Luận văn Địa lí nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên

LỜI CAM ĐOAN . i

LỜI CẢM ƠN . ii

MỤC LỤC . iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT. iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU . v

DANH MỤC HÌNH. vi

MỞ ĐẦU. 1

1. Lí do chọn đề tài. 1

2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu của đề tài . 2

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. 3

4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu. 4

5. Những đóng góp của đề tài. 8

6. Cấu trúc của luận văn. 8

PHẦN NỘI DUNG. 9

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỊA LÍ NÔNG NGHIỆP. 9

1.1. Cơ sở lí luận. 9

1.1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến nông nghiệp . 9

1.1.2. Vai trò của sản xuất nông nghiệp. 10

1.1.3. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp . 12

1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp. 13

1.1.5. Các tiêu chí đánh giá phát triển nông nghiệp cấp tỉnh. 15

1.1.6. Một số hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp. 16

1.2. Cơ sở thực tiễn . 18

1.2.1. Phát triển nông nghiệp Việt Nam. 18

1.2.2. Phát triển nông nghiệp vùng Trung du và miền núi phía Bắc. 21

Tiểu kết chương 1. 23

Chương 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỊA LÍ NÔNG NGHIỆP

TỈNH THÁI NGUYÊN . 24

2.1. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ. 24

pdf116 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 26/02/2022 | Lượt xem: 290 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Địa lí nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
trong nền kinh tế nhiều thành phần song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: thiên tai, dịch bệnh gia súc; giá cả đầu vào ở hầu hết các ngành sản xuất đều tăng làm cho chi phí sản xuất tăng cao. Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2016 TT Chỉ tiêu Đơn vị 2010 2012 2014 2016 1 Dân số trung bình 1000 người 1.131,3 1.149,1 1.173,2 1.246,6 2 GRDP (giá so sánh 2010) Tỷ đồng 23.774,2 24.090,0 35.759,9 52.070,5 3 GRDP/người Nghìn đồng 18.975,0 28.426,0 37.326,0 53.555,0 4 Thu ngân sách trên địa bàn Tỷ đồng 6.204,9 8.671,2 10.384,3 15.682,6 5 Chi ngân sách địa phương Tỷ đồng 5.777,1 8.166,0 9.543,2 10.853,4 6 Lương thực bình quân đầu người Kg/người 367 386 379 378 7 Giá trị hàng hóa xuất khẩu Triệu USD 98,9 136,5 8.966,8 19.100 8 Giá trị hàng hóa nhập khẩu Triệu USD 301,3 383,5 8.150,8 11.944 Nguồn: [4] Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2016 ước đạt 9.735,6 tỷ đồng, gấp 3,57 lần so với năm 2010; thu trong cân đối đạt 9.559,1 tỷ đồng, chiếm 98,2%; tổng hợp các loại thuế nhà đất, chuyển quyền sử dụng, cấp quyền sử dụng đất chỉ đạt 1.652,2 tỷ đồng, chiếm 21%. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong ngân sách so với năm 2010 tăng từ 15,2% lên 23,6% năm 2016. 41 Hình 2.6. GRDP và tốc độ tăng trưởng GRDP tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2016 Trong giai đoạn 2006 - 2016, Thái Nguyên là tỉnh đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, GRDP bình quân đầu người luôn ở mức khá so với bình quân chung cả nước và cao so với vùng Trung du miền núi phía Bắc. GRDP (giá so sánh 2010) của tỉnh đạt 52.070,5 tỷ đồng, gấp 2,4 lần năm 2010. GRDP tính theo giá hiện hành đạt 66.760,6 tỷ đồng gấp 2,8 lần năm 2010; GRDP bình quân đầu người tính theo giá hiện hành năm 2016 đạt 53,555 triệu đồng, bằng 110,2% mức bình quân cả nước (48,6 triệu đồng). Trong thời kỳ 2006- 2015, Thái Nguyên luôn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức trung bình của cả nước và của vùng TDMNBB (khoảng 11,33%). Từ năm 2011 đến 2015, mặc dù tình hình kinh tế chung có nhiều biến động và gặp nhiều khó khăn nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn đạt từ 6,2% đến 25,2%, cao hơn nhiều so với mức bình quân của cả nước năm 2015 là 5,98%. Có thể thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2010 - 2016 đạt 13,7%, cao hơn 7,68% so với mức bình quân chung của cả nước (tương ứng của cả 42 nước là 6,02%). Sự tăng trưởng GRDP đã góp phần cải thiện GRDP/người từ 21,0 triệu đồng (năm 2010) lên 53,6 triệu đồng (năm 2016), đứng thứ nhất vùng TDMNBB. [4] Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh có bước chuyển mạnh mẽ. Ngành nông nghiệp đã phát triển theo định hướng dài hạn của quy hoạch. Mặc dù, liên tục đối đầu với nhiều khó khăn về thời tiết bất lợi, dịch cúm gia cầm bùng phát, giá chi phí đầu vào tăng, nhưng khu vực nông nghiệp vẫn phát triển khá ổn định theo hướng thâm canh, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi và ngày càng nâng cao tỷ suất hàng hoá. Sự chuyển dịch cơ cấu của khu vực này theo hướng giảm dần tỷ trọng khá nhanh, từ 26,21% năm 2005 xuống còn 15,5% năm 2015. Bảng 2.5. Chuyển dịch cơ cấu ngành giai đoạn 2005 - 2016 Chỉ tiêu Tổng sản phẩm (Tỷ đồng, giá hiện hành) Cơ cấu (%) Năm 2005 Năm 2010 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2005 Năm 2010 Năm 2015 Năm 2016 Toàn tỉnh 6.587,4 23.774,2 58.543,9 66.760,6 100 100 100 100 Công nghiệp - xây dựng 2.550,3 8.485,5 28.916,3 34.027,3 38,71 35,7 49,4 51,0 Dịch vụ 2.310,8 10.408,1 20.040,4 22.395,2 35,08 43,8 34,2 33,5 Nông, lâm, ngư nghiệp 1.726,4 4.880,6 9.587,2 10.338,1 26,21 20,5 16,4 15,5 Nguồn: [4] Năm 2016, triển khai thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm, tỉnh Thái Nguyên đã và vượt mức kế hoạch hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế; tốc độ phát triển kinh tế tăng khá; thu nhập bình quân đạt 52 triệu đồng/người/năm; thu ngân sách hơn 9.500 tỷ đồng. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2016 tăng 15,2% so với năm 2015; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 5,3%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 21,7%, đóng góp 11,2 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm tăng 9,6%, đóng góp 3,2 điểm phần trăm. Năm 2016, khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao; trong đó ngành công nghiệp tăng trưởng 23% so với cùng kỳ. Bên cạnh ngành công nghiệp tăng trưởng cao, lực lượng lao động có sự chuyển dịch lớn về tỉnh Thái Nguyên trong ba năm gần đây dẫn đến nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ nhà ở, lưu trú, ăn uống cũng tăng lên, góp phần thúc đẩy tăng trưởng ngành dịch vụ năm 2016. 43 Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân đầu người năm 2016 đã đạt 52 triệu đồng/người/năm, tăng hơn 6,6 triệu đồng/người/năm so với năm 2015 và vượt kế hoạch đề ra. Nếu tính theo USD, GRDP bình quân đầu người tỉnh Thái Nguyên năm 2016 đạt 2.325 USD/người/năm, vượt mức bình quân chung của cả nước Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm 2016 trên địa bàn tỉnh (theo giá so sánh năm 2010) đạt hơn 477 nghìn tỷ đồng, tăng 26,7% cùng kỳ và bằng 109% kế hoạch năm. Hiện nay giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 93% giá trị công nghiệp toàn tỉnh; còn lại công nghiệp trong nước chỉ chiếm tỷ trọng 7% (công nghiệp địa phương chiếm 3,6% và công nghiệp trung ương chiếm 3,4%); mặt khác tỷ trọng lao động của khu vực công nghiệp trong nước vẫn chiếm khoảng 40% cho nên kết quả sản xuất công nghiệp trong nước tuy không đóng góp nhiều về giá trị sản xuất nhưng có tác động lớn đời sống người lao động. Có nhiều dự án lớn đăng ký và đang hoàn thiện thủ tục đầu tư tạo cơ hội phát triển lớn. Tính lũy kế, trên địa bàn có 677 dự án đầu tư ngoài ngân sách với tổng mức đầu tư là 143 nghìn tỷ đồng. Đến nay, có 5.384 doanh nghiệp dân doanh, tỷ lệ người dân/doanh nghiệp là 230 người/doanh nghiệp (cả nước là 160 người/doanh nghiệp). Đến hết năm 2016 trên địa bàn tỉnh đã cấp phép mới cho 23 dự án FDI (20 dự án công nghiệp chế biến chế tạo, ba dự án hoạt động dịch vụ), với tổng vốn đầu tư đăng ký 132,85 triệu USD; có tám dự án điều chỉnh tăng vốn với giá trị tăng là 15,36 triệu USD; lũy kế đến nay, có 114 doanh nghiệp FDI đang hoạt động với 116 dự án, tổng vốn đăng ký là 7.185,4 triệu USD, vốn giải ngân là 6.432,06 triệu USD. Hiện có chín dự án ODA đang thực hiện với tổng mức vốn cam kết là 4.972 tỷ đồng; có hơn 50 dự án phi chính phủ nước ngoài đang được triển khai. 2.4.2. Đô thị hóa Dân số toàn tỉnh Thái Nguyên năm 2016 là 1.246,6 nghìn người, trong đó dân đô thị là 427,7 nghìn người, chiếm 34,3%. Dân số đô thị có xu hướng tăng đều từ 2000 - 2016. Thái Nguyên là tỉnh có tỷ lệ đô thị hoá tương đương mức trung bình toàn quốc là 34,5% (2016) và đứng thứ 2 trong vùng Thủ đô Hà Nội. Trong tỉnh, khu vực có tỷ lệ đô thị hoá cao tập trung tại TP Thái Nguyên, TP Sông Công, TX Phổ Yên, dọc theo Quốc lộ 3 và đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên. Dân số đô thị của tỉnh Thái Nguyên có xu hướng tăng liên tục, từ năm 2000 đến năm 2016 dân số đô thị tăng từ 233,9 nghìn người lên tới 427,7 nghìn người, tăng gấp 1,8 lần. Tỷ lệ dân thành thị của Thái Nguyên năm 2016 là 34,3% gần tương 44 đương với tỷ lệ trung bình của cả nước (34,5%) và gần gấp đôi so với toàn vùng trung du miền núi phía Bắc. Bảng 2.6. Qui mô dân số, dân số đô thị và tỷ lệ dân số đô thị tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2016 Năm Tống số dân (nghìn người) Dân số đô thị (nghìn người) Tỷ lệ dân dô thị (%) 2000 1.055,5 233,9 22,1 2005 1098,5 263,9 24,0 2010 1.131,2 293,6 26,0 2014 1.173,2 355,1 30,2 2015 1.238,8 422,5 34,1 2016 1.246,6 427,7 34,3 Nguồn: [4] Tác động của đô thị hóa với nông thôn được thể hiện khá rõ nét. Tuy nhiên tỉ lệ dân số nông thôn còn khá cao (năm 2016 là 65,69%) và giảm khá nhiều. Từ năm 2000 đến 2016, tỷ lệ dân nông thôn giảm 12%, từ 77,9 % năm 2000 xuống còn 65,59% năm 2016. Tính đến thời điểm 1/2015, hệ thống đô thị tỉnh Thái Nguyên có 13 đô thị, được chia thành hai cấp: Đô thị cấp tỉnh và đô thị cấp huyện. Có 3 đô thị cấp tỉnh là TP Thái Nguyên và TP Sông Công, TX Phổ Yên; 10 đô thị cấp huyện gồm 6 thị trấn huyện lỵ và 4 thị trấn khác thuộc huyện. 2.5. Đánh giá chung 2.5.1. Những thuận lợi Trên cơ sở phân tích những nhân tố ảnh hưởng, có thể đánh giá tỉnh Thái Nguyên có nhiều tiềm năng và lợi thế trong sản xuất nông nghiệp: - Thái Nguyên là tỉnh vùng trung du, là nơi chuyển tiếp giữa các tỉnh miền núi với vùng Đồng bằng sông Hồng, chỉ cách Hà Nội có 80 km, tỉnh lại nằm trong vùng Thủ đô nên rất thuận lợi cho buôn bán sản phẩm nông sản. Thái Nguyên có các tuyến đường giao thông quan trọng đến các tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng giữa tỉnh Thái Nguyên với các tỉnh trong vùng và với vùng khác. - Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, với nhiều dạng địa hình, khí hậu có sự phân hóa theo mùa, nguồn nước dồi dào, đây là cơ sở quan trọng để hình thành một cơ cấu cây trồng, vật nuôi đa dạng với nhiều sản phẩm đặc trưng có sức canh tranh cao. 45 - Là tỉnh có qui mô dân số tương đối lớn đứng thứ 3/14 tỉnh vùng TDMNBB nên nguồn lao động dồi dào, cơ cấu trẻ nên có khả năng tiếp thu khoa học kĩ thuật nhanh, dân cư có truyền thống sản xuất nông nghiệp. - Cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng không ngừng được nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới ngày càng hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao giá trị của sản phẩm, tạo nhiều cơ hội khi hội nhập quốc tế. - Những đổi mới về cơ chế, chính sách, những chính sách ưu tiên và hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp đang góp phần thay đổi đời sống của người dân. - Các hoạt động xúc tiến thương mại ngày càng được nâng cao, thị trường tiêu thụ ngày càng mở rộng. 2.5.2. Hạn chế Bên cạnh những thuận lợi, tỉnh Thái Nguyên cũng gặp không ít những khó khăn và hạn chế trong phát triển nông nghiệp: - Điều kiện tự nhiên cũng có một số bất lợi như: hạn hán và thiếu nước trong mùa khô, mưa lớn tập trung vào một số tháng gây rửa trôi, sạt lở làm mất đất sản xuất nông nghiệp, thiệt hại mùa màng. Rét đậm, rét hại, sương muối gây thiệt hại không nhỏ đối với sản xuất nông nghiệp. - Trình độ của một bộ phận dân cư còn thấp nhất là nông dân và đồng bào các dân tộc thiểu số nên việc tiếp thu những tiến bộ KHKT, công nghệ vào sản xuất còn hạn chế. - Trong sản xuất nông nghiệp còn nặng về tự cấp, tự túc, tư tưởng ỷ lại còn lớn, ý thức vươn lên chưa cao. - Kết cấu hạ tầng còn nhiều yếu kém nên cũng cản trở sự phát triển nông nghiệp của tỉnh. - Vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, khả năng thu hút vốn của ngành nông nghiệp nhất là vốn đầu tư của nước ngoài còn thấp. Tóm lại, bên cạnh những tiềm năng và lợi thế, tỉnh Thái Nguyên cũng gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, Thái Nguyên cần có những chiến lược, chính sách, định hướng phù hợp để đưa nông nghiệp lên một tầm cao mới, phát huy được hết những lợi thế và khắc phục những hạn chế của tỉnh. Tiểu kết chương 2 Thái Nguyên có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng. Tỉnh Thái Nguyên có vị trí địa lí thuận lợi cho giao lưu, tiếp cận và trao đổi hàng hóa. Địa hình, khí hậu, nguồn nước khá thuận lợi cho phát triển 46 nền nông nghiệp nhiệt đới và phát triển cây trồng vụ đông. Thái Nguyên có dân số lớn, dân cư lao động có trình độ khoa học kĩ thuật ngày càng cao, có khả năng tiếp thu khoa học kĩ thuật hiện đại, lao động có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là cây lúa nước và cây chè. Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng ngày càng được đầu tư xây dựng hoàn chỉnh, nâng cấp đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp đặc biệt là thủy lợi, giao thông,... các trang trại ngày càng được đầu tư phát triển theo hướng chuyên môn hóa, tập trung. Tuy nhiên, trong quá tình phát triển sản xuất nông nghiệp chúng ta cũng gặp không ít khó khăn. Mặc dù có mùa đông lạnh thuận lợi để phát triển các cây trồng vụ đông nhưng với những đợt rét đậm rét hại, sương muối đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất chất lượng sản phẩm nông nghiệp; ngoài ra còn ảnh hưởng của các thiên tai khác như lũ lụt, mưa đá,...Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp khó khăn cho việc xây dựng hình thành các vùng chuyên canh qui mô lớn. Khí hậu mưa mùa thiếu nước trong mùa khô, thừa nước vào mùa mưa. Lao động tuy đông nhưng trình độ còn thấp, cơ sở vật chất kĩ thuật cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém. Nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp còn chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư phát triển kinh tế. 47 Chương 3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ NÔNG NGHIỆP TỈNH THÁI NGUYÊN 3.1. Hiện trạng phát triển 3.1.1. Vị trí, vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế của tỉnh Thái Nguyên Nông nghiệp của Thái Nguyên giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm của người dân trong tỉnh mà còn đáp ứng cho thị trường các tỉnh và xuất khẩu. Trong cơ cấu giá trị sản xuất theo giá hiện hành thì giá trị sản xuất ngành nông nghiệp thấp nhất và có xu hướng giảm dần về tỉ trọng. Năm 2016, tỉ trọng ngành chỉ chiếm 2,98%, công nghiệp chiếm 92,28% và dịch vụ chiếm 4,74%. Mặc dù tỉ trọng giảm nhưng qui mô giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn tăng qua các năm và giá trị của ngành vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế đảm bảo an ninh lương thực và là nền tảng cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Cụ thể, giá trị sản xuất theo giá hiện hành năm 2016 đạt hơn 17,7 nghìn tỷ đồng gấp 2,3 lần năm 2010, bình quân giai đoạn 2010 - 2016 giá trị sản xuất đạt hơn 13 nghìn tỉ đồng. Qui mô giá trị sản xuất giai đoạn này đạt 91,3 nghìn tỷ đồng. Bảng 3.1. Giá trị sản xuất của tỉnh Thái Nguyên phân theo ngành giai đoạn 2010 - 2016 theo giá thực tế (Đơn vị: Tỷ đồng) Năm Tổng số Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ 2010 50.046,4 7.604,8 29.533,3 1.908,2 2013 76.053,0 12.633,3 43.162,8 20.256,9 2014 255.456,4 14.97,8 218.263,5 22.220,1 2015 484.629,6 16.202,9 443.242,4 25.185,4 2016 594.551,1 17.713,3 548.649,4 28.188,4 Nguồn: [4] Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá so sánh năm 2010 vào năm 2016 đạt hơn 12 nghìn tỷ đồng gấp 1,58 lần năm 2010. Trong cơ cấu giá trị sản xuất toàn ngành kinh tế thì nông nghiệp chỉ còn 2,3% (trong khi đó năm 2010 chiếm 15,2%). Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành ngành nông nghiệp năm 2016 là 10,3 nghìn tỷ đồng chiếm 15,5% và gấp 2,1 lần năm 2010. - Về tốc độ tăng trưởng GDP/năm (theo giá so sánh năm 2010) của giai đoạn 2010 - 2016 là 13,7%/năm. Trong đó, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành nông nghiệp đạt 6,2%/năm. 48 - GDP/người năm 2016 đạt 53,5 triệu đồng, tăng gấp 2,5 lần năm 2010. Trong năm 2015 và 2016 GDP/người cao hơn mức trung bình cả nước. - Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, năm 2016 nông nghiệp chiếm 15,5%, công nghiệp 51% và dịch vụ 33,5%. Bảng 3.2. Cơ cấu giá trị sản xuất phân theo ngành kinh tế của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2016 (Đơn vị: %) Năm Tổng số Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ 2010 100 15,20 59,01 25,79 2013 100 16,61 56,75 26,64 2014 100 5,86 85,44 8,70 2015 100 3,34 91,46 5,20 2016 100 2,98 92,28 4,74 Nguồn: [4] - Cơ cấu lao động: Nguồn lao động dồi dào, qui mô tương đối lớn. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2016 là 752,3 nghìn người (tăng 75,2 nghìn người so với năm 2010), trong đó lao động đang làm việc ở nông thôn chiếm 64,9%. Lao động đang làm việc trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp đang có xu hướng giảm dần, năm 2010 là 451.750 người đến năm 2016 xuống chỉ còn 361.073 người. - Năng suất lao động khu vực nông nghiệp còn thấp hơn nhiều so với ngành công nghiệp và dịch vụ. - Giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá hiện hành) có xu hướng tăng liên tục ở tất cả các ngành. Cụ thể năm 2016: + Qui mô giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản đạt hơn 17,7 nghìn tỷ đồng gấp 2,3 lần năm 2010 trong đó cơ cấu giá trị sản xuất có sự thay đổi giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp (từ 94,63% năm 2010 xuống 93,54% năm 2013 và 94,04 năm 2016), tăng tỉ trọng ngành lâm nghiệp (từ 2,62% năm 2010 lên 3,18% năm 2016), tỉ trọng ngành thủy sản tăng nhưng chưa ổn định. Qui mô giá trị sản xuất năm 2016 ngành nông nghiệp tăng 2,3 lần, lâm nghiệp tăng 2,8 lần, thủy sản tăng 2,3 lần năm 2010.[4] Bảng 3.3. Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông - lâm và thủy sản tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005 - 2016 GTSX qua các năm (tỉ đồng - giá hiện hành) Cơ cấu (%) qua các năm 2005 2010 2014 2016 2005 2010 2014 2016 Tổng số 2.873,2 7.604,9 14.972,8 17.713,3 100 100 100 100 Nông nghiệp 2.745,89 7.196,5 14.069,2 16.657,6 95,57 94,63 93,96 94,04 Lâm nghiệp 67,54 199,1 477,2 563,7 2,35 2,62 3,19 3,18 Thủy sản 59,76 209,3 426,4 492,0 2,08 2,75 2,86 2,78 Nguồn: [4] 49 Cơ cấu kinh tế nội ngành có bước chuyển dịch, nhưng chậm. GTSX ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng ưu thế trên 90%, ngành lâm nghiệp và thủy sản tăng tỉ trọng nhưng không đáng kể. Diện tích gieo trồng các loại cây trồng đạt 159.651 ha (2016), trong đó diện tích cây lương thực có hạt là 71.997 ha. Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người năm 2016 đạt 377,7 kg/người; sản lượng lúa đạt gần 385 nghìn tấn, năng suất lúa tương đương đạt 53,4 tạ/ha (năm 2016). Ngoài ra, Thái Nguyên còn trồng nhiều loại cây trồng khác nhau thuộc các nhóm cây lương thực (ngô, khoai, sắn,), cây hàng năm (mía, thuốc lá, lạc, đỗ tương,) và cây lâu năm, đặc biệt, cây chè đã đem lại hiệu quả lớn về kinh tế, xã hội. Giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá so sánh 2010) cụ thể: Qui mô năm 2016 đạt hơn 12 nghìn tỷ đồng (gấp 1,6 lần năm 2010). Trong đó, ngành nông nghiệp đạt 11,2 nghìn tỷ đồng (tăng gấp 1,5 lần năm 2010), ngành lâm nghiệp đạt 415,8 tỷ đồng (tăng gấp 2,1 lần năm 2010), ngành thủy sản đạt 326,5 tỷ đồng (gấp 1,6 lần năm 2010). 3.1.2. Ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp 3.1.2.1. Ngành nông nghiệp (theo nghĩa hẹp) a) Nhận xét chung - Vị trí ngành: Ngành nông nghiệp luôn chiếm vị trí quan trọng mà bất kì ngành kinh tế nào khác cũng không thể thay thế được. Trong cơ cấu giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản thì nông nghiệp luôn chiếm tỉ trọng chủ yếu nhưng đang có xu hướng giảm, năm 2016 chiếm 94,04%. Qui mô giá trị sản xuất nông nghiệp cao gấp 29,6 lần lâm nghiệp và gấp 33,9 lần ngành thủy sản (theo giá hiện hành). - Tổ chức sản xuất, quan hệ sản xuất: Với dân số ở nông thôn đông đạt 818,9 nghìn người chiếm 65,69% dân số toàn tỉnh. Lực lượng lao động sống ở nông thôn là 539,8 nghìn người chiếm 70,6%. Lực lượng lao động đang làm việc ở khu vực nông nghiệp chiếm 48% số lao động. Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo khu vực nông thôn chiếm 15,6 %. - Qui mô giá trị sản xuất ngành nông nghiệp: Giá trị sản xuất của ngành ngày càng tăng nhưng nhưng tăng chậm, giai đoạn 2005 - 2010 tăng 2,6 lần nhưng giai đoạn 2010 - 2015 tăng 2,1 lần (theo giá hiện hành). Bảng 3.4. Giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2016 theo giá hiện hành (Đơn vị: Tỷ đồng) Năm Tổng số Chia ra Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ NN 2010 7.196,50 4.293,98 2.309,23 593,20 2012 11.146,05 5.759,76 4.721,69 664,62 2014 14.069,21 6.889,81 6.217,32 962,09 2015 15.235,74 7.046,20 7.160,64 1.028,94 2016 16.657,60 7.379,43 8.113,26 1.144,91 Nguồn: [4] 50 - Giai đoạn hiện tại, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2016 đạt bình quân 7,7%. Trong đó, ngành nông nghiệp đạt 7,4%, ngành lâm nghiệp đạt 13,9%, ngành thủy sản đạt 9,3%. - Trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, trồng trọt chiếm tỉ trọng cao nhưng đang có xu hướng giảm, năm 2010 đạt 59,67% đến 2016 giảm chỉ còn 44,30%; tỉ trọng ngành chăn nuôi có xu hướng tăng nhanh năm 2010 chỉ chiếm 32,09% đến năm 2016 đạt 48,83% (tăng 16,74%, trung bình mỗi năm tăng 2,39%). Bảng 3.5. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2016 theo giá hiện hành (Đơn vị: %) Năm Tổng số Chia ra Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ nông nghiệp 2010 100 59,67 32,09 8,24 2012 100 51,68 42,36 5,96 2014 100 48,97 44,19 6,48 2015 100 46,25 47,00 6,75 2016 100 44,30 48,33 6,87 Nguồn: [4] b) Ngành Trồng trọt Ngành trồng trọt xuất hiện từ lâu đời và có vai trò quan trọng chủ chốt trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Dựa trên những thuận lợi, những lợi thế sao sánh, đặc biệt là về tự nhiên như đất đai, khí hậu,... và nguồn lao động cho phép Thái Nguyên có một cơ cấu cây trồng đa dạng, phong phú với các loại cây trồng chủ yếu như: Cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, cây thực phẩm,.. trong đó cây trồng quan trọng là cây công nghiệp lâu năm. Năm 2016, thu nhập trên một ha đất đạt trên 88 triệu đồng gấp 1,6 lần năm 2010 do ứng dụng kĩ thuật mới, sử dụng các giống cây trồng phù hợp với tự nhiên, có năng suất, hiệu quả kinh tế cao hơn. Hiện nay, trồng trọt chiếm 44,30% giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp (theo giá thực tế năm 2016) và có xu hướng ngày càng giảm 15,37% so với năm 2010 và giảm 20,57% so với năm 2005. Mặc dù, tỉ trọng và tốc độ tăng trưởng của ngành trồng trọt giảm nhưng qui mô của ngành vẫn không ngừng tăng. Năm 2010, trồng trọt đạt gần 4,2 nghìn tỷ đồng đến năm 2016 tăng lên 7,4 nghìn tỷ đồng. Đồng thời trong nội bộ từng ngành đã có sự chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa và từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm. 51 Bảng 3.6 . Giá trị sản xuất ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng giai đoạn 2010 - 2016 theo giá hiện hành (Đơn vị: Tỷ đồng) Năm Tổng số Chia ra Cây hàng năm Cây lâu năm Lương thực có hạt Rau, đậu, hoa, cây cảnh Cây ăn quả Cây công nghiệp lâu năm 2010 4.294,0 2.074,5 706,4 424,3 654,8 2012 5.759,8 2.705,0 967,5 557,0 1.005,8 2014 6.889,8 2.945,5 1.424,0 725,4 1.177,4 2015 7.046,2 3.023,5 1.482,0 695,2 1.239,1 2016 7.379,4 2.975,3 1.668,0 731,3 1.371,2 Nguồn: [4] Về giá trị sản xuất năm 2016, cây lương thực có hạt vẫn chiếm ưu thế, chiếm 40,3% giá trị sản xuất của ngành trồng trọt; cây rau đậu, hoa, cây cảnh đứng thứ hai về giá trị sản xuất chiếm 22,6%; tiếp theo là cây công nghiệp lâu năm chiếm 18,6% còn cây ăn quả chiếm tỉ trọng thấp nhất 9,9%. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt giai đoạn 2010 - 2016 bình quân là 2,7%. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành trồng trọt có sự biến động do nguyên nhân khách quan như thiên tai, lũ lụt, hạn hán và dịch bệnh. Về diện tích, diện tích cây lương thực chiếm tỉ trọng chủ yếu đạt 45,1%, sau đó là cây công nghiệp lâu năm 13,38%, tiếp đến là cây ăn quả và thấp nhất là diện tích cây công nghiệp hằng năm. Trong giai đoạn 2010 - 2016, diện tích cây lương thực giảm từ 87,6 nghìn ha xuống khoảng 72 nghìn ha; diện tích cây công nghiệp hằng năm giảm từ 6,9 nghìn ha xuống 5,1 nghìn ha; cây ăn quả lâu năm giảm từ 17,6 nghìn ha xuống 16,7 nghìn ha; trong khi đó diện tích cây công nghiệp lâu năm tăng gần 3 nghìn ha. Trong cơ cấu diện tích cây trồng, giảm tỉ trọng của cây lương thực, cây công nghiệp hằng năm, cây ăn quả và tăng tỉ trọng diện tích cây công nghiệp lâu năm. Như vậy, diện tích cây lương thực vẫn chiếm tỉ lệ cao (45,1%) trong khi đó các cây công nghiệp lâu năm có hiệu quả kinh tế cao thì vẫn chiếm tỉ lệ thấp (13,38%), tuy nhiên đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. 52 Bảng 3.7. Diện tích gieo trồng các loại cây trồng giai đoạn 2010 - 2016 (Đơn vị: Ha) Năm Tổng số Cây hằng năm Cây lâu năm Cây lương thực Cây công nghiệp hằng năm Cây công nghiệp lâu năm Cây ăn quả 2010 153.597 87.631 6.926 18.582 17.619 2012 155.691 90.517 6.138 19.484 16.966 2014 158.105 92.030 5.929 20.787 16.946 2015 161.091 93.458 5.482 21.127 16.785 2016 159.651 71.997 5.076 21.361 16.716 Nguồn: [4] - Cây lương thực: là cây chủ đạo trong cơ cấu cây trồng của tỉnh. Nhưng hiện nay, với chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, ngành trồng cây lương thực có sự thay đổi. Hiện nay, cây lương thực có nhiều giống có năng suất cao, khả năng kháng bệnh tốt hơn, có giống chất lượng cao, đem lại hiệu quả kinh tế cao và có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái của địa phương. Nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, tăng cường đầu tư, thâm canh, tăng vụ, đưa các giống mới vào sản xuất nhất là lúa và ngô nên sản lượng vẫn tăng do tăng năng suất. Năm 2016, sản lượng cây lương thực của tỉnh đạt 470,9 nghìn tấn, tăng gấp 1,13 lần năm 2010 và gấp 1,25 lần năm 2005. Giai đoạn này năng suất tăng, năm 2016 năng suất lúa đạt 53,4 tạ/ha, tăng 4,7 tạ/ha so với năm 2010; năng suất ngô đạt 42,7 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha so với năm 2010. Diện tích trồng cây lương thực năm 2016 tăng gấp 1,05 lần so với năm 2010, đạt 92.141 ha năm 2016 do việc mở rộng diện tích đất s

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_dia_li_nong_nghiep_tinh_thai_nguyen.pdf
Tài liệu liên quan