Luận án Truyện truyền kỳ Việt Nam thời trung đại: diện mạo và đặc trưng nghệ thuật

MỞ ĐẦU. 1

1. Lý do chọn đề tài. 1

2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án . 2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu . 4

4. Phương pháp nghiên cứu. 4

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn. 5

6 . Đóng góp mới của luận án . 5

7. Cấu trúc luận án . 6

CHưƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DỊCH THUẬT VÀ NGHIÊN CỨU VỀ

TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM . 8

1.1. Quá trình truyền bản nguyên tác Truyền kỳ mạn lục . 8

1.2. Tình hình giới thiệu, dịch thuật và đánh giá Truyền kỳ mạn lục từ cuối thế

kỷ XIX trở về trước . 9

1.3. Tình hình dịch thuật và nghiên cứu truyện truyền kỳ từ đầu thế kỷ XX đến

năm 1975. 11

1.4. Tình hình dịch nghiên cứu truyện truyền kỳ từ sau năm 1975 đến nay. 13

* Tiểu kết. 23

CHưƠNG 2. KHÁI NIỆM, TIÊU CHÍ XÁC LẬP, NGUỒN GỐC VÀ QUÁ

TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI

VIỆT NAM. 24

2.1. Khái niệm Truyện truyền kỳ. 24

2.2. Truyện truyền kỳ khu vực Đông Á và vai trò của Tiễn đăng tân thoại trong tiến

trình phát triển thể loại truyền kỳ khu vực Đông Á. 26

2.3. Quá trình hình thành và phát triển của truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam. 33

2.4. Xác lập tiêu chí truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam và phạm vi tác phẩm

được khảo sát . 35

* Tiểu kết. 36

CHưƠNG 3. ĐẶC TRưNG TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA TÂM LINH . 37

3.1. Khái niệm Văn hóa tâm linh. 37

3.2. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn hóa Việt Nam . 39

pdf196 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 16/03/2022 | Lượt xem: 361 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Truyện truyền kỳ Việt Nam thời trung đại: diện mạo và đặc trưng nghệ thuật, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
. Lễ dâng cúng không nhất thiết kèm theo lễ vật. Nhưng bao giờ việc khấn vái cũng đều có hương và nhiều lúc chỉ có hương là đủ kèm theo những lời cầu xin. Bởi hương (nén hương, bát hương) là một trong những tự khí tạo sự thiêng liêng trong đồ lễ thờ cúng và là một biểu hiện triết lý ngũ hành của người phương Đông. Hương cũng được xem như dấu vết còn lại của tín ngưỡng thờ thần lửa bên cạnh ngọn đèn, chén nước tượng trưng cho mặt trời và nước. Nén hương là chiếc cầu nối giữa thế giới thần, hồn và con người, có khả năng chuyển tải lời thỉnh cầu của những người khấn vái và chính mùi thơm thanh cao của hương đã tạo ra sự giao hòa giữa hai cõi. Khấn vái mong thần phù hộ cho sự nghiệp binh đao mà các nhà vua, tướng lĩnh sử dụng được kể nhiều trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục. Ở Việt điện u linh tập là các truyện về Lý Đô Úy: sau giấc chiêm bao có giặc Thát Đát xâm cướp, vua Trần Thái Tông liền sai quan lên trên đền thần đốt hương mà van vái xin đẩy giặc lui; truyện về Lý Phục Man: đời vua Lý Thái Tổ đi ngắm xem thắng cảnh tâm thần cảm hứng bèn rót ly rượu xuống dòng sông mà vái nếu có linh hồn những trang nhân kiệt thì xin nhận lễ. Trong Lĩnh Nam chích quái lục là các truyện về hai vị thần Long Nhãn - Như Nguyệt: được thần báo mộng giúp âm phù chống Tống, vua Lê Đại Hành lập tức đốt hương ở trước thuyền ngự mà khấn, rồi giết súc vật tế lễ, đốt mũ áo, voi ngựa giấy, tiền giấy; truyện về thần sông Bạch Hạc: Lý Thường Minh nhà Đường muốn đặt tượng trong quán ven sông Bạch Hạc để thờ bèn thắp hương khấn thần linh ứng hiện rõ hành trạng. Hay tác giả Công dư tiệp ký kể chuyện chúa Trịnh Tùng đi đánh giặc qua miếu cổ khấn thần phù hộ mau thắng trận rồi sẽ trùng tu miếu, ban sắc phong (Đạp đầu thuồng luồng oai thần hiển hách). Trong nhiều tình thế khác nhau nguy hại đến tính mạng hoặc bất lực trước sức người nhỏ bé, con người cần đến thần như một sự giải thoát, một sự giúp đỡ nhiệm mầu, xem đó như một chỗ nương tựa để cầu xin những điều tốt đẹp nhất: người lái buôn bị chủ thuyền xô xuống biển bèn khấn Long Vương cứu (Cá thần - Lan Trì kiến văn lục); sau 3 năm chung sống với người chồng mang lốt dê, cô gái lúc đêm vắng ngửa mặt khấn trời rồi chết (Dương phu truyện - Thánh Tông di thảo); nghe có tiếng oán than lẫn trong gió mưa, nhà vua liền khấn nếu ai có chuyện gì cứ thực tâu bày (Mộng ký - Thánh Tông di thảo); Điền Quận Công đem quân đắp đê nhiều lần cứ bị con cá lớn vẫy đuôi làm vỡ đê thì khấn vái thủy thần ủng hộ ban phước cho dân (Điền 81 Quận Công - Công dư tiệp ký); vợ Thái Công quá ngày chưa sinh nở cũng mời thầy cúng lễ (Vân Cát thần nữ - Truyền kỳ tân phả); hai chị em nhà nọ bị lạc sang Ai Lao đã khấn thần Đế Thích giúp trở về (Đế Thích - Công dư tiệp ký); không phân biệt được tinh chuột giả dạng thành gian phu với người chồng thật của người phụ nữ, nhà vua phải đốt hương cầu khấn nhờ Đổng Thiên Vương giúp (Thử tinh truyện - Thánh Tông di thảo). Khấn vái, lễ viếng với tâm thành là việc làm thường xuyên thể hiện nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt. Hình thức lễ chùa khấn Phật cũng được kể trong các truyện: Vân Cát thần nữ, Bích Câu kỳ ngộ (Truyền kỳ tân phả); Túy Tiêu truyện, Đông Triều phế tự lục (Truyền kỳ mạn lục). Có thể thấy khấn vái là một cách hành xử quen thuộc mà người Việt thể hiện thành tâm của mình. Đối tượng cầu khấn có thể là thần linh trong các miếu đền, những vong hồn linh thiêng song trên hết là Trời. Họ cầu Trời vì trong thâm tâm, họ tin rằng: trời với quyền năng tối cao, quyền lực bí ẩn có thể và sẽ nhận lời kêu xin. Trời trong ý niệm của người Việt có một bản chất cao cả, vượt ra ngoài bản chất nhân thế hơn là các thần linh và vong linh người chết. Nên trời đối với người Việt thiêng liêng mà rất gần gũi. Niềm tin tâm linh vào đấng tối cao này được Nguyễn Du phản ánh rõ trong Truyền Kiều. Các nhân vật đặc biệt là Thúy Kiều rất nhiều lần than thở, van vái, khấn nguyện, thề nguyện trước trời đất: "Trời làm chi cực bấy trời / Nàng rằng trời thẳm đất dày / Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai mặt một lời song song...". Phật tiên, ma quỷ cũng là những thế lực vô hình mà nhân vật hướng đến để cầu xin để được nương tay trước những oan khiên, nghiệp chướng của cuộc đời: "Phật tiền thảm lấp sầu vùi / Kìa gương nhật nguyệt nọ đao quỷ thần...". Lời khấn cầu nhiều khi chỉ cần được thần linh chứng giám. Thấy ngôi đền thờ tên giặc phương Bắc làm hại dân, Ngô Tử Văn bèn gội tắm trai giới, khấn trời rồi đốt (Tản Viên từ phán sự lục); oan ức vì bị nghi ngờ, trước khi nhảy bến Hoàng Giang, thiếu phụ Nam Xương khấn thần linh chứng giám cho lòng trong sạch của mình (Nam Xương nữ tử truyện - Truyền kỳ mạn lục); cô gái họ Trần hiếu nghĩa thường vào khấn miếu thờ Ô Phong đại vương bày tỏ nỗi lòng không được làm trai để nuôi dưỡng cha già (Gái hóa trai - Sơn cư tạp thuật). Khấn vái vừa là cách ứng xử quen thuộc với thế giới thần linh cũng vừa là nét văn hóa tâm linh phổ biến của người Việt trong suốt một thời kỳ lịch sử. Hình thức này xuất hiện ở nhiều tác phẩm cho thấy đây là một cách tương không, giao tiếp phổ 82 biến của người xưa với thế giới siêu hình. Đó là nét riêng tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc trong văn học trung đại. Lập miếu, tạc tượng thờ, phong sắc thần là một bộ phận của văn hóa tinh thần, văn hóa tâm linh đã để lại nhiều giá trị văn hóa hữu hình bên cạnh những giá trị văn hóa vô hình. Đó là những kiến trúc nghệ thuật (đình, đền, miếu), những pho tượng trong các miếu đền Tất cả trở thành những biểu tượng phát tín hiệu thiêng liêng về thế giới thần. Đền, miếu là những kiến trúc văn hóa phổ biến ở làng xã được dựng để thờ thần. Hầu hết đền miếu đều được nhân dân lập ra ngay sau khi các ngài “hóa” để tỏ lòng tôn kính và sau được triều đình sắc phong, ban điển lễ cho phép ngàn năm hương hỏa phụng thờ. Phong sắc cho thần là một cách tôn thêm sự thiêng liêng cho thần của nhà nước phong kiến. Việc sắc phong căn cứ vào mức độ công trạng mà phân ra Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần hay Hạ đẳng thần, là Vương hay Đại vương. Cũng có nhiều trường hợp nhà vua cảm sự anh linh của những linh hồn thường hiển linh giúp đỡ dân làng mỗi khi cầu cúng mà truy phong, ban mĩ tự (truyện về phu nhân Mị Ê, Hậu Thổ phu nhân, thần ở Chằm Lâm Đàm, dị nhân làng Hạ Bì...). Một số lượng đáng kể miếu đền mà nhân dân lập nên và thờ cúng sinh thời là những con người bình thường. Loại thần này không có sắc phong của triều đình nhưng rất linh thiêng, có thể ban phúc hay giáng họa cho dân. Có thể đó là những thần có lai lịch như: Lĩnh hầu Ngô Phúc Du trong Liệt phụ Đoàn phu nhân (Tang thương ngẫu lục); cô Đào trong Cô Đào; chị em gái trong Đế Thích; người con gái trong Suối Rắn (Công dư tiệp ký). Thần thiêng được lập đền miếu còn là những ma quỷ tác quái dân làng với mục đích trấn trị mã tà: Ma cổ thụ - Lan Trì kiến văn lục; Hồ tinh truyện, Mộc tinh truyện trong Lĩnh Nam chích quái lục. Trong tâm thức dân gian dường như những người bình thường, tầm thường khi chết lại càng thiêng hiển linh. Tuy họ không được các vương triều phong tặng, thậm chí bị coi là tà thần, nhưng nhân dân vẫn nhớ về họ và quanh năm lễ vái phụng thờ. Thần được lập miếu thờ tuy có khác nhau về công tích, đức độ, âm phù... song xu hướng chung vẫn là tôn vinh sự thiêng liêng của thần mà bất cứ ai cũng phải trân trọng bởi “chẳng thiêng ai gọi là thần”. Và bao trùm lên hết là nhu cầu về sự chở che. Hành trạng của các thần theo thời gian đã dần mờ nhạt sau màn sương lịch sử nhưng người dân vẫn muốn nó hiện ra một cách cụ thể, vật chất giữa cuộc đời. Đó là nguyên nhân sâu xa của việc lập miếu đền, tạc tượng thần. Những việc làm ấy đều đem lại sự 83 an tâm trong đời sống tinh thần của mọi người vì “có thờ có thiêng” và vẻ đẹp của thuần phong mỹ tục. Sự hiện hữu của các miếu đền còn có ý nghĩa là một chỗ dựa tinh thần của dân làng trong cuộc sống quá nhiều bấp bênh. Cái mà người dân tìm kiếm và đáp ứng lòng mong mỏi của họ không hẳn là một ông thần cụ thể mà là niềm tin của họ được đáp ứng, là cái không khí linh thiêng, trang trọng ở các miếu đền, tượng thần phả vào cuộc sống. Nhìn một cách khái quát, hiện tượng tâm linh cầu cúng, khấn vái, tế tự là một trong những biểu hiện văn hóa tiêu biểu của văn xuôi trung đại. Đó vừa là tín ngưỡng, cũng là phong tục tập quán lâu đời của người Việt. Nó có nguồn gốc sâu xa trong đời sống, quan niệm và tư duy của con người và đi vào tâm thức mọi người. 3.4.6. Linh ứng trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam Linh ứng là sự ứng nghiệm rất nhanh rất màu nhiệm của các lực lượng siêu hình trước lời cầu cúng, van vái của con người hay điềm triệu của trời. Môtip hiển linh vì vậy được sử dụng rất nhiều trong truyện ngắn trung đại bởi đây là phần có nhiều chi tiết thần dị thể hiện sự linh thiêng thần thánh trong đời sống tâm linh người Việt. Linh ứng biểu hiện ra hai hình thái: ứng báo và quả báo. Ứng báo (báo ứng) ở đây là sự gặp trở lại điều lành ứng với việc làm thiện của con người hay sự ứng nghiệm có tính tích cực những tiên tri, đoán định của thần. Còn quả báo được hiểu ở khía cạnh là sự đáp lại điều ác mà con người đã làm. Cả hai hình thái linh ứng đã được thể hiện ngay trong từng hiện tượng tâm linh (giấc mộng, cầu cúng, điềm báo, tướng số...) song ở đây chúng xuất hiện là một mắt xích trong kết cấu của các truyện kể, tham gia vào diễn biến cốt truyện. Chiếm tỷ lệ nhiều hơn trong các tác phẩm là hình thức ứng báo. Ứng báo thể hiện ra các dạng tiêu biểu: ứng báo từ giấc mộng, từ cầu cúng, tướng số, từ đất thiêng và ứng báo từ làm việc thiện. 3.4.6.1. Ứng báo Giấc mộng là cách liên thông giao tiếp phổ biến của con người với thần linh. Nên sự hiển linh của thần trước hết thông qua giấc mộng. Ở đó mệnh số, phúc họa đời người đều như được báo trước. Trong Vũ trung tùy bút, thiên thần Hồ Động Đình, tác giả kể cuộc đời của ông Hoàng Bình Chính là một chuỗi dài những giấc mộng. Với bảy giấc mộng và sự ứng mộng được kể, cuộc đời và con đường công danh của nhân vật như đã sắp sẵn bởi một mĩ nhân cùng ông có tiền duyên ở Hồ Động Đình. Một số nhân vật khác là Nguyễn Thế Khải, Thượng Thư Công hay Nguyễn Trọng Thường cũng là thần ở đây nhập mộng báo trước sự việc cho người thân. Sự ứng nghiệm lời 84 thần chứng tỏ sự thiêng liêng của lực lượng gọi là Thần theo quan niệm dân gian. Mặt khác, theo Phạm Đình Hổ, đó đều là những chuyện quái lạ mà con người “không thể lấy thường tình mà ước đoán được” bởi “chúng ta là người trần mắt thịt mà muốn phân tích những việc trên trời không tiếng không hơi, nếu không viện được lẽ gì mà bàn càn thì chỉ là dè chừng bắt bóng, mơ màng không sao đích xác được”. Cũng theo ông, truyện kể về các nhân vật này cũng có nguyên nhân “các bậc tiền bối chúng ta thường trước là thần bên Trung Hoa, phần nhiều lại là thần ở Động Đình, cái nhân quả thần với người tuần hoàn đi lại, dù non sông cách trở cũng không thể ngăn được”. Có thể nói, không gian giấc mộng rất quan trọng với người xưa. Nhưng không hoàn toàn giống loại không gian này trong truyện truyền kỳ, mộng ở đây là thực, sau mơ thành thật: sự thật cuộc đời Chu Sinh (lấy Đồng Nhân rồi sinh con trai, 12 năm sau đi đánh giặc ở núi Hoa Điệp, dâng công triều đình rồi mất...) y hệt giấc mộng với mối tình hẹn ước Châu Trần cùng Mộng Trang, làm phò mã quốc mẫu núi Hoa... Những gì mà Hoàng gặp khi đi việc quan qua Tam Giang đúng như anh đã gặp trong mộng khi bị bắt đi trình Diêm Vương. Hay ở một số truyện trong Truyền kỳ mạn lục, lời thần báo mộng là thực: hai con trai của Trọng Quỳ lớn lên đi theo chân nhân họ Lê và làm quan đúng như lời hồn ma Nhị Khanh (Khoái Châu nghĩa phụ truyện) và vợ quan Hành Khiển có mang sinh ra hai con trai ngay sau giấc mơ bị hai con rắn cắn vào mạng sườn trái (Đào thị nghiệp oan ký). Trong Mộng ký (Thánh Tông di thảo), nhà vua gặp phong thư có đề hai bài thơ và tìm gặp một quả chuông với cây đàn tỳ bà chôn dưới gốc anh đào đúng như trong mộng. Hay hình ảnh người đàn bà kêu xin tha mạng cho mẹ tròn con vuông trong giấc mộng của Quan tư đồ Xuân Quận Công (Vũ trung tùy bút) và nhà sư (Vứt dao đồ tể - Vân Nang tiểu sử) được hiện thực hóa ngay khi tỉnh mộng (con cá chép và con lợn đến ngày sinh nở)... Tất cả đều chứng tỏ phép nhiệm màu thần thánh trong quan niệm người xưa. Cũng có thể xem đây là một số trong vô vàn chuyện thần kỳ quái dị đầy rẫy trong trời đất mà quốc sử không thể chép hết. Sự hiển linh của thần từ giấc mộng còn ứng vào việc thi cử, đỗ đạt. Người xưa quan niệm khoa bảng vốn có số định và được tiền định. Đó là truyện về ông tham chính họ Vũ (Thi đỗ do tiền định), Ngô Nhân Hân (Cờ vàng cắm trên lầu thi) trong Sơn cư tạp thuật; ông Võ Trấn (Việc thi cử - Vũ trung tùy bút), ông Trần Văn Vỹ (Đồng Xuân quỷ - Tang thương ngẫu lục), hai ông Cử họ Nguyễn và họ Trần (Kỳ mộng - Lan Trì kiến văn lục). 85 Cầu cúng, khấn nguyện cũng là một cách giao tiếp trực tiếp với thánh thần nên dường như mọi lời cầu khấn đều thấu tỏ đến thần và liền nhận được trợ thuận. Đó là chuyện về các nhân vật trong Đế Thích (Công dư tiệp ký) và Truyện Trương Ba (Thính văn dị lục), Gái hóa trai (Sơn cư tạp thuật), Cá thần (Lan Trì kiến văn lục), Lệ Nương truyện (Truyền kỳ mạn lục), Vân Cát thần nữ (Truyền kỳ tân phả). Đáng chú ý là sự hiển linh của các vị thần giúp vua đánh giặc ngay sau lễ cầu đảo hay lời cầu khẩn được kể trong Lĩnh Nam chích quái lục và Việt điện u linh tập. Các thần dù thuộc “phẩm loại nào” cũng đều hiển linh cứu dân phò vua giúp đời. Đó là một mắt xích trong các truyện kể nhằm nhấn mạnh tài năng uy đức của các nhân vật. Ngoài các vị thần là những anh hùng lịch sử trong quan niệm dân gian “sinh vi tướng tử vi thần” như Phùng Hưng, Lý Hoảng, Hai Bà Trưng thì các vị thần là khí thiêng sông núi như thần Đồng Cổ, thần Tản Viên... cũng góp công lớn trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước của các nhà vua. Đặc biệt các vị thần được lịch sử hóa như Long Quân, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử đã nhiều lần trở về phò trợ cho các thế hệ: Thánh Gióng giúp Lê Đại Hành đánh đuổi quân Tống (Sóc Thiên Vương truyện, Sóc Thiên Vương sự tích ký), giúp Lê Thánh Tông trừ yêu quái, xét rõ nghi án (Thử tinh truyện - Thánh Tông di thảo). Sự báo ứng của thế giới tâm linh còn là sự ứng nghiệm những lời tiên đoán, phản báo của các thầy tướng số về sự nghiệp khoa cử của các văn nho. Trong Công dư tiệp ký, Vũ Phương Đề ghi lại nhiều câu chuyện về sự thành danh của các nhân vật lịch sử từ lời phán bảo của thần, ma: ông Quách Giai đỗ Thám hoa khoa Quý Hợi (1683) (Thám hoa được giáng xuống Phù Khê); Công Lương đỗ Tiến sĩ năm Kỷ Hợi (Mạo thủ khoa, Cửu trùng đặc chỉ), Đỗ Uông đỗ Bảng nhãn khoa Bính Thìn (1556) (Dóng ngựa thi thơ). Lời phán của các tiên nhân còn ứng nghiệm cả trong sự thay đổi các triều đại: sau 8 đời kể từ Lý Thái Tổ, nhà Lý nhường ngôi cho nhà Trần đúng như bài thơ giáng bút mà Đa Bảo thiền sư gặp (Phù Đổng thổ địa thần - Việt điện u linh tập); miếng kính ghi chữ Lê dần đậm to hơn chữ Mạc dị nhân tặng cho Nguyễn Kính quả ứng với sự thay đổi triều chính (Nguyễn Kính - Vũ trung tùy bút), việc vua Ý Tông nhường ngôi cho Hiển Tông thật đúng lời thầy bói xem cho Nguyễn Công Hãng (Nguyễn Công Hãng - Tang thương ngẫu lục) hay việc nhà Lê mất không bao lâu sau đúng như lời hồn ma trong giấc mơ của ông Trần Văn Vỹ (Đồng Xuân quỷ). Những ứng nghiệm trên một lần nữa chứng tỏ tín ngưỡng thần thánh rất phổ biến trong đời sống con người thời trung đại. 86 Đất thiêng là nơi hội tụ linh khí núi sông, nên cùng với các hiện tượng khác đất thiêng đặt dương cơ âm phần cũng góp phần tạo nên công danh phú quý cho các nhân vật. Sự báo ứng ở đây quả kinh dị khôn lường. Đó là các truyện kể về Đinh Tiên Hoàng trong Lĩnh Nam chích quái lục và Công dư tiệp ký, về Đàm Thận Huy và Nguyễn Trãi trong Tang thương ngẫu lục, về Nguyễn Phúc Ngộ và Nguyễn Giáp Hải trong Công dư tiệp ký, về Lê Ích Mộc trong Sơn cư tạp thuật. Với quan niệm về sự tồn tại của một thế giới lưỡng nguyên, con người luôn tin rằng mọi việc làm của mình đều được thấu tỏ bởi “trời cao có mắt”. Một trong những hình thức báo ứng của thế giới bên kia với thế giới bên này là sự báo ứng những nghĩa cử cao đẹp, là quả phúc mà thần thánh mang lại. Dù không phải là người tài giỏi nhưng chỉ có hai anh em họ Đặng mới mò được hạt châu, được hưởng phúc lộc của vua bởi họ đã thành tâm lập đền miếu phụng tự thần ngự trong miếng gỗ chài được (Nam Hải long vương - Việt điện u linh tập). Nguyễn Tử Khanh với tình hữu ái, tấm lòng thành thật “thờ anh như cha nuôi cháu như con” được thượng đế thương tình nên con cháu đều đỗ Tú tài, gia tư trở nên giàu có (Hiếu đễ nhị thần truyện - Thánh Tông di thảo). Phạm Tử Hư một lòng thành kính thờ thầy học Dương Trạm trong ba năm đã cảm kích đến Thiên đế nên cho anh đỗ Tiến sĩ, mọi việc họa phúc gia đình đều được thầy báo cho biết trước (Phạm Tử Hư du thiên tào lục - Truyền kỳ mạn lục). Hai mẹ con nhà nọ tốt bụng cho bà già ăn ngủ nhờ qua đêm nên được báo trước tai họa và cách tránh thoát khỏi nạn lụt, sản sinh ra dòng họ (Truyện Hồ Ba Bể - Công dư tiệp ký). Văn học là sản phẩm sáng tạo. Thành công của tác giả truyền kỳ trung đại là đã sáng tạo theo một “cơ chế” có tính chuẩn mực. Đó là sự khúc xạ tín ngưỡng dân gian, nếp sống văn hóa tâm linh người Việt - nếp sống theo nguyên tắc “ở hiền gặp lành” và “làm phúc ba đời vui”. 3.4.6.2. Quả báo Ngược lại ứng báo, quả báo là cái điều dữ ứng với việc làm bất lương hay nhạo báng thần linh. Những hành vi trái đạo lập tức gặp sự hiển linh của thần. Sang đô hộ nước Nam, Cao Biền với âm mưu yểm nơi linh tích đã dùng nhiều kế sách (dùng kim đồng thiết phù, nhét cỏ bấc vào bụng con gái chưa chồng lừa thần, đúc tượng sắt theo hình dạng thần nhân), lập tức ông ta nhận về sự đáp trả của các chính khí thần: “đêm hôm ấy sấm động ầm ầm, gió mưa dậm dật, đất trời u ám, thần tướng hò reo, kinh thiên động địa. Trong khoảnh khắc kim đồng thiết phù bật ra khỏi đất biến thành tro, 87 bay tan trên không” (Tô Lịch thần truyện); “vừa đọc thần chú bỗng trời đất mù mịt ngày đêm, mưa gió giật đùng đùng, tượng sắt nát vụn ra mà bay lên không” (Long Đỗ chính khí thần) và sự quả báo đích đáng nhất: Biền bị vua Đường triệu về, sau bị giết. Cùng với dã tâm xâm lược và âm mưu yểm thần thiêng nơi đình chùa nước Việt, quân Minh đã đốt tượng thờ sư chăn trâu và lập tức trời đổ mưa huyết ba ngày đêm liên tục làm quân lính nhiễm độc mà chết nhiều, chỉ khi tạc tượng lại như cũ và lập đàn cầu cúng mới yên (Sư Chăn Trâu - Công dư tiệp ký). Phép thuật trong tay các đạo nhân là phép màu huyền nhiệm nhưng khi không y lời pháp sư, phép thuật coi như vô hiệu, thần thánh sẽ mất thiêng. Đó là sự quả báo mà các nhân vật trong Động Hồ Công (Sơn cư tạp thuật) và Kinh Thành Dung (Tang thương ngẫu lục) phải chịu: cậu bé để rơi cây gậy xuống nước nên thuật chữa bệnh đạo sĩ Hồng Công truyền cho mất nghiệm, anh làm mướn đi xin tiền một lần lấy quá 36 đồng nên lá bùa chân nhân ban cho hết thiêng. Người Việt luôn tâm niệm “chẳng thiêng ai gọi là thần” nên thần dù “nhìn mà chẳng thấy, lắng mà chẳng nghe” nhưng lại thấu mọi lời người nói, việc người làm. Vì vậy, mọi việc làm trái đạo đức luân thường, mọi phát ngôn “chạm húy” thần đều bị quả báo. Là tay cao cờ không ai bì kịp nhưng chỉ một lần vung tay ngạo mạn “dẫu có Đế Thích cũng không gỡ nổi”, lập tức thần nhân hiển linh làm Trương Ba thành người thua cuộc (Đế Thích ký, Truyện Trương Ba). Việc đắp đê liên tục thất bại, bị mắc bệnh chết kéo theo thảm họa chết dịch cho dân làng là hậu quả tai hại mà Điền Quận Công hứng chịu từ lời nói khinh nhờn thần linh (Điền Quận Công - Công dư tiệp ký). Mấy người đi hái quả quý đã trái lời dị nhân tiết lộ chuyện bị hộc máu chết (Hồng Lĩnh sơn thần truyện - Lĩnh Nam chích quái lục). Sự quả báo nhãn tiền trong văn hóa tâm linh thể hiện rõ nhất ở nhóm truyện kể về hậu họa từ lòng tham lam bất nghĩa và việc làm sai trái. Đó là truyện về các nhân vật: Ngô Tuấn Củng suốt đời không đỗ đạt vì đã phụ bạc một người con gái (Không được! Không được! - Sơn cư tạp thuật); Nguyễn Tự Cường chết, dòng dõi con cháu nghèo khổ vì khi đương quan đã đánh tráo hai cây đèn thờ bằng vàng trong chùa Quang Minh (Nhà sư Bật Sô - Công dư tiệp ký); tên vô lại bị thần đuổi khỏi nhà vì tham của mà giết hai đứa con (Thần giữ của - Lan Trì kiến văn lục); dân làng bị dịch bệnh chết hàng loạt vì đã giết đứa bé do con bò sinh ra (Điềm quái gở - Vũ trung tùy bút). 88 Linh ứng là hiện tượng tâm linh thể hiện rõ nhất quan niệm sống bình dị mà vô cùng sâu sắc của nhân dân về quy luật cuộc đời “gieo gì găt nấy”. Những gì là “ác giả” tất sẽ gặp “ác báo” và không chỉ “hại nhân nhân hại” mà còn bị thần linh trả báo. Đây mới là sự trừng phạt đáng sợ nhất. Sự ứng nghiệm của đạo trời trong cuộc tương giao với con người thông qua các hiện tượng giấc mộng, phép thuật, tướng số, cho thấy cơ trời thật nhiệm màu gieo vào lòng người đọc một niềm tin mãnh liệt “về sự cảm ứng ở giữa khoảng trời và người thật sâu mờ”. Có thể, mối liên quan giữa trời đất, thần thánh và cuộc bể dâu nhân thế này với con người thời nay là cái gì đó phi thực tế, khó tin nhưng đó là hiện thực đời sống, là tín ngưỡng văn hóa của người trung đại. 3.4.7. Hồn ma, hóa kiếp trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam 3.4.7.1. Hóa kiếp người thành vật, vật thành người Hoá kiếp nguời thành vật thể hiện ở hiện tượng người hoá rắn (dạng khác là rồng, thuồng luồng, giao long), hoá hổ. Vì sao? Hổ là một trong những động vật có một uy lực tự nhiên do sức mạnh hay do tuổi tác (giống như cá voi đối với dân chài miền biển). Nó được thờ kính còn vì tinh thần của nó rất mạnh. Nó nhạy cảm với những lời cầu xin của mọi người, là kẻ phân xử và chỉ ăn thịt những kẻ bị luật lệ của trời trừng phạt. Hổ còn là loài có bản năng đoán định được ý định của con người và thay đổi toan tính ở người, và đó chính là biểu hiện của thứ quyền lực cao hơn hết. Với nhận thức “dẫu là loài ác thú nhưng vì nó cũng có điểm trí thức” dân gian có một niềm tin thiêng liêng về loài vật này: dù có mang nanh vuốt của hổ nhưng nếu giữ được cái tâm thiện thì sớm muộn cũng được trở lại làm người. Các truyện kể về sự hóa kiếp người - hổ - người cho thấy điều đó: Hóa hổ - Tang thương ngẫu lục; Bách nhật ngải - Vân nang tiểu sử. Hóa kiếp người thành rắn, người mang lốt rắn: Thị Lộ hóa thành rắn bò xuống nước khi Nguyễn Trãi bị kết tội (Lê Công Trãi), Hoàng tử khi bị lên đậu hóa ra con thuồng luồng bò đi (Linh Lang từ - Tang thương ngẫu lục), Hai con trai Nhược Chân hóa hai con rắn vàng khi sư làm phép trừ tà (Đào thị nghiệp oan ký); rắn hóa làm chàng trai đẹp cưỡng hiếp người phụ nữ (Đứa con của rắn - Lan Trì kiến văn lục); Bà già đội lốt giao long xin ngủ trọ nhà mẹ con người nghèo (Truyện hồ Ba Bể - Công dư tiệp ký). Cùng với tín ngưỡng vật linh phổ biến trong dân gian, có thể hiểu hiện tượng hóa kiếp này từ học thuyết về linh hồn trong lý thuyết vật linh nguyên thủy: xuất phát từ một đặc trưng rất nổi bật là những con vật nhờ có thuộc tính thay da nên thường đóng vai trò quan trọng trong quan niệm về phục sinh và bất tử. Theo đó, một số con 89 vật như rắn, thuồng luồng, cá sấu, hổ... rất được kính trọng. Chúng được coi là do người biến hóa ra nên thiêng liêng. Mặt khác, còn có thể nhìn nhận hiện tượng này từ quan niệm của Đạo giáo. Con người chết đi rồi sống lại theo nguyên hình hay chuyển sang dạng sống khác. “Người là giống tối linh nhưng nam nữ hình dạng khác nhau hóa thành hạc, thành đá, thành hổ, thành vượn, thành cá, thành ba ba lại không phải ít. Đến như núi cao biến thành chằm, hang sâu biến thành gò, đấy đều là sự biến hóa của các vật lớn”.(Trần Nghĩa, Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam danh mục và phân loại). Cũng xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, dân gian ta cho rằng vật sống, tồn tại lâu ngày sẽ thành yêu (tinh) kiểu “mèo già hóa cáo”. Chúng có thể thoát hình biến hóa hay “đội lốt để tìm nhau” vì “duyên xưa chưa hết hay vì oán cứ chưa tan”. Đó là sự biến hiện của các tinh vật: tinh dê: con dê cô gái gặp một ngày hóa chàng trai chung sống hàng đêm (Dương phu truyện); tinh chuột: con chuột đêm đêm hóa tên gian phu ái ân với vợ anh học trò (Thử tinh truyện - Thánh Tông di thảo); tinh khỉ: lân đá và tinh khỉ hóa thành Kiều Nương và Dương Giới để lấy nhau (Việt Nam kỳ phùng sự lục) hay con cáo và con khỉ hóa thành hai người đàn ông vào hành cung yết kiến vua Trần và Tể tướng Quý Ly (Đà Giang dạ ẩm ký). Con vật đã vậy, những đồ vật, cây cối ở xung quanh ta không dùng đến lâu ngày hay “ở trong chốn rừng âm u không người đi tới” cũng thành yêu. Ta gặp trong Lĩnh Nam chích quái lục nhiều truyện kể vật thành tinh có phép biến ảo muôn hình (Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh, Kim Quy truyện...). Đến các tác phẩm giai đoạ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_truyen_truyen_ky_viet_nam_thoi_trung_dai_dien_mao_va.pdf
Tài liệu liên quan