Luận văn Hoạt động kinh doanh thể kinh nghiệm của một số ngằn hàng trong khu vực và thực tế tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam

MỞ ĐẨU

MỤC LỤC

1

CHƯƠNG 1 :MỘT s ố VAN ĐỀ VỀ THẺ NGÂN HÀNG VÀ KINH

NGHIỆM CỦA MỘT số NGÂN HÀNG TRONG KHU vục. 7

1.1 MỘT SỐ VAN ĐỀ VỂ THẺ NGÂN HÀNG.7

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ. 7

1.1.2 Khái niệm và bản chất của kinh doanh Thẻ Ngân hàng.9

1.1.2.1 Khái niệm Thẻ Ngân hàng. 9

1.1.2.2 Bán chất của kinh doanh Thẻ Ngân hàng. 10

1.1.2.3 Đặc điểm của Thẻ Ngân hàng. 10

1.1.2.4 Phân loại thẻ:.7.17

1.1.3 Các chủ thể tham gia trong qua trình Phát hành- Sử dụng và Thanh

toán th ẻ:. 19

1.1.3.1 Chủ thể trong lĩnh vực phát hành:.19

1.1.3.2 Chủ thể trong lĩnh vực sử dụng thẻ.20

1.1.4. Vai trò của hoạt động kinh doanh thỏ trong bối cảnh Hội nhập

Kinh tế quốc tế.22

1.1.4.1 Hoạt động kinh doanh thẻ trong Hội nhập kinh tế Quốc tế.22

1.1.4.2 Hoạt động kinh doanh thẻ như là một xu thế tất yếu của phát

triển nghiệp vụ ngân hàng trong quá trình Hội nhập kinh tế Quốc tế.

.r. .r . . .' . 23

1.1.5 Ưu nhược điểm của hoạt động kinh doanh th ẻ :.24

1.1.5.1 Ưu điểm. 24

1.1.5.2 Nhược điểm :. 25

1.2 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA MỘT s ố NGÂN HÀNG

TRONG KHƯ V ực VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM Đ ối VÓI NGÂN

HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM.26

1.2.1 Các Tổ chức thẻ Quốc tế (VisaCard Int, MasterCard Int, AMEX Co

Ltd, JCB Int, DinerClub Int). 26

1.2.1.1 Tổ chức MasterCard Quốc tế (MasterCard International). 26

1.2.1.2 Tổ chức thẻ Visa Quốc tế (Visa International Association).27

1.2.1.3 Công ty thẻ AMEX (American Express Co Ltd). 28

1.2.1.4 Tổ chức Thẻ Diners Club Quốc tế (Diners Club International -

D CI).29

1.2.1.5 Công ty JCB Quốc tế (JCB International Ltd). 30

pdf103 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 09/03/2022 | Lượt xem: 159 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Hoạt động kinh doanh thể kinh nghiệm của một số ngằn hàng trong khu vực và thực tế tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
u hoạt động kinh doanh thẻ của các Tổ chức thẻ Quốc tê và một số ngân hàng khu vực để rút ra một số kinh nghiệm đối với ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng và các ngân hàng Thương mại nói chung. Chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: Thứ nhất: Sự ra đời và phát triển của thị trường thẻ phải xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi tất yếu khách quan của thực tiễn và khả năng đáp ứng của tiến bộ kỹ thuật công nghệ Ngân hàng. Thứ hai: Phải có một môi trường pháp lý điều chỉnh mọi hành vi của các chủ thể tham gia hoạt động phát hành và sử dụng thẻ, trong đó vai trò định hướng và hỗ trợ của Chính phủ là vô cùng quan trọng. Thứ ba: Ngân hàng Nhà nước có vai trò chủ đạo trực tiếp và hỗ trợ các ngân hàng thương mại trong việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh thẻ. Thứ tư: Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ sẽ tạo điều kiện nâng cao nhận thức cho các tầng lớp dân cư trong việc sử dụng thẻ. Do 38 vậy ngay từ đầu, các ngân hàng thương mại cần cùng xác định chiến lược đầu tư, phân đoạn khách hàng, cơ cấu phát triển thẻ ghi nợ và thẻ ghi có nhằm có thể cùng nhau khai thác, tránh lãng phí, chồng chéo. Thứ năm: Việc chuyển giao công nghệ thẻ từ các nước đã phát triển vào nước chủ nhà sẽ giúp đảm bảo an toàn cũng như tăng tốc độ phát triển hình thức thanh toán thẻ. Chủng ta vừa xem xét, nghiên cứu cơ sở lỷ luận chung về quá trình hình thành ra đời và phát triển của các loại thẻ trên thế giới và ở Việt Nam, nghiên cứu cụ thể một số ngân hàng tiêu biểu của một số quốc gia trong khu vực với những thuận lợi và những khó khăn của các ngân hàng đó cùng với sự phát triển của các Tổ chức thẻ Quốc tế. Trên cơ sở đó có thể khẳng định sự ra đời và phát triển của hình thức thanh toán thẻ là một tất yếu khách quan trong qúa trình phát triển của nền kinh tế thế giới mà Việt Nam không phải là ngoại lệ. 39 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KINH DOANH THẺ CỦA NGÂN HÀNG « NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 2.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THÈ CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Ngân hàng Ngoại ihương Việt Nam được thành lập theo quyết định số 115/CP ngày 1/4/1963 trên cở sở tách từ cục quản lý ngoại hối ngân hàng trung ương (Nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước với chức năng là ngân hàng duy nhất phục vụ kinh tế đối ngoại và cho vay x.uất nhập khẩu của cả nước. Ngày 21/9/1996 Ngân hàng Nhà nước Việt nam ra quyết định số 286/QĐNH5 về việc “thành lập lại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trên cơ sở QĐ số 68/QĐ-NH5 ngày 27/3/1993 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký hoạt động theo mô hình tổng công ty nhà nước quy định tại QĐ số 90 TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ với tên giao dịch Quốc tế là: “Bank for Foreign trade of Viet Nam” viết tắt là Vietcombank Có vốn điều lệ hơn 4.355 tỷ VND, là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình tổng công ty 90, 91, là ngân hàng thương mại phục vụ đối ngoại lâu đời nhất tại Việt Nam, là Ngân hàng thương mại đầu tiên quản lý vốn tập trung, là trung tâm thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng của trên 100 ngân hàng trong nước và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, là ngân hàng thương mại đầu tiên của Việt Nam hoạt động kinh doanh ngoại tệ, luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trên thị trường ngoại tệ liên ngân 40 hàng, là thành viên của: Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, tổ chức thanh toán toàn cầu Swift, tổ chức thẻ Quốc tế Visa, Master Card. Là ngân hàng đầu tiên phát hành và thanh toán thẻ quốc tế Visa, MasterCard, Amex Card và là đại lý và là đại lý thanh toán thẻ lớn nhất tại Việt Nam: Visa, Master, American Express, JCB... Hiện là ngân hàng độc quyền phát hành thẻ American Express tại Việt Nam, là đại lý thanh toán chuyển tiền nhanh toàn cầu Money Gram lớn nhất Việt Nam, là ngân hàng có tỷ trọng thanh toán xuất nhập khẩu và bảo lãnh lớn nhất Việt Nam, là Ngân hàng duy nhất tại Việt Nam đạt tỷ lệ trên 95% điện Swift được xử lý hoàn toàn tự động theo tiêu chuẩn Mỹ và liên tiếp 8 năm liền 1996, 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002 và 2003 được công nhận là ngân hàng có chất lượng thanh toán Swift tốt nhất, được chọn lựa làm ngân hàng chính trong việc quản lý và phục vụ cho các khoản vay nợ, viện trợ của Chính phủ và nhiều dự án ODA tại Việt Nam, Vietcombank là Ngân hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, ứng dụng công nghệ vào hoạt động ngân hàng và cũng là ngân hàng thương mại duy nhất tại Việt Nam trong các năm 2002, 2001, 2002, 2003 và 2004 được tạp chí “The Banker” một tạp chí ngân hàng có tiếng trong giới tài chính quốc tế của Anh quốc bình chọn. 2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Hiện nay trên thế giới dịch vụ thẻ đã trở thành một phần hết sức quan trọng của dịch vụ Ngân hàng nói chung và dịch vụ ngân hàng bán iẻ nói riêng, các chỉ tiêu về kinh doanh thẻ liên tục tăng ở mức hai con số hàng năm. Trẽn toàn thế giới một năm doanh số thanh toán thẻ (cả doanh số mua hàng hoá dịch vụ và rút tiền mặt) lên tới hơn ba ngàn tỷ USD, số thẻ phát hành khoảng 2 tỷ thẻ với hơn 36 tỷ giao dịch đuợc thực hiện bằng thẻ. Với khoảng 25 triệu 41 đơn vị kinh doanh tham gia chấp nhận thanh toán thẻ trên toàn cầu, dịch vụ kinh doanh thẻ là một mảng phát triển nhanh và còn nhiều tiềm năng của thị trường tài chính. Nắm bắt được xu thế đó các ngân hàng thương mại Việt Nam đã có những ý tưởng về hoạt động kinh doanh thẻ. Tuy nhiên Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng thương mại đầu tiên ở Việt Nam triển khai dịch vụ thẻ. Cho tới nay Vietcombank vẫn giữ vững vị trí hàng đầu về thị phần thanh toán thẻ và cũng ià ngân hàng duy nhất chấp nhận thanh toán cả 5 loại thẻ ngân hàng thông dụng nhất trên thế giới: Visa, Master, JCB, Amex và Diners Club Card. Không chỉ là ngân hàng đại lý thanh toán lớn nhất cho các tổ chức thẻ Quốc tế ở Việt Nam, Vietcombank còn trực tiếp phát hành thẻ tín dụng quốc tế: Vietcombank MasterCard, Vietcombank VisaCard và Vietcombank AmexCard. Trong đó Vietcombank là ngân hàng độc quyền phát hành thẻ AmexCard- một trong những sản phẩm thẻ có uy tín và dịch vụ tốt nhất trên thế giới- tại thị trường Việt Nam. Ngoài thẻ tín dụng quốc tế, tháng 4/2002, Vietcombank lần đầu tiên ra mắt thẻ ghi nợ nội địa Connect 24. Với các sản phẩm thẻ đa dạng, Vietcombank luôn hướng tới phục vụ tối đa nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng đầu tiên của Việt Nam ký hợp đồng làm ngân hàng đại lý thanh toán thẻ cho ngân hàng BFCE Singapore vào năm 1990, đánh dấu một bước quan trọng trong việc tiếp cận ứng dụng một công nghệ mới, một nghiệp vụ mới cho ngân hàng, một phương tiện thanh toán mới, thanh toán không dùng tiền mặt lần đầu tiên đã có mặt tại Việt Nam. Năm 1991 kí hợp đồng làm Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ Master Card 42 cho Ngân hàng MBF Malaysia. Năm 1993 làm đại lý thanh toán thẻ JCB với công ty JCB International Co, Ltd của Nhật Bán, đồng thời năm này Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chính thức phát hành thẻ Vietcombank Card (ATM Card- Smart Card công nghệ thẻ Chip) Năm 1994 kí hợp đồng làm đại lý thanh toán thẻ AMEX cho American Express của Mỹ. Năm 1995 trở thành thành viên chính thức của Master Card International. Năm 1996 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thẻ Visa International và phát hành thẻ tín dụng Vietcombank VisaCard. Ngày 15/5/2002 Phát hành thé ghi nợ Connect' 24. Tháng 8/2003 thẻ connect 24 trở thành sản phẩm ngân hàng duy nhất nhận giải “Sao vàng đất Việt”. Ngày 18/3/2003 Phát hành thẻ Vietcombank American Express. Ngày 5/1/2004 Vietcombank ký “Biên bản hợp tác giữa Vietcombank và Ngân hàng Ngoại thương Lào (BCEL) giai đoạn 2004-2006” và “Hợp đồng Ngân hàng đại lý dịch vụ thẻ” qua đó BCEL trở thành thành viên phụ của tổ chức thẻ MasterCard International. Ngày 8/1/2004 ký với MasterCard và 11 Ngân hàng thương mại cổ phần hình thành liên minh thẻ. Ngày 27/8/2004 ký hợp đồng ngân hàng đại lý với ngân hàng cổ phần Phương đông (OCB) nhờ đó, OCB có thể thực hiện các dịch vụ ngân hàng đại lý về thanh toán các loại thẻ quốc tế Master, Visa, JCB, Diner Club và Amex, trở thành thành viên phụ của MasterCard International thực hiện phát hành thẻ quốc tế MasterCard và đặc biệt tham gia thị trường phát hành và thanh toán thẻ ghi nợ nội địa thông qua liên minh liên kết gữa Vietcombank và 11 Ngân hàng thành viên. 43 Ngày 08/11/2004 Vietcombank công bố phát hành thẻ MasterCard Cội nguồn và thẻ ghi nợ điện tử Vietcombank MasterCard Unembossed Cùng ngày 8/11/2004 Ngân hàng liên doanh Chohung Vina Bank được kết nối với hệ thống máy ATM của Vietcombank Ngày 08/11/2004 ký biên bản ghi nhớ hợp tác với ngân hàng cổ phần kinh tế đối ngoại Belarus. Ngày 30/11/2004 kết nối máy ATM của Ngân hàng Ngoại thương Lào vào hệ thống thanh toán thẻ Vietcombank. Đánh dấu việc Vietcombank chính thức mở rộng mạng lưới thanh toán thẻ của mình ra bên ngoài biên giới quốc Ngày 12/4/2005 Vietcombank cùng với Vietnam Airlines và American Express chính thức khai trương thẻ tín dụng Bông sen vàng - Vietcombank Vietnam Airlines American Express đây là sản phẩm đầu tiên giữa một ngân hàng hàng đầu với một hãng hàng không lớn nhất tại Việt Nam và được chấp nhận tại mạng lưới thanh loán trên toàn cầu của mạnh lưới American Express (AMEX) Ngày 18/10/2005 Vietcombank ký thoả thuận hợp tác chung với Tổng công ty Viễn thông quân đội (Viettel) và Ngân hàng cổ phần Quân đội, khai trương dịch vụ thanh toán cước phí viễn thông của Viettel qua hệ thống giao dịch tự động của VCB- ATM. Đặc biệt, ngày 14-15/12/2005 Vietcombank phát hành thành công 1.365 tỷ trái phiếu tăng vốn, nâng tổng số vốn tự có của Vietcombank cuối năm 2005 lên mức 9.000 tỷ đổng, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình tiền cổ phẩn hoá hội nhập kinh tế quốc tế. 2.2 HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 44 Với việc gia nhập WTO, Việt Nam cam kết sẽ mở cửa một số ngành dịch vụ trọng điểm trong đó có ngành dịch vụ tài chính Ngân hàng, là một thị trường đông dân cư, có tầng lớp trung lưu phát triển nhanh chóng, mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đặc biệt là mảng dịch vụ thẻ ngân hàng đang là mục tiêu nhắm tới của các tổ chức tài chính quốc tế. Các ngân hàng trong và ngoài nước đều đang tích cực đẩy mạnh các dịch vụ ngân hàng bán lẻ mà đặc biệt trong đó có dịch vụ thẻ. Các ngân hàng quốc doanh đều đã triển khai hoặc đã có kế hoạch triển khai hệ thống công nghệ về thẻ (Switch). Các ngân hàng thương mại cổ phần cũng một mặt khuếch trương sản phẩm dịch vụ, một mặt tăng cường đầu tư cho hệ thống công nghệ và mạng lưới chấp nhận thẻ. Các ngân hàng nước ngoài như ANZ, HSBC, Citibank đều đã có kế hoạch thành lập trung tâm thẻ hoặc công ty thẻ để thâm nhập vàp thị trường Việt Nam. Trong tình hình cạnh tranh gay gắt đó, hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong những năm qua vẫn duy trì những bước tăng trưởng và phát triển vững chắc. Bảng 1 : Thị phần hoạt động kinh doanh thẻ quớc tế của ’ NHNT VN Thị phần 100% 100% 100% 100% 95% 70% 59% 45% 40% 35% 45% 45% 55% 57% (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động thẻ của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam năm 2006) 45 Giai đoạn 1991-1995 Ngân hàng ngoại thương Việt Nam chiếm 100% thị phần thẻ tại thị trường Việt Nam, từ 1996 -2001 thị phần thẻ của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam bị giảm dần, sở dĩ có điểu này là có ngày càng nhiều các ngân hàng tham gia vào hoạt động kinh doanh thẻ. Từ 2002 đến nay thị phần thẻ của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam dần lấy lại được. 2.2.1 Hoạt động phát hành thẻ Số lượng thẻ tín dụng quốc tế do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phát hành duy trì ở mức tăng trưởng cao, năm sau luôn cao hơn năm trước. Bảng 2: Số lượng thẻ tín dụng quốc tế do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phát hành Đơn vị: Chiếc Loại thẻ Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Nàm 2007 Visa 6650 8470 5853 7918 5237 44408 Master 1140 1370 2290 4174 2286 18654 Amex 0 1040 452 3174 1044 6589 Tổng 7790 10880 8595 15266 8567 69651 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động the’ của NHNT Việt Nam năm 2006, và 6 tháng đầu năm 2007) Trong giai đoạn từ 2002 đến 2006 tổng số lượng thẻ phát hành liên tục tăng. Năm 2005 phát hành đạt mức tăng trưởng cao nhất: 15266 thẻ tăng 177.6% so với năm 2004 trong đó thẻ Master tăng 135.3%, thẻ Visa tăng 182.2%, thẻ Amex tăng mạnh 700% là đo Ngân hàng ngoại thương phát hành thẻ Amex Co - Brand với Vietnam Airline (với điều kiện phát hành thẻ dễ hơn cho chủ thẻ đó là hạn mức của thẻ thấp hơn so với thẻ Amex chuẩn và vàng) do đó thu hút được rất nhiều người tham gia phát hành thẻ. Năm 2006 số lượng thẻ phát hành tăng tuy nhiên lại thấp hơn năm 2005 và so với 6 tháng đầu năm 2007 thì con thấp hơn, sở dĩ 6 tháng đầu năm 2007 có số lượng thẻ 46 tăng là do sản phẩm thẻ VisaDebit ra đời thu hút được khối lượng chủ thẻ phát hành lớn. Hà Nội và TP Hồ Chí Minh vẫn là hai địa bàn đứng đầu về phát hành thẻ tiếp sau là Đà nẵng, Đồng Nai. Thẻ Amex với số lượng thẻ phát hành không nhiều nhưng vẫn tăng qua các năm (năm 2002 chưa phát hành mà năm 2003 mới phát hành) vì loại thẻ này ngoài tính năng chung của một thẻ tín dụng Quốc tế Ỉ1Ó còn có điểm riêng biệt đó là: Hạn mức tín dụng rất cao có thể lên tới 250 triệu đổng, như vậy loại thẻ này thì đối tượng sử dụng chúng sẽ không rộng như hai loại thẻ trên mà chủ yếu tập trung vào những người có thu nhập cao như các doanh nhân... vì vậy số lượng thẻ qua các năm tăng trưởng với những con số như trên là điều dễ hiểu. 2.2.2 Hoạt động sử dụng thẻ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Tất cả các sản phẩm thẻ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đều có doanh số sử dụng đạt mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước: Biểu đồ dưới đây phản ánh doanh số sử dụng 03 loại thẻ do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phát hành Đơn vị: Tỷ VND Doanh số sử dụng thẻ Visa 800 700 600 500 400 300 200 100 0 2002 2003 2004 2005 2006 2007 47 Doanh số sử dụng thẻ Master 2002 2003 2004 2005 2006 2007 □ Amex Doanh số sử dụng thẻ Amex 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Với ba loại thẻ phát hành tuy với số lượng tãng trưởng thẻ của Visa và Mastrer Card rất mạnh so với tốc độ tăng trưởng của thẻ Amex nhưng doanh số sử dụng lại hoàn toàn khác, tính đến hết 2006 doanh số sử dụng thẻ Amex vẫn cao nhất so với các loại thẻ, ước đạt 88% (186.3 Tỷ VND) so với năm 2005, tỷ lệ này cũng đảm bảo được tương đối liên tục từ những năm đầu phát 48 hành thé. Thỏ Visa Card mặc dù có mức tăng trưởng thấp nhất trong các loại thẻ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (12.7 %) nhưng chi tiêu của chú thẻ vần đạt doanh số tuyệt đối cao nhất với 576.2 Tý VND chiếm 57 % tổng doanh số sử dụng the quốc tế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Trong giai đoạn trước mắt, thẻ Visa sẽ chiếm ưu thế phát triển tại thị trường quốc tế cũng như tại Việt Nam bởi tính “bình dân” của nó, cũng như các chính sách tiếp thị gần gũi, thân mật với đông đảo tầng lớp dân cư. Bên cạnh đó, thẻ MasterCard cũng sẽ có khả nãng phát triển tiếp theo VisaCard vì ít nhiều cũng đã có thị trường và dân chúng cũng đã từng quen biết. 2.2.3 Hoạt động phát hành thẻ nội địa Connect 24 Sản phẩm thẻ Connect 24 vẫn tiếp tục duy trì tốc độ và mức tăng trưởng cao qua các năm, tổng số thẻ Connect 24 liên tục tăng: năm 2002 đạt 30.000 thẻ, sang 2003 tăng trên 500% (160.000 thẻ), năm 2004 đạt 480.000 thẻ tăng 300% so với năm 2003 và năm 2005 ước đạt 1.000.000 thẻ tương đương 208% so với 2004, trong 2006 đã phát hành được 580.000 thẻ tăng 63% so với 2005. Như vậy kể từ khi phát hành bất đầu khai trương thẻ Connect 24 năm 2002 đến hết 2006 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phát hành được 1.500.000 thẻ. Tương ứng với số lượng thẻ phát hành sẽ là số tài khoản cá nhân, uồc tính 06 tháng đầu năm 2007 phát hành đạt 317.300 thẻ như vậy số lượng thẻ Connect 24 của Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam lên 1.817.300 thẻ, tỷ lệ thẻ đang hoạt động đạt trên 91%, Các chi nhánh có số lượng thẻ phát hành đứng đầu trên toàn hệ thống (theo thứ tự) Hồ Chí Minh, Hà Nội, Sở giao dịch, Tân Thuận, Bình Dương và Đồng Nai... Doanh số sử dụng thẻ cũng tăng lên 21.000 tỷ VND tăng 62% so với cùng kỳ năm 2006, trong đó doanh số rút tiền mặt chiếm 80%, còn lại là doanh số chuyền khoán, thanh toán tại ATM và tại POS, như vậy cơ cấu sử dụng thẻ đã có sự thay đổi theo hướng tích cực: Giảm tỷ lệ rút tiền mặt và tăng 49 tỷ lệ thanh toán, điểu này thể hiện những định hướng cùa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã tác động đáng kể tới thói quen tiêu dùng của người dân. Bảng 4: Tinh hình phát hành thẻ ghi nợ Connect 24 của NHNT VN ' 3!■C C -CO)Z 2002 2003 2004 2005 2006 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động thẻ của Ngân hàng Ngoại í hương Việt Nam 2006) vể doanh số sử dụng thẻ cũng đạt mức rất cao, năm 2006 tính trung bình một tháng các chủ thẻ Connect 24 rút 1.970 tỷ VND/tháng (tăng 64% so với 2005), chuyển khoản đạt 335 tỷ VND/tháng (tăng trưởng 67.5 % so với 2005), chi tiêu hàng hoá dịch vụ ước đạt 1,5 tỷ VND/tháng (tăng 50 % so với 2005). Hiệu quả của thẻ Connect 24 cũng thể hiện qua việc huy động vốn với giá rẻ thông qua tài khoản tiền gửi vãng lai của khách hàng. Bảng 5: Huy động vốn thông qua tài khoản vãng lai của thẻ Connect 24 Đơn vị: Tỷ VND Năm 2002ị ệ-~WẸÍỆỆ 2003Ị 1 1 . 2004 2005 • í rite;*.-! 2006:n, v-fi?: vị V. 2007 SỔ lượng TK 30.000 130.000 320.000 600.000 900.000 1350.000 Trung bình một TK: 50.000 1.50 6.50 16.0 30.00 45.00 67.50 Sôi dư trung binh một TK:3.000.000 90 390 960 1800 2700 4050 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt dộng thẻ của NHNT Việt Nam năm 2007) 50 Như vậy nếu số dư tối thiểu quy định như hiện nay là:50.000 VND/Tài khoản thì số tiền ngân hàng huy động được với giá rẻ (Lãi xuất không kỳ hạn 0.2%/tháng) sẽ là rất lớn, thực tế rất ít tài khoản duy trì ở mức số dư tối thiểu, qua các năm từ 2002-2006 các số liệu cho thấy sô dư tài khoản vẵng lai của chủ thẻ Connect 24 luôn luôn từ 3 triệu đồng trở iên, với số dư đó thì khoản vốn mà ngân hàng thu được với chi phí thấp sẽ là không nhỏ. 2.2.4 Hoạt động thanh toán Với sự gia tăng các thách thức trong điều kiện cạnh tranh đối với thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, các ngân hàng đều tập trung chú trọng đầu tư vào phát triển dịch vụ thẻ và tung ra thị truờng nhiều sản phẩm thẻ phong phú và đa dạng, chính sự đa dạng vể thành phần sở hữu và các sản phẩm thẻ phong phú đã làm cho hoạt động thanh toán thẻ quốc tế những năm qua trở nên sôi động. Trong bối cảnh đó việc duy trì thị phần và giữ vững mức tăng trưởng cao của hoạt động thanh toán thẻ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là một thành tựu hết sức quan trọng. Bảng 6: Tinh hình thanh toán thẻ tín dụng Quốc tế Đơn vị: Triệu USD Loai thể ■ 2002 ầ p s n 2003 .. 2004 2005 2006 2007 Visa 61,8 75,1 120,5 166,7 196,8 255,84 M aster 24,2 31,7 56,9 82,4 99 128,7 Amex 19,7 33,6 42,4 58,1 81,8 106,34 JCB 2,8 2,9 2,9 3,8 4,8 6,24 Diner 0,2 0,8 3,2 3,7 3,9 5,07 Tổng 108,7 144,1 225,9 314,7 386,3 502,19 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động thẻ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2007) 51 60,00% 50,00% 40,00% 30,00% 20,00% 10 ,00% 0,00% Tốc độ phát triển thanh toán thẻ 2002-2007 1 2 3 4 5 Năm 1 là năm 2002, năm 6 là năm 2007 Doanh số thanh toán thẻ quốc tế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam liên tục tăng hằng năm, từ năm 2002 doanh số chỉ đạt 108,7 Triệu USD, đến 2006 doanh số đã đạt 386,3 triệu USD nếu so sánh với năm so với năm 2005 tăng 22,8 % tương đương 6.200 tỷ VND Mức tăng trưởng doanh số thanh toán năm 2006 lần lượt thuộc về thẻ Amex, JCB, sở dĩ có được hiệu quả như vậy là do chính sách Marketing sản phẩm của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong năm 2006, trong năm 2006 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phối hợp với hai tổ chức thẻ quốc tế American Express và JCB thành lập quỹ dành riêng cho việc phát triển sản phẩm, thúc đẩy doanh số thanh toán, chi tiêu tại Đơn vị chấp nhận thẻ những năm trước dẫn đầu về doanh số chi tiêu vẫn thuộc về hai loại thẻ Visa và Master Card. Nhưng xét về tương quan giữa các loại thẻ thì thẻ Visa năm 2006 vẫn có tỷ lệ doanh số thanh toán cao nhất chiếm 51% tổng doanh số thanh toán thẻ quốc tế, Master Card 26%, Amex 21%, JCB và Diners Club cùng chiếm khoảng 1%, dưới đây là bảng tổng kết về doanh số thanh toán thẻ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2006, tuy nhiên doanh số này tập trung lớn tại các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng.. 52 Bảng 7: Doanh số thanh toán thẻ quốc tế của NHNTVN năm 2006 Diners Club 1% JCB 1% (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động thẻ của VIETCOMBANK năm 2006) 2.2.5 Hoạt động của hệ thống ATM Nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài đang diễn ra mạnh mẽ. NHNT VN đã triển lắp đặt hệ thống máy rút tiền tự động ATM trên toàn hệ thống, tính đến hết tháng 6/2007 lên 824 máy. Bảng 8: Hoạt động của hệ thống máy ATM Nội dung 2002 2003 2004 2005 2006 Sổ lượng ATM mới 50 160 400 565 705 Tổng số g.địch vấn tin 915,000 3,958,000 10,000,000 11,970,000 13,850,000 Tổng số giao dịch TM.CK, TT 382,000 2,892,000 7,900,000 16,485,000 18,655,000 Tổng giá trị giao dịch (tỷ vnd) 427 3,047 7.593 16,882 29,249 Doanh số rút tiền mặt (tỷ vnd) 411 2,907 7,622 14,920 25,190 Doanh số chuyển khoản (tỷ vnd) 16 138 588 1,925 4,017 Doanh số thanh toán (tỷ vnd) 0 2 8 37 42 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động thẻ của NIiNT Việt Nam nâm 2006) 53 Qua số liệu trên cho thấy: trị giá các giao dịch qua ATM đều có mức tăng trưởng cao qua các năm, sự tăng trưởng vượt bậc về doanh số sử dụng dịch vụ tại máy ATM năm 2006 là kết quả trực tiếp của việc tiếp tục mở rộng mạng lưới ATM, đẩy mạnh triển khai các dịch vụ thanh toán Billing với các đối tác cung cấp dịch vụ là bảo hiểm, điện lực, bưu điện, các cồng ty viễn thông di động.... Việc tăng cường số máy ATM đã phần nào làm giảm tải việc khách hàng phải xếp hàng chờ phục vụ tại các máy ATM đặt tại các khu công nghiệp, các khu vực trọng điểm như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh như trước đây Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống ATM thì giao dịch chủ yếu vẫn tập trung vào rút tiền mặt là chủ yếu, song bên cạnh đó việc duy trì doanh số thanh toán hàng hoá và dịch vụ tăng liên tục từ 2003-2006 tương đương từ 2 tỷ VND lên 42 tỷ VND đã khẳng định tính hiệu quả của việc phát triển hệ thống ATM như là một kênh thanh toán hữu hiệu trong dân cư, làm cầu nối giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp dịch vụ, tiết kiệm được thời gian, chi phí.... 2.2.6 Hoạt động của hệ thông các Ngân hàng đại lý . Nắm bắt được xu hướng phát triển của thị trường thẻ nói chung và thẻ nội địa nói riêng, các ngân hàng thương mại cổ phần đã và đang chủ động hợp tác với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong việc phát triển các dịch vụ Ngân hàng bán lẻ mà trong đó có dịch vụ thẻ, điều mà bản thân các Ngân hàng cổ phần rất tâm đắc nhưng do điều kiện cơ sở hạ tầng về công nghệ, vốn liên quan đến thẻ còn yếu. Việc làm đại iý thanh toán cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã giúp các Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển được các dịch vụ của mình trên nền tảng của công nghệ hiện đại mà không mất nhiều chi phí nhưng vẫn thu được lợi nhuận cao. Vì vậy từ năm 2003 đến nay đã có 21 ngân hàng thương mại cổ phần 54 tham gia vào liên minh thẻ với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong đó có 17 Ngân hàng đã kết nối thành công với hệ thống ATM của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, số còn lại đang trong quá trình hoàn thiện nốt. Số lượng thẻ Connect 24 do các ngân hàng đại lý phát hành cũng tăng hàng năm, đến hết 2006 đã phát hành được trên 51.190 thẻ, doanh số thanh toán thẻ quốc tế do các ngân hàng đại lý thanh toán đến hết 2006 ước đạt trên 22 tỷ USD (tương đương khoản 350 tỷ VND). Như vậy thẻ và các chủ thẻ của các ngân hàng này sẽ sử dụng được hệ thống ATM và POS của nhau, tránh được tình trạng chủ thẻ của ngân hàng này chỉ sử dụng được duy nhất trong hệ thống của Ngân hàng đó, góp phần tạo một mạng lưới rộng khắp đáp ứng được nhu cầu đa dạng cho khách hàng. 2.3. PHÁT TRIỂN CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN KINH DOANH THẺ 2.3.1. Phát triển sản phẩm dịnh vụ Cùng với sự phát triển của thế giới và khu vực, đặc biệt là trong lĩnh vực Ngân hàng, các Ngân hàng thương mại Việt nam nói chung và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói riêng không thể không phát triển và đa dạng các địch vụ. Nắm bắt được xu thế đó, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam đã không ngừng nâng cao chất lượng cũng như số lượng sản phẩm của mì

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_hoat_dong_kinh_doanh_the_kinh_nghiem_cua_mot_so_nga.pdf
Tài liệu liên quan