xác các xã ở Việt Nam vì địa lý hành chính không ngừng thay đổi. Có những bản đồ về điều kiện tự nhiên không hề thay đổi, ví dụ địa chất của Việt Nam đã tồn tại như hàng triệu năm nay nó đã thế. Thổ nhưỡng của Việt Nam không thay đổi. Nhưng cây rừng, lớp phủ rừng của Việt Nam đã thay đổi. Trong các ngành khoa học xã hội chúng ta có bao nhiêu bản đồ? Người ta đã phân ra chỉ có hai loại thôi! Thứ nhất là bản đồ nền với lớp thông tin về ranh giới hành chính rất quan trọng. Vì các vấn đề chúng ta nghiên cứu trong xã hội đều liên quan đến hoạt động của Nhà nước, đến các đơn vị hành chính. Cho nên ranh giới hành chính là điều quan trọng. Bản đồ chi tiết đến đâu phụ thuộc vào nhu cầu nghiên cứu của mỗi người và kết quả số liệu cho phép chi tiết đến đâu. Điều thứ hai là nó nằm ở tỉ lệ bao nhiêu là do bạn quy định, và xuất phát từ nhu cầu nghiên cứu của bạn đến mức nào. Trình bày trên bản đồ làm cho mọi người hiểu dễ dàng hơn rất nhiều. Và nơi cần tác động nhất là giới quản lý, những người đề ra quyết định. Mà những người này thường muốn có gì đó mang tính trực quan, có nghĩa họ thích nhìn thẳng trên bản đồ. Phương pháp bản đồ thật hữu ích, đặc biệt trong lĩnh vực quy hoạch lãnh thổ. Vấn đề thứ hai là tính trực quan của bản đồ sẽ giúp cho người ta nhận thức nhanh hơn các hiện tượng. Từ cách đây hàng mấy thế kỷ người ta đã phải nghĩ đến chuyện vẽ bản đồ. Trong khi đó chúng ta nghiên cứu một loạt những vấn đề nào là SIDA, nào là di dân, tái định cư, bình đẳng giới, rồi tới cả tác động chính sách đến các vùng lãnh thổ, mà ta không dùng bản đồ thì tôi thấy quả thật là hơi ngạc nhiên! Như ban nãy tôi có nói về các đồng nghiệp của tôi làm trong dự án ChATSEA, và tôi giật mình nhận thấy hiếm khi chúng ta dùng bản đồ. Vì thế sẽ mất rất nhiều thông tin! Đến phần này, chúng ta nói rằng bản đồ chỉ ra phân bố không gian của các chỉ số về xã hội. Tôi lấy một ví dụ về chỉ số phát triển con người do UNDP cung cấp. Điều quan trọng là bạn phải thể hiện được các con số bằng khung màu, ví dụ tôi xắp xếp theo chỉ số phát triển con người thì với tổng số hơn 11000 xã của Việt Nam như vậy sẽ được chia ra làm năm nhóm và được thể hiện bằng năm khung màu khác nhau. Và qua đó ta sẽ thấy chỉ số phát triển con người theo định nghĩa của UNDP ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là “sáng”. Nhưng nếu xét về dân trí thì không chắc gì đã “sáng”?! Trẻ con ở Hà Nội đi ra đường gặp người lớn chúng có chào hỏi gì đâu! Trong khi đó chúng tôi về nông thôn thì thấy trẻ em hễ trông thấy người lớn là chúng nó chào ngay! Ở đây bạn thấy ngay sự đối lập, có nghĩa là ở nơi mà có chỉ số phát triển con người theo định nghĩa của UNDP thì chưa chắc đã hợp với ta. Người nhà mình hay nói về vẻ đẹp đúng không ạ! Tổ đổi công của ta là có một giá trị đẹp. Nếu đem điều đó ra so sánh thì chưa chắc Hà Nội đã là “nơi đẹp” vì Hà Nội, ai sống biết nhà nấy thôi. Vậy làm thế nào để biết sự việc ai biết nhà nấy, bên xã hội học người ta có rất nhiều cách để điều tra, ví dụ như thông qua bảng hỏi điều tra. Tôi nhớ là bên xã hội học có một phần mềm chuyên biệt giúp phân tích dữ liệu thống kê rất hay gọi là SPSS. Hoặc trên Internet bây giờ có R-project là mã nguồn mở. Rất nhiều người dùng phần mềm này để phân tích thành phần chính, phân tích hồi quy, tất cả đều sẵn có trong đó, rất tiện lợi. Và chúng ta cũng đừng băn khoăn là làm sao đưa những vấn đề mình nghiên cứu lên được bản đồ. Cũng như lúc nãy tôi đã nói là những vấn đề quan tâm của các nhà xã hội học nhiều khi không nhìn thấy được từ vũ trụ, nhưng ta lại chỉ số hóa được chúng. Tôi lấy ví dụ: chúng ta đã thấy được một thực tế là nơi nào rừng bị phá nhiều thì nơi đó người dân nghèo hoặc dân chí thấp. Chúng ta thấy vấn đề này báo chí ngày nào cũng đăng tải thông tin mà vẫn không có biện pháp gì ngăn chặn, bởi vì chúng ta đụng tới những người phá rừng đấy lại toàn là dân nghèo. Nhưng nấp đằng sau họ là một lực lượng khác. Đó là những ông chủ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh lên mua đất ở Tây Nguyên, mua đất ở Cần Giờ, rồi khắp nơi. Nếu theo dõi bản đồ phá rừng của Việt Nam thì chúng ta sẽ thấy nó rơi vào các xã mà chúng ta gọi là 1351. Có người đã kiến nghị với các anh ở bên nghiên cứu chiến lược là chúng ta sẽ làm lại tổng kiểm kê rừng trong 10 năm vừa rồi, ta định nghĩa lại 135 theo tiêu chí về phá rừng, tức là liên quan đến phá rừng. Mà hiện nay với công nghệ vệ tinh và với những dữ liệu nằm trong các máy chủ của các cơ quan nghiên cứu không gian thế giới thì chúng ta hoàn toàn có dữ liệu để thực hiện. Vấn đề chỉ hơi khó ở đây là có ba từ khóa trong cụm từ “hệ thống thông tin địa lý”. Từ thứ nhất là hệ thống (système), từ thứ hai là thông tin (information), và từ thứ ba là địa lý (géographique), tôi xin phân tích từng từ cho đơn giản. Với khái niệm hệ thống (système), chúng ta biết là có rất nhiều định nghĩa. Riêng tôi thích khái niệm hệ thống của một nhóm thuộc Đại học tổng hợp Lômônôxôp – Mạc Tư Khoa, khoảng những năm 1970, gọi là lý thuyết hệ thống, hay địa hệ thống (géo- système). Trong địa lý Mác xít, người ta cũng nói nhiều đến vấn đề hệ thống. Vậy hệ thống là gì? Hệ thống có 1 Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số hoặc miền núi. 98 Khóa học Tam Đảo 2008 nhiều cách định nghĩa, nhưng đối với riêng người làm về thông tin địa lý thì đó là một tổng thể có nhiều hợp phần. Các hợp phần đó tương tác với nhau để cho hệ thống hoạt động. Và bản thân hệ thống hoạt động đó lại có tương tác với bên ngoài. Điều này hoàn toàn đúng với hệ thống thông tin địa lý. Trong hệ thống thông tin nói chung và hệ thống thông tin địa lý nói riêng thì tính hệ thống rất cao. Trước tiên mọi dữ liệu ở đây phải được xem như là một hợp phần bắt buộc của hệ thống. Khi nói hệ thống thì ta phải nói đến các hợp phần. Hợp phần quan trọng của hệ thống thông tin chính là dữ liệu. Và nhiều khi chúng ta lại đặt câu hỏi thế nào gọi là dữ liệu (données) và thế nào gọi là thông tin (information). Có nhiều cách định nghĩa, song tôi định nghĩa thông tin là phương tiện mô tả thế giới thực. Có thể mô tả bằng nhiều phương tiện khác nhau nhưng hiện nay chúng ta hay dùng phương tiện số. Ví dụ bạn quay một đoạn phim về núi lửa Pinatubo năm 1991 chẳng hạn, thì đó là cách bạn mô tả thế giới thực bằng phim ảnh. Ngoài ra bạn có rất nhiều cách mô tả và cách cảm nhận khác nhau về thông tin. Lấy ví dụ chúng ta thấy trời nóng là do chúng ra cảm nhận được. Còn nếu dùng phương tiện công nghệ số, khi ta nói hôm nay trời nóng 39oC, ta sẽ ghi chữ 39oC là xong. Nhưng cảm nhận đầu tiên là qua xúc giác, còn sau này mới dùng nhiệt kế để đo. Tóm lại thông tin là sự mô tả thế giới thực bằng các phương tiện khác nhau, hoặc là sự phản ảnh thế giới thực. Vậy thế giới thực ở đây có gì? Nó có đối tượng, có quá trình và có hiện tượng. Và nếu đúng như vậy chúng ta sẽ không bỏ qua bất cứ điều gì. Dữ liệu là gì? Rất nhiều sách đưa ra định nghĩa dữ liệu rất đơn giản. Dữ liệu là thông tin được đem ra xử lý. Và sau khi đã được xử lý xong rồi nó lại cung cấp cho ta thông tin. Đó gọi là dữ liệu. Lát nữa chúng ta sẽ quay lại vấn đề này. Để xử lý được thông tin chúng ta cũng cần có cả một hợp phần, đó là phần mềm. Và để chạy được phần mềm ta cần phải có máy tính. Và bây giờ, sau khi đã có trong tay thông tin, dữ liệu, phần mềm và máy tính, thì ta phải có người chạy được máy tính, mà quan trọng người đó phải có đầu óc. Lúc nãy chúng ta có nói tới tỉ lệ phụ nữ đặt vòng tránh thai và dân tộc phải không? Và bây giờ nếu tôi cứ nghĩ là tôi có số liệu như vậy, tôi sẽ đi tìm quan hệ giữa tỉ lệ phụ nữ đặt vòng tránh thai với diện tích của xã hay sao. Ở đây chẳng có quan hệ gì cả! Nhưng nếu xét về toán học thì tôi vẫn cứ làm, chẳng ai bắt bẻ gì được tôi cả! Nhưng trên thực tế hai biến này không hề có quan hệ gì cả. Điều này dễ dàng được nhận thấy trong ngành khoa học xã hội. Vì vậy việc tốt nhất không chạy chương trình vội mà đi hỏi nhà xã hội học là có nên chạy biến đấy không? Mà tốt nhất là nhà xã hội học đưa ra bài toán chạy bao nhiêu biến và chính xác là chạy biến nào cùng với biến nào. Cho nên việc mà chúng ta quyết định thủ tục chạy ở đây là rất quan trọng. Vậy thì thông tin địa lý là gì? Nó là một thông tin được gắn với một tọa độ nào đó. Vì trong văn liệu tiếng Pháp có nhiều cách dùng thuật ngữ khác nhau. Để chỉ thông tin địa lý, có người dùng thuật ngữ information géopraphique, có người dùng là information géoréférence, có khi lại là données à la référence spaciale. Thực chất nó là thông tin có tọa độ. Và thông tin mà có tọa độ thì là thông tin địa lý. Còn khái niệm hệ thống thông tin xử lý các tọa độ thì được gọi là hệ thông tin địa lý. Định nghĩa nó đơn giản thế thôi. Hệ thống thông tin địa lý hay hệ thống thông tin nào khác cũng đều có một nhiệm vụ là trợ giúp quyết định. Nó thể hiện quan hệ của các đối tượng trong không gian. Như chúng tôi đã nói là thông tin thì phải có mô tả. Bạn mô tả thông tin cụ thể đến đâu là tùy thuộc vào yêu cầu của bài toán ứng dụng của bạn. Đối tượng xã nghiên cứu được mô tả với lượng thông tin như thế nào là do nhu cầu ứng dụng của bạn. Nếu chúng ta làm về dân số cũng vậy thôi, và dân số thì có nhiều cách tiệm cận. Còn nếu bạn làm về sử dụng đất thì cũng sẽ có thông tin về sử dụng đất. Và nếu bạn muốn tìm quan hệ về thông tin giữa sử dụng đất và dân số thì bắt buộc bạn phải lưu trữ cả thông tin về sử dụng đất và thông tin về dân số vào cùng một xã. Thêm nữa, ví dụ khi nghiên cứu về tỉ lệ thất nghiệp của một thành phố, nếu chúng ta muốn gắn nó với vấn đề tội phạm thì phải có thêm thông tin về tỉ lệ nghiện hút, tỉ lệ tiền án, tiền sự. Và ta thử xem xét giữa tỉ lệ nghiện hút, tiền án tiền sự và thất nghiệp có quan hệ gì không? Như vậy, chúng ta phải đưa được những quan hệ đó vào trong cơ sở dữ liệu. Và nó sẽ trở thành thông tin địa lý bởi vì nó gắn với tọa độ. Còn trong đơn vị không gian của chúng ta, tọa độ đấy có thể là điểm. Tuy nhiên, để gắn được thông tin, để có được một thông tin đúng nghĩa là thông tin địa lý thì chúng ta sẽ đề cập dần dần tới lĩnh vực kỹ thuật một chút. Trước hết thông tin đó phải là một đối tượng đồ họa. Ta phải vẽ ra được con đường. Phải vẽ được ra tỉnh đó và trong tỉnh có rất nhiều huyện, trong huyện có rất nhiều xã, HӋ thông tin ÿӏa lý làm gì? Dӳ liӋu Thông tin Tri thӭc Hành ÿӝng Cѫ sӣ Tri thӭc Cѫ sӣ dӳ liӋu Chính sách Phҫn cӭng Phҫn mӅm Xã hӝi và môi trѭӡng 99Hệ thống thông tin địa lý trong xã có rất nhiều thôn. Song điều quan trọng là tất cả các tỉnh, xã, thôn ấy đều phải được đặt trên một nền hình học, một lưới chiếu nào đó như chúng ta đã nói từ ban đầu. Vì vậy điều kiện tiên quyết của thông tin địa lý là phải có tọa độ. Điều quan trọng thứ hai là các đối tượng đó phải được mô tả. Vì vậy người ta nói rằng ngoài cặp tọa độ tạm gọi là XY thì đối tượng đó phải được mô tả bằng một số N thuộc tính nào đó. Tôi lấy ví dụ ta mô tả một xã. N có thể là 10, có thể là 100 tùy thuộc bài toán, tùy thuộc ứng dụng đúng không nào? N có thể là 10 trường dữ liệu về dân số, nhưng có thể chỉ là hai hoặc ba trường dữ liệu, có nghĩa tôi chỉ quan tâm đến tỉ lệ sinh đẻ hàng năm, tỉ lệ tử vong dưới sáu tuổi, chẳng hạn. Nếu muốn nghiên cứu một cách tổng thể nhiều mối quan hệ thì số N đó sẽ lớn hơn. Như vậy bạn muốn gắn bao nhiêu thuộc tính vào đối tượng là phụ thuộc vào bài toán ứng dụng, không có quy định nào cả. Chỉ có một điều bắt buộc là các thông tin đó phải có tọa độ, phải gắn vào đơn vị hành chính, đơn vị không gian nào đó. Bây giờ, tôi sẽ nói qua về đối tượng mà chúng ta gọi là thông tin có tọa độ. Hiện nay có nhiều cách mô tả thế giới thực như ta đã nói, trong đó có cách mô tả bằng phương pháp Vectơ, tức là phương pháp đồ họa. Tất cả mọi thứ trên đời đều có thể mô tả bằng điểm, đường và vùng miền. Vì lẽ đó mà bản đồ mới hình thành. Núi non được mô tả thành các đường đồng mức. Sông ngòi được mô tả bằng các nét vẽ. Và tất cả những nét vẽ, đường đồng mức đó đều được hình thành từ ba yếu tố cơ bản. Yếu tố thứ nhất là điểm, đường và miền. Thuật ngữ chuyên môn trong nghề gọi dữ liệu đó là dữ liệu Vectơ, bởi vì nó có tọa độ, có hướng, nó nằm trong hệ tọa độ, và mô tả thế giới thực bằng đường nét, bằng điểm, bằng miền. Thêm nữa là những vectơ đó lại phải được mô tả bằng các thuộc tính. Ví dụ khi ta mô tả một cái hồ, đầu tiên ta có thể vẽ đường hồ ra, rồi sau đó thêm thuộc tính về độ sâu, độ mặn và các yếu tố khác, ví dụ như số nông hộ canh tác, đánh bắt thủy sản nước ngọt của hồ. Nếu hồ nước n

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfTam-Dao-2008-VN-SP4-Pham-Van-Cu.pdf