LỜI CAM ĐOAN .i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU.vii
DANH MỤC HÌNH VẼ. viii
LỜI MỞ ĐẦU.1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP VÀ
QUẢN LÝ RỦI RO TÁC NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.16
1.1. Lý luận chung về rủi ro tác nghiệp của Ngân hàng thƣơng mại.16
1.1.1. Khái niệm rủi ro tác nghiệp.16
1.1.2. Đặc điểm của rủi ro tác nghiệp .19
1.1.3. Phân loại rủi ro tác nghiệp .20
1.1.4. Nguyên nhân của rủi ro tác nghiệp.23
1.1.5. Hậu quả của rủi ro tác nghiệp.27
1.2. Quản lý rủi ro tác nghiệp của ngân hàng thƣơng mại .28
1.2.1. Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc quản lý rủi ro tác nghiệp .28
1.2.2. Quy trình và nội dung quản lý rủi ro tác nghiệp.31
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng quản lý rủi ro tác nghiệp của
NHTM.49
1.2.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến quản lý rủi ro tác nghiệp của ngân hàng
thƣơng mại.52
1.3. Kinh nghiệm QLRRTN của một số ngân hàng nƣớc ngoài và bài học rút
ra đối với Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Công Thƣơng Việt Nam.66
1.3.1. Kinh nghiệm QLRRTN của một số Ngân hàng nƣớc ngoài.66
1.3.2. Bài học đối với các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam .74
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1.77
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÁC NGHIỆP CỦA NGÂN
HÀNG TMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM .78
2.1. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam.78
226 trang |
Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 19/02/2022 | Lượt xem: 417 | Lượt tải: 2
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Quản lý rủi ro tác nghiệp của ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
8 2019
3
Gian lận và tội phạm bên
ngoài
40.357 38.275 34.185 39.267 41.528
4
Gian lận và tội phạm nội
bộ
28.498 36.185 24.487 21.398 20.267
5 Quy trình xử lý công việc 405.286 338.796 198.386 193.682 74.496
6 Công nghệ thông tin 3.286 4.635 3.972 2.984 2.594
Tổng cộng 495.178 434.356 275.213 271.694 151.198
(Nguồn: [39])
Số lượng dấu hiệu rủi ro phát sinh của Vietinbank trong giai đoạn từ năm
2015-2019 có xu hướng giảm. Năm 2017, Vietinbank ban hành Quyết định số
537/2017/QĐ-HĐQT-NHCT64 quy định vai trò, trách nhiệm của cá nhân, bộ phận
liên quan trong công tác quản lý rủi ro. Điều này đã góp phần trực tiếp và tích cực
để làm giảm số lượng dấu hiệu rủi ro phát sinh của Vietinbank trong giai đoạn từ
năm 2017 – 2019.
Trong số các nhóm dấu hiệu rủi ro, nhóm dấu hiệu rủi ro liên quan đến quy
trình xử lý công việc có số lượng lớn nhất, chủ yếu là những dấu hiệu rủi ro liên
quan trực tiếp đến quy trình thực hiện nghiệp vụ của cán bộ, nhân viên Vietinbank.
Điều này có thể cho thấy thực trạng trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên
chưa cao, công tác đào tạo và kiểm soát còn chưa chặt chẽ, hiệu quả.
Tiếp đến, nhóm dấu hiệu rủi ro liên quan đến gian lận và tội phạm bên
ngoài của Vietinbank có số lượng tương đối lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng
số các dấu hiệu rủi ro tác nghiệp. Năm 2015, nhóm dấu hiệu rủi ro liên quan đến
gian lận và tội phạm bên ngoài chiếm khoảng 8,2% tổng số dấu hiệu rủi ro tác
nghiệp được thống kê của Vietinbank nhưng năm 2019 con số này lên đến
27,4%. Số lượng dấu hiệu rủi ro do gian lận và tội phạm bên ngoài không có xu
hướng thay đổi nhiều qua các năm.
Tương tự với nhóm dấu hiệu rủi ro liên quan đến gian lận và tội phạm nội bộ
cũng không có sự thay đổi nhiều về mặt số lượng. Điều này phản ảnh một phần đạo
95
đức nghề nghiệp của cán bộ, nhân viên cũng như những bất cập còn tồn tại trong cơ
chế lương thưởng của ngân hàng. Tuy nhiên mặt khác, nó cũng cho thấy khả năng
nhận diện và kiểm soát tương đối có hiệu quả của Vietinbank đối với các dấu hiệu
rủi ro phát sinh từ gian lận và tội phạm nội bộ, để hạn chế đến mức thấp nhất có thể
các sự kiện rủi ro thực tế xảy ra bởi nhóm dấu hiệu này.
Nhóm dấu hiệu rủi ro liên quan đến cơ chế, chính sách, quy định ngày càng
giảm, năm 2019 chỉ còn 138 dấu hiệu, bằng 42% so với năm 2015. Điều này chứng
tỏ Vietinbank đã không ngừng hoàn thiện hệ thống các văn bản nội bộ, chính sách,
quy trình của mình nhằm hạn chế các dấu hiệu rủi ro phát sinh liên quan.
Dựa trên chỉ tiêu xác suất xuất hiện các dấu hiệu rủi ro
Bảng 2.6. Xác suất xuất hiện dấu hiệu rủi ro của Vietinbank giai đoạn từ năm
2015-2019
Đơn vị tính: %
STT Loại dấu hiệu rủi ro 2015 2016 2017 2018 2019
1
Mô hình tổ chức, cán bộ và an
toàn nơi làm việc
0,05 0,047 0,032 0,028 0,017
2 Cơ chế, chính sách, quy định 0,021 0,029 0,023 0,016 0,009
3 Gian lận và tội phạm bên
ngoài
0,0027 0,0038 0,0025 0,0018 0,0012
4 Gian lận và tội phạm nội bộ 0,0014 0,0016 0,0013 0,0009 0,0007
5 Quy trình xử lý công việc 0,067 0,066 0,054 0,049 0,038
6 Công nghệ thông tin 0,0027 0,0026 0,0018 0,0015 0,0016
(Nguồn: [39])
Xác suất xuất hiện các dấu hiệu rủi ro được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa số
lượng SKRR phát sinh trên số lượng nghiệp vụ đã thực hiện của toàn Ngân hàng.
Chỉ tiêu này được tính cho từng loại dấu hiệu rủi ro.
Xác suất xuất hiện các dấu hiệu rủi ro thuộc nhóm sáu loại rủi ro đã trình bày
trên đây của Vietinbank đều có xu hướng giảm trong giai đoạn từ năm 2015-2019.
Trong đó, xác suất xuất hiện của nhóm rủi ro có liên quan đến cơ chế, chính sách và
quy định thấp nhất với 0,009% vào năm 2019. Tốc độ giảm xác suất xuất hiện của
nhóm dấu hiệu rủi ro có liên quan tới mô hình tổ chức, cán bộ và an toàn nơi làm
96
việc của Vietinbank là cao nhất, năm 2019 xác suất xuất hiện nhóm dấu hiệu rủi ro
này chỉ bằng 34% so với năm 2015.
Những con số trên chứng tỏ công tác QLRRTN của Vietinbank đã giúp giảm
nhiều lỗi, sự kiện rủi ro xảy ra, bước đầu đem lại hiệu quả tích cực, đặc biệt trong
việc theo dõi các giao dịch nghi ngờ, bất thường.
Dựa trên chỉ tiêu số lƣợng các sự cố phát sinh trong kỳ
Số lượng SKRR phát sinh của Vietinbank theo từng nhóm rủi ro điển hình
liên tục giảm qua các năm trong giai đoạn từ năm 2015-2019. Năm 2019, tổng số
SKRR phát sinh là 74.403 sự kiện, giảm 35,4% so với năm 2018 và giảm hơn 73%
so với năm 2015. Tốc độ giảm bình quân các SKRR của Vietinbank trong giai đoạn
2015-2019 đạt hơn 14%/năm.
Bảng 2.7. Số lƣợng SKRRTN phát sinh trong giai đoạn từ năm 2015-2019
Đơn vị tính: SKRRTN
STT Loại rủi ro 2015 2016 2017 2018 2019
1
Mô hình tổ chức, cán bộ và
an toàn nơi làm việc
3.963 3.327 2.698 2.398 2.141
2 Cơ chế, chính sách, quy
định
287 137 87 28 16
3 Gian lận và tội phạm bên
ngoài
16.169 17.953 12.047 12.719 11.395
4 Gian lận và tội phạm nội bộ 14.134 12.356 11.865 9.378 7.367
5 Quy trình xử lý công việc 239.512 174.797 118.165 89.154 52.157
6 Công nghệ thông tin 2.015 1.854 1.580 1.508 1.327
Tổng cộng 276.080 210.424 146.442 115.185 74.403
(Nguồn: [39])
Trong đó số lượng SKRR liên quan đến quy trình xử lý công việc năm
2015 chiếm số lượng lớn nhất là 239.512 SKRR, song đến năm 2019, con số này
đã giảm xuống đáng kể nhưng vẫn ở ngưỡng cao, còn 52.157 lỗi. Số lượng lỗi
liên quan đến cơ chế, chính sách, quy định của Vietinbank có tốc độ giảm lớn
nhất, gần 19%/năm với số lượng 16 lỗi vào năm 2019 so với 287 lỗi năm 2015.
SKRR phát sinh do gian lận và tội phạm nội bộ có xu hướng giảm, tuy
nhiên vẫn còn ở mức cao, chiếm 9,9% so với tổng số lượng SKRR phát sinh năm
2019, so với con số này là 5,12% năm 2015. Những SKRR do gian lận và tội
97
phạm nội bộ có nguy cơ gây ra tổn thất rất lớn cho ngân hàng cả về mặt tài chính
và uy tín. Yêu cầu đặt ra cho ngân hàng là cần có những biện pháp hạn chế và
khắc phục tổn thất mà loại rủi ro này gây ra.
SKRR do gian lận và tội phạm bên ngoài của Vietinbank tuy có giảm qua
các năm nhưng về số tuyệt đối vẫn còn tương đối cao, nhất là tính chất ngày
càng đa dạng và tinh vi. Một phần vì số lượng giao dịch với khách hàng tăng lên
qua các năm với tốc độ tăng trung bình 23%/năm, một phần có thể do sự lỏng lẻo
trong quản lý của ngân hàng, cán bộ thực hiện giao dịch bị quá tải và sự tinh vi
ngày một tăng của tội phạm bên ngoài dẫn đến khó khăn cho ngân hàng trong
công tác nhận diện và ngăn ngừa rủi ro.
Các nhóm rủi ro còn lại đều ở mức chấp nhận được, dựa trên xác suất xuất
hiện dấu hiệu rủi ro và số lượng dấu hiệu dấu hiệu rủi ro được phát hiện.
Dựa trên chỉ tiêu tổng số tổn thất (tính bằng tiền) xảy ra trong kỳ báo cáo
Theo chỉ tiêu tổng số tổn thất tính bằng tiền, trong giai đoạn từ năm 2015-
2019 Vietinbank đã ghi nhận thiệt hại hơn 102 tỷ đồng, trong đó giá trị tổn thất
khắc phục được là 89,8 tỷ đồng và con số chưa khắc phục được là 12,16 tỷ đồng.
Giá trị tổn thất bình quân của Vietinbank giai đoạn từ năm 2015-2019 do các
SKRRTN gây ra là hơn 2,4 tỷ đồng.
Biểu đồ 2.5. Kết quả khắc phục tổn thất của Vietinbank từ năm 2015-2019
Đơn vị tính: tỷ đồng
(Nguồn: [39])
98
Giá trị tổn thất của Vietinbank năm 2019 đạt 2,1 tỷ đồng, chỉ bằng 49,3%
năm 2015. Trong tổng giá trị tổn thất đã xảy ra với Vietinbank giai đoạn này, phần
tổn thất chiếm tỷ trọng lớn nhất thuộc về nhóm rủi ro gian lận nội bộ, tiếp đến là rủi
ro do gian lận và tội phạm bên ngoài với con số trung bình lần lượt là 45,94% và
31,72% giá trị tổn thất. Với chỉ một số ít các vụ việc liên quan đến gian lận và tội
phạm nội bộ, giá trị tổn thất gây ra cho ngân hàng đã lên đến hàng trăm triệu hoặc
hàng tỷ đồng.
Bên cạnh đó, tổn thất gây ra cho ngân hàng do hoạt động tội phạm bên ngoài
mặc dù có giảm qua các năm song vẫn ở mức cao. Chỉ riêng năm 2019, mức tổn
thất này mới được giảm xuống rõ rệt, ở mức 31,99% tổng giá trị tổn thất do rủi ro
tác nghiệp gây ra, với số tuyệt đối là 3,67 tỷ đồng, trong đó giá trị tổn thất đã được
khắc phục là 1,68 tỷ đồng. Trong số đó tổn thất lớn nhất gây ra bởi loại rủi ro này
xuất phát từ việc kẻ xấu làm giả dấu, chữ ký, chứng từ hòng chiếm đoạt tiền, tài sản
của khách hàng và ngân hàng (chiếm đến 94% giá trị tổn thất gây ra bởi gian lận và
tội phạm bên ngoài)
Biểu đồ 2.6. Tổn thất theo từng nhóm rủi ro của Vietinbank từ 2015-2019
Đơn vị tính: tỷ đồng
(Nguồn: [39])
Có thể thấy, tổn thất gây ra do nhóm rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức,
cán bộ và an toàn nơi làm việc và rủi ro liên quan đến quy trình, quy định luôn
chiếm tỷ trọng thấp trong tổng giá trị tổn thất rủi ro tác nghiệp gây ra cho ngân
hàng, chỉ ở mức chưa đến 1%, riêng năm 2018 con số này tăng đột biến lên 7,7%
99
với số tuyệt đối lên tới 1,65 tỷ đồng giá trị tổn thất và 1,46 tỷ đồng giá trị tổn thất đã
được khắc phục. Nguyên nhân là trong năm này một loạt máy ATM và các tài sản
hữu hình khác đã bị ảnh hưởng và hư hại nghiêm trọng do mưa lớn và lũ lụt gây ra
trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc và đồng bằng Bắc Bộ khiến Vietinbank
buộc phải thay thế mới các tài sản cố định hữu hình nói trên, gây ra thiệt hại về mặt
tài chính cho ngân hàng.
Đối với tổn thất gây ra do CNTT, nhìn chung giá trị không quá lớn và số
khắc phục chiếm khoảng 75-80% giá trị tổn thất, song nhìn về tổng thể, tổn thất này
lại là dấu hiệu cảnh báo ngân hàng về mức độ an toàn và vững chắc của nền tảng
công nghệ trong việc quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tác nghiệp nói
riêng. Trong giai đoạn từ năm 2015-2019, tổn thất gây ra do CNTT của Vietinbank
có thể đánh giá chấp nhận được nếu so sánh với quy mô ngân hàng và số lượng giao
dịch phát sinh.
Nhìn chung, giá trị tổn thất do rủi ro tác nghiệp gây ra đối với Vietinbank
trong giai đoạn từ năm 2015-2019 là tương đối thấp với giá trị tổn thất được khắc
phục tương đương, đây là kết quả của công tác quản lý rủi ro tác nghiệp, đồng thời
là yếu tố giúp ngân hàng không những giảm được chi phí hoạt động mà còn nâng
cao uy tín, niềm tin nơi khách hàng. Vấn đề đặt ra là con số tổn thất này cần được
so sánh, xem xét với số lượng vốn phân bổ cho rủi ro tác nghiệp theo hướng dẫn
của Basel II, từ đó mới có thể kết luận được rằng ngân hàng đã có biện pháp dự
phòng hiệu quả hay chưa trong việc khắc phục những tổn thất có thể có do rủi ro tác
nghiệp gây ra.
2.3. Thực trạng quản lý rủi ro tác nghiệp của Ngân hàng TMCP Công
Thƣơng Việt Nam
2.3.1. Cơ sở pháp lý về quản lý rủi ro tác nghiệp của Ngân hàng TMCP
Công thƣơng Việt Nam
2.3.1.1. Hệ thống văn bản chính sách về quản lý rủi ro tác nghiệp của
Ngân hàng Nhà nƣớc
Hệ thống các ngân hàng TMCP Việt Nam trong những năm gần đây có nhiều
tiến bộ và bứt phá cả về quy mô và chất lượng hoạt động, góp phần to lớn vào công
100
cuộc phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, với những kết quả đạt được về kết
quả hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại cũng đã phải gánh chịu rất
nhiều tổn thất và đang phải từng bước phục hồi, trước mắt còn phải đối mặt với
không ít rủi ro trong mọi hoạt động kinh doanh. Các số liệu thống kê về các sự kiện
rủi ro, đặc biệt là rủi ro tác nghiệp ngày một gia tăng, gây tổn thất rất lớn cho các
ngân hàng trong hệ thống.
Nhận thức được điều đó, đồng thời đánh giá công tác quản lý rủi ro tác
nghiệp của các ngân hàng thương mại muốn đạt hiệu quả cần phải có một hành lang
pháp lý minh bạch, chặt chẽ và nhất quán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã từng
bước ban hành các văn bản chính sách, quy định, quyết định, thông tư hướng dẫn về
các chính sách, hướng dẫn, hỗ trợ nhằm quản lý và điều chỉnh kịp thời hoạt động
của các ngân hàng, cụ thể như sau:
Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 của Thống đốc NHNN
Việt Nam về việc ban hành “Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động
của Tổ chức Tín dụng”. Việc tuân thủ các giới hạn an toàn này giúp các NHTM
kiểm soát được hoạt động phù hợp với năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro của
mình. Năm 2010, Quyết định này được thay thế bằng Thông tư 13/2010/TT-NHNN
ngày 20/5/2010 của Thống đốc NHNN về việc quy định các tỷ lệ đảm bảo an toàn
trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Thông tư này đã bổ sung khá nhiều các nội
dung phù hợp hơn đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng. Thông tư cũng sửa
đổi/bổ sung khái niệm về giới hạn tín dụng, tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ cấp tín dụng
do với nguồn vốn huy động Năm 2014, Thống đốc NHNN cũng đã ban hành
Thông tư số 36/2014/TT-NHNN (được sửa đổi bởi thông tư số 06/2016/TT-NHNN
ngày 27/5/2016) quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thay thế cho Thông tư 13/2010/TT-
NHNN. Đến ngày 15/11/2019, Thông tư số 22/2019/TT-NHNN đã được ban hành
sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung trong Thông tư 36/2014/TT-NHNN và sẽ chính
thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020.
101
Quyết định 35/2006/QĐ-NHNN ngày 31/7/2006 của Thống đốc NHNN về
việc “Quy định các nguyên tắc QLRR trong hoạt động Ngân hàng Điện tử” với
những quy định khá chặt chẽ về QLRR do hệ thống CNTT trong hoạt động Ngân
hàng như: Quy định về xây dựng Chính sách QLRR trong nội bộ tổ chức tín dụng
như xây dựng phương án hoạt động Ngân hàng Điện tử, nguyên tắc quản lý rủi ro
đối với bên thứ ba, quản lý rủi ro trong giao dịch đối với khách hàng, quản lý rủi
ro đối với bên thứ ba, quản lý rủi ro trong giao dịch đối với khách hàng, quản lý
rủi ro trong các trường hợp xảy ra sự cố các nội dung QLRR được quy định
đảm bảo an toàn cho các NHTM khi thực hiện các giao dịch trong hoạt động Ngân
hàng Điện tử.
Thông tư 35/2018/TT-NHNN ngày 24/12/2018 sửa đổi bổ sung một số điều
của Thông tư 35/2016/TT-NHNN ngày 29/12/2016 quy định về an toàn, bảo mật
cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet. Theo đó, ngoài việc thực hiện
đảm bảo tính bí mật, toàn vẹn của thông tin khách hàng và tính sẵn sàng của hệ
thống Internet Banking để cung cấp dịch vụ một cách liên tục, Thông tư còn yêu
cầu các tổ chức tín dụng phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá an ninh, bảo mật hệ
thống, nhận diện rủi ro, nguy cơ gây ra rủi ro và xác định nguyên nhân gây ra rủi ro,
kịp thời có biện pháp phòng ngừa, kiểm soát và xử lý rủi ro trong cung cấp dịch vụ
ngân hàng trên Internet.
Bên cạnh đó cũng có một số văn bản liên quan đến QLRRTN và kiểm tra
kiểm soát các hoạt động trong Ngân hàng đảm bảo không để xảy ra các SKRRTN
như Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN về Quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ;
Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN về Quy chế kiểm toán nội bộ của tổ chức tín
dụng; Thông tư số 44/2011/TT-NHNN về quy định hệ thống kiểm tra kiểm soát nội
bộ và kiểm toán nội bộ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài.
Gần đây nhất là Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ban hành ngày 18/5/2018 (đã
được sửa đổi bởi Thông tư số 40/2018/TT-NHNN) quy định về hệ thống kiểm soát
nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngày
17/3/2014 Ngân hàng Nhà nước ban hành công văn số 1601/NHNN-TTSGNH quy
102
định 10 Ngân hàng theo lộ trình áp dụng thí điểm Basel II về an toàn vốn (trụ cột
thứ nhất của Basel II) – mà sau đó đến cuối năm 2016 được cụ thể hóa tại Thông tư
số 41/2016/TT-NHNN (Thông tư 41), trong đó có Vietinbank. Để áp dụng Basel II,
các ngân hàng buộc phải chuẩn bị kỹ lưỡng và tăng cường đầu tư cả về nhân lực,
công nghệ lẫn chi phí vận hành để chuẩn hóa về quản trị rủi ro theo đúng chuẩn
quốc tế - vốn khắt khe hơn nhiều so với tiêu chuẩn của Việt Nam. Áp dụng tiêu
chuẩn này, hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng có thể giảm đi khoảng 1,5%
cho đến 3%, tức CAR hiện tại từ 10-11% trở lên thì theo chuẩn mới mới có thể đạt
trên 8% - là mức tối thiểu theo yêu cầu.
Trong bối cảnh hệ thống tài chính chịu nhiều tác động tiêu cực, NHNN đã có
nhiều chỉ thị nhằm tăng cường kiểm soát an toàn tiền gửi và hoạt động thanh toán,
hạn chế ảnh hưởng của rủi ro gian lận đến khách hàng và ngân hàng. NHNN đã có
các công văn như: Công văn 386a/NHNN-TTGSNH, ngày 08/05/2017; công văn
2245/TTGSNH ngày 12/07/2017 Trong đó NHNN đã có những chỉ đạo sát sao về
vấn đề bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, trong đó có vấn đề về các gian
lận nội bộ, gây thiệt hại tiền gửi cho người dân.
Đầu năm 2018, NHNN tiếp tục có văn bản số 1126/NHNN-TTGSNH ngày
23/2/2018 (sau khi xảy ra vụ việc mất tiền gửi hàng trăm triệu đồng của khách hàng
tại một NHTMCP), trong đó đưa ra bảy yêu cầu đề nghị các ngân hàng thực hiện để
đảm bảo an toàn giao dịch tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm tại các TCTD, tập trung vào
các nhóm giải pháp về công nghệ, quy định/quy trình, cơ cấu tổ chức, công tác cán
bộ, truyền thông/thông tin tới khách hàng, tương tác với NHNN và các cơ quan
chức năng khi phát sinh vụ việc sai phạm.
Có thể nói, Ngân hàng Nhà nước đang ngày càng hỗ trợ tích cực cho hệ
thống ngân hàng thương mại trong công tác quản lý rủi ro nói chung và rủi ro tác
nghiệp nói riêng, bằng việc ban hành các văn bản pháp quy và thiết lập hành lang
pháp lý ngày một rõ ràng, chặt chẽ và phù hợp với xu thế chung của thế giới cũng
như đặc điểm cụ thể của Việt Nam.
103
2.3.1.2. Hệ thống văn bản, quy định nội bộ về quản lý rủi ro tác nghiệp
của Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam
Trên cơ sở hành lang pháp lý, hệ thống văn bản chính sách về quản lý rủi ro
tác nghiệp của Ngân hàng Nhà nước và dựa trên mục tiêu, chiến lược và tình hình
hoạt động kinh doanh thực tế của mình trong từng thời kỳ, Vietinbank đã từng bước
xây dựng hệ thống văn bản, quy định nội bộ về quản lý rủi ro tác nghiệp phù hợp,
nhằm quán triệt mục tiêu, phổ biến quy định về quản lý rủi ro tác nghiệp cho toàn
thể cán bộ, nhân viên ngân hàng nắm rõ và nghiêm chỉnh thực hiện. Hệ thống văn
bản, quy định nội bộ về quản lý rủi ro tác nghiệp của Vietinbank có thể được khái
quát hóa như sau:
- Khung Quản lý rủi ro: Vietinbank ban hành Quyết định số 773/2018/QĐ-
HĐQT-NHCT64 ngày 30/11/2018 quy định về việc ban hành Khung quản lý rủi ro.
Văn bản này áp dụng đối với hoạt động quản lý rủi ro trong hệ thống Vietinbank.
Theo đó, Vietinbank quy định rõ các vấn đề mang tính nguyên tắc về công tác quản
lý rủi ro, làm nền tảng đối với hệ thống văn bản chính sách, cơ cấu tổ chức và
phương pháp luận quản lý các loại rủi ro trọng yếu; xác định quyền hạn và trách
nhiệm của đơn vị, cá nhân liên quan đến công tác quản lý rủi ro trong hệ thống
Vietinbank. Chính sách quản lý rủi ro và hạn mức rủi ro, các bước quản lý rủi ro
trọng yếu và các trường hợp đặc thù cũng được xây dựng chi tiết trong văn bản này.
- Tuyên bố Khẩu vị rủi ro tác nghiệp: Các mục tiêu về QLRRTN của
Vietinbank được văn bản hóa bằng Tuyên bố Khẩu vị rủi ro tác nghiệp (Operational
risk appetite statement), thể hiện quan điểm của Vietinbank về các mức độ chấp
nhận rủi ro trong mỗi hoạt động nghiệp vụ. Đây cũng chính là ý chí, là quan điểm
lãnh đạo của Ban lãnh đạo cấp cao trong việc QLRRTN. Trong Tuyên bố Khẩu vị
RRTN, Vietinbank xác định SKRRTN “là rủi ro tác nghiệp đã xảy ra, đã gây ra tổn
thất cho Ngân hàng (sự kiện tổn thất rủi ro tác nghiệp) hoặc chưa gây ra tổn thất
nhưng tiềm ẩn nguy cơ tổn thất nếu không có biện pháp kiểm soát hoặc biện pháp
khắc phục, giảm thiểu nguy cơ rủi ro kịp thời (sự kiện gần mất)”
Các SKRRTN phát sinh tại Vietinbank được phân loại theo RRTN đặc thù
nhằm theo dõi và quản lý SKRRTN trong toàn hàng một cách nhất quán và phù
104
hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của Vietinbank trong từng thời kỳ và quy
định NHNN, bao gồm: Rủi ro nguồn nhân lực; Rủi ro tài sản hữu hình; Rủi ro ứng
dụng CNTT; Rủi ro văn bản chính sách; Rủi ro an toàn thông tin nội bộ và Rủi ro
bảo mật thông tin khách hàng; Rủi ro tác nghiệp; Rủi ro thuê ngoài; Rủi ro gián
đoạn hoạt động kinh doanh; Rủi ro gian lận nội bộ, Rủi ro gian lận bên ngoài, Rủi
ro tuân thủ.
- Quy định quản lý rủi ro tác nghiệp: Vietinbank còn ban hành Quyết định
số 804/2018/QĐ-HĐQT-NHCT7 ngày 25/12/2018 về việc ban hành quy định quản
lý rủi ro tác nghiệp. Văn bản này áp dụng cho Trụ sở chính của Vietinbank, quy
định các vấn đề mang tính nguyên tắc về công tác quản lý rủi ro tác nghiệp, làm nền
tảng đối với hệ thống văn bản chính sách, cơ cấu tổ chức và phương pháp luận quản
lý rủi ro tác nghiệp; xác định quyền hạn và trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân liên
quan đến công tác quản lý rủi ro tác nghiệp của Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam.
Theo đó, Vietinbank xây dựng và quy định chi tiết mô hình ba tuyến bảo vệ
đối với rủi ro tác nghiệp và chu trình quản lý rủi ro tác nghiệp gồm các bước: (1)
Nhận dạng rủi ro tác nghiệp; (2) Đo lường, đánh giá rủi ro tác nghiệp; (3) Theo dõi
rủi ro tác nghiệp; (4) Kiểm soát rủi ro tác nghiệp và (5) Báo cáo rủi ro tác nghiệp.
Đồng thời quy định quản lý rủi ro tác nghiệp cũng xác định các nguyên tắc xử lý khi
xảy ra vi phạm về quản lý rủi ro tác nghiệp và các biện pháp ngăn chặn hậu quả của
những vi phạm này.
- Quy định quản lý sự kiện rủi ro tác nghiệp: Quyết định số 1368/2019/QĐ-
TGĐ-NHCT7 quy định quản lý sự kiện rủi ro tác nghiệp trong hệ thống Vietinbank.
Văn bản này áp dụng đối với tất cả các sự kiện rủi ro tác nghiệp xảy ra tại các chi
nhánh và đơn vị trụ sở chính, quy định yêu cầu, trình tự, thủ tục quản lý sự kiện rủi
ro tác nghiệp và xác định quyền hạn, trách nhiệm của các cá nhân, đơn vị liên quan
đến công tác quản lý sự kiện rủi ro tác nghiệp tại Vietinbank.
- Quy định về các công cụ quản lý rủi ro tác nghiệp: Vietinbank ban hành
Quy trình Tự đánh giá rủi ro tác nghiệp (RCSA); Quy trình thu thập dữ liệu tổn thất
105
(LDC); Quy trình thiết lập và quản lý chỉ số rủi ro chính (KRI); Quy định về quản
lý kinh doanh liên tục (BCM) và Quy định tính vốn cho rủi ro tác nghiệp. Đây là hệ
thống văn bản chi tiết quy định nội dung và cách thức sử dụng các công cụ quản lý
rủi ro tác nghiệp tại Vietinbank.
Ngoài hệ thống các văn bản nội bộ nêu trên, Vietinbank còn ban hành các
chính sách, tiêu chuẩn nội bộ áp dụng cho chính cán bộ, nhân viên của mình để đảm
bảo tránh xảy ra các rủi ro tác nghiệp có thể vi phạm quy định của Ngân hàng Nhà
nước và gây thiệt hại cho ngân hàng: Bộ tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ và
đạo đức, tác phong của nhân viên, cán bộ ngân hàng được xây dựng và áp dụng
trong toàn hệ thống; Quy định về kiểm tra, kiểm soát nội bộ của ngân hàng đảm bảo
tính kiểm soát chéo, kiểm tra theo trục dọc; Quy định hệ thống Quản lý hồ sơ rủi ro,
theo đó, các đơn vị trụ sở chính đề xuất các biện pháp kiểm tra, giám sát, theo dõi
và hỗ trợ cho các chi nhánh có mức độ rủi ro cao nhằm giảm thiểu mức độ ảnh
hưởng và tần suất xảy ra; Ban hành, điều chỉnh các quy định, quy trình, sản phẩm,
các văn bản hướng dẫn vận hành hệ thống, xử lý tác nghiệp
Nhìn chung hệ thống văn bản, chính sách nội bộ của Vietinbank về quản lý
rủi ro tác nghiệp tương đối đầy đủ và bao trùm hầu hết các hoạt động của ngân
hàng. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, hệ thống các văn bản, chính sách này cũng
cần được rà soát và xây dựng lại một cách nhất quán và đồng bộ hơn, tránh tình
trạng các văn bản cũ và mới đan xen, mang tính chắp vá và không phù hợp thực
tiễn. Đây là yếu tố quan trọng giúp ngân hàng thực hiện quản lý rủi ro tác nghiệp
một cách hiệu quả và khoa học.
2.3.2. Thực trạng quản lý rủi ro tác nghiệp tại Ngân hàng thƣơng mại cổ
phần Công Thƣơng Việt Nam từ năm 2015 - 2019
2.3.2.1. Nội dung quản lý rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại cổ
phần Công Thƣơng Việt Nam
a. Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý rủi ro tác nghiệp
Mô hình tổ chức quản lý rủi ro tác nghiệp với sự tham gia của các
Khối/Phòng/Ban tại Vietinbank có thể được mô tả như sau:
106
Hình 2.2. Cơ cấu tổ chức QLRRTN củaVietinbank
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Trong đó:
Tuyến bảo vệ thứ nhất:
Bao gồm các Chi nhánh, Đơn vị Trụ sở chính đầu mối và Đơn vị Trụ sở
chính liên quan nhằm triển khai thực hiện QLRRTN tại đơn vị bao gồm nhận dạng,
đo lường, theo dõi, kiểm soát và báo cáo QLRRTN; đề xuất, thiết lập các
BPKS/hành động giảm thiểu RRTN/triển khai các phương án khắc phục để xử lý
các lỗ hổng về kiểm soát.
Chịu trách nhiệm chính về quản lý rủi ro tác nghiệp trong hoạt động
kinh doanh.
Các đơn vị: Chi nhánh, Đơn vị TSC đầu mối và Đơn vị TSC liên quan.
Tuyến bảo vệ thứ hai:
Bao gồm Quản lý rủi ro hoạt động (tác nghiệp) và Phòng Quản lý tuân thủ.
Trong đó, Phòng QLRRTN chịu trách nhiệm quản lý đối với 8 loại RRTN đặc thù,
Phòng Quản lý tuân thủ chịu trách nhiệm quản lý với 4 loại RRTN đặc thù.
Đại hội đồng cổ đông
HĐQT
TGĐ
PTGĐ/GĐ
K
Tuyến bảo vệ thứ nhất
Đơn vị TCS
đầu mối
Đơn vị TSC
đầu mối
Chi nhánh
UBQLRR
Hội đồng rủi ro
Tuyến bảo vệ thứ
hai
Ban kiểm soát
Tuyến bảo vệ
thứ ba
Phòng QLRRTN
Phòng Quản lý
tuân thủ
Phòng KTNB
107
Chịu trách nhiệm cung cấp chính sách về rủi ro tác nghiệp, n
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- luan_an_quan_ly_rui_ro_tac_nghiep_cua_ngan_hang_thuong_mai_c.pdf