Luận văn Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long

Ở ĐBSCL, mặc dù nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nền kinh

tế, nhưng đó lại là thế mạnh trong sản xuất và xuất khẩu của các tỉnh này. Thất

nghiệp và thiếu việc làm ở mức vừa phải và tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì

ở mức cao trong nhiều năm. Tuy vậy, các vấn đề đảm bảo nước sạch và vệ sinh,

trình độ giáo dục và lao động có tay nghề, khả năng phòng chống thiên tai và đối

phó với những biến động của thị trường thế giới còn có rất nhiều khó khăn làm hạn

chế đến tình hình phát triển chung và tính bền vững của các thành quả xóa đói giảm

nghèo. Có nhiều nguyên nhân, kể cả những nguyên nhân về lịch sử và địa lý giải

thích tình trạng và cách thức phát triển hiện nay của các địa phương trên, song vấn

đề chính sách cũng có vai trò không nhỏ. Trong thời gian tới, những nổ lực hỗ trợ

công tác phòng chống thiên tai, tạo dựng những cơ chế phù hợp cho việc quản lý rủi

ro, cung cấp thông tin, trợ giúp các đối tượng dễ bị tổn thương cần được đẩy

mạnh hơn nữa.

pdf114 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Lượt xem: 2473 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n Giang 0,46 0,52 0,06 0,654 0,686 0,032 11. Bạc Liêu 0,43 0,55 0,12 0,649 0,698 0,049 12. Đồng Tháp 0,41 0,46 0,05 0,648 0,682 0,034 13. Hậu Giang 0,49 0,685 Nguồn: Tính toán từ số liệu của Báo cáo phát triển con người Việt Nam Về giá trị chỉ số HDI: năm 1999 chỉ có Vĩnh Long đạt 0,695 trên mức trung bình cả nước 0,689. Đến năm 2004, không còn tỉnh thành nào đạt giá trị chỉ số HDI cả nước 0,731. Nếu so sánh với mức trung bình của vùng thì số tỉnh thành đạt 0,702 có 6 tỉnh Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang và Cần Thơ. Các tỉnh thành này được Báo cáo phát triển con người Việt Nam 1999-2004 xếp vào nhóm phát triển cao (HDI ≥ 0,7) và có thêm tỉnh Bến Tre. Còn nếu theo phân nhóm HDI của UNDP thì không có tỉnh thành nào ở ĐBSCL thuộc nhóm phát triển cao. 50 Xét một cách tương đối, điều đó cũng đồng nghĩa là có 8,08 triệu người được hưởng mức phát triển con người trung bình toàn vùng, chiếm 47,3% dân số ĐBSCL. Còn khoảng 8,99 triệu người của 7 tỉnh khác đang ở dưới mức trung bình của vùng. Nhưng nếu xét theo chỉ số HDI cả nước thì chưa một người dân nào của ĐBSCL hưởng mức phát triển con người trung bình này. Giá trị chỉ số GDP Kiên Giang Giá trị chỉ số HDI Long An,Tiền Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Bến Tre,Trà Vinh, Vĩnh Long Sóc Trăng, An Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp Hình 2.8: Tương quan theo giá trị HDI và GDP của 12 tỉnh thành ĐBSCL năm 1999 Năm 2004: 12 tỉnh thành có mối quan hệ thuận chiều, nhưng đều là giá trị chỉ số GDP và HDI cùng thấp (so với mức trung bình cả nước K= 0,556 và H= 0,731). Duy nhất Cần Thơ có giá trị chỉ số GDP cao 0,58; nhưng giá trị chỉ số HDI là 0,720 thấp hơn cả nước. Như vậy, xét theo giá trị chỉ số HDI và GDP thì trong 13 tỉnh thành chưa có tỉnh nào đạt mối tương quan tốt. Với cách xem xét này, để đạt mức trung bình cả nước về cả chỉ số HDI và GDP bình quân đầu người, sẽ có 1 tỉnh cần cải thiện chỉ số tuổi thọ và chỉ số giáo dục, 12 tỉnh còn lại phải phấn đấu vươn lên ở cả hai chỉ tiêu về HDI – phát triển con người và về GDP – phát triển kinh tế. H= 0,689 K = 0,467 51 Giá trị chỉ số GDP Cần Thơ Vĩnh Long, Long An, Giá trị chỉ số HDI Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Hậu Giang Hình 2.9: Tương quan theo giá trị HDI và GDP của 13 tỉnh thành ĐBSCL năm 2004 2.3.1.3. Theo hệ số Tương quan theo hệ số giữa chỉ số phát triển con người và chỉ số phát triển kinh tế lại cho chúng ta một bức tranh khác hơn nữa so với hai tương quan đã xem xét trên đây. Về mặt tuyệt đối, chỉ số HDI có giá trị (0,702) cao hơn chỉ số GDP (0,52). Do đó, khi xem xét hệ số K/H của vùng ĐBSCL cho kết quả tương quan nhỏ hơn 1. Năm 1999 tỷ số này chỉ đạt 0,673 và đến năm 2004 tăng lên 0,741. Với giá trị trung bình thế giới là 0,75 thì ĐBSCL vẫn chưa đạt được mức tương thích trung bình giữa phát triển con người và phát triển kinh tế. Trong khi đó, hệ số tương quan giữa HDI và GDP của cả nước đã tăng từ 0,678 lên 0,761. Như vậy, ĐBSCL vẫn đứng sau cả nước về tương quan giữa hai chỉ số HDI và GDP. Điều này cho thấy sự đóng góp còn thấp của phát triển kinh tế vào thành tựu phát triển con người ở khu vực ĐBSCL. Xem xét toàn vùng thì có 5 tỉnh thành đạt K/H > 0,75 là Cà Mau, Kiên Giang, Cần Thơ, An Giang và Bạc Liêu. Ngoài ra còn có Trà Vinh 0,743 đạt xấp xỉ mức trung bình thế giới. Như vậy, với giá trị trung bình vùng ĐBSCL của hệ số K/H là 0,74 thì có 6 tỉnh thành đạt bằng và cao hơn. Nếu so với hệ số K/H của cả nước 0,76 thì chỉ có 3 tỉnh Cà Mau, Cần Thơ và Bạc Liêu đạt trên mức trung bình này. H= 0,731 K = 0,556 52 Bảng 2.12: Tương quan giữa chỉ số GDP với chỉ số HDI theo hệ số Hệ số K/H (GDP/HDI) Chênh lệch 1999 2004 Cả nước 0,678 0,761 0,083 ĐB Sông Hồng 0,636 0,727 0,090 Tây Bắc 0,567 0,655 0,087 Đông Bắc 0,577 0,673 0,095 Bắc Trung Bộ 0,559 0,639 0,080 DH Nam Trung Bộ 0,621 0,706 0,085 Tây Nguyên 0,662 0,666 0,003 Đông Nam Bộ 0,812 0,884 0,072 ĐBSCL 0,673 0,741 0,068 1. Vĩnh Long 0,647 0,693 0,046 2. Long An 0,671 0,713 0,043 3. Tiền Giang 0,658 0,715 0,057 4. Cà Mau 0,676 0,766 0,090 5. Kiên Giang 0,693 0,754 0,061 6. Cần Thơ 0,686 0,806 0,120 7. Bến Tre 0,659 0,713 0,055 8. Trà Vinh 0,686 0,743 0,057 9. Sóc Trăng 0,687 0,735 0,048 10. An Giang 0,703 0,758 0,055 11. Bạc Liêu 0,663 0,788 0,125 12. Đồng Tháp 0,633 0,674 0,042 13. Hậu Giang 0,715 Nguồn: Tính toán từ số liệu của Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2.3.1.4. Nhận xét Tóm lại, xét từ nhiều góc độ khác nhau mối tương quan giữa phát triển kinh tế - phát triển con người của các tỉnh ĐBSCL tuy chưa hoàn toàn đầy đủ, song cũng cho chúng ta thấy: còn ít nhất khoảng 2/3 số tỉnh thành còn ở tình trạng kém phát triển cả về kinh tế và phát triển con người. Các tỉnh này có độ tương thích thấp, kinh tế đóng góp, tác động còn ít vào phát triển con người. Những phân tích trên đây cho thấy mặc dù trong năm qua, kinh tế khu vực ĐBSCL đã liên tục đạt được tăng trưởng cao, nhưng “Tình trạng nghèo đói và cận nghèo đói hiện nay vẫn là thách thức cấp bách nhất về phát triển con người…” Hơn nữa, “bất cứ lợi ích nào mà người nghèo nhận được từ an sinh xã hội bị lấy lại thông 53 qua các phí và chi tiêu cho giáo dục và y tế. Chính phủ trợ cấp cho các hộ nghèo nhất rồi lấy lại đúng khoản đó”, cho nên “an sinh xã hội cho người nghèo là con số 0, có khi là âm” (Nhà kinh tế trưởng của UNDP ở Việt Nam, Johnathan Pincus). Giá trị chỉ số HDI tương đối cao trong khi hệ số K/H của vùng và đại đa số các tỉnh thành thấp hơn mức trung bình chứng tỏ những cố gắng về các mặt giáo dục, y tế đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận trong giá trị chỉ số HDI. Vì vậy, bài toán đặt ra ở đây là một mặt phải tăng được sự đóng góp của chỉ số GDP nhiều hơn nữa vào mục tiêu nâng cao chỉ số HDI. Mặt khác, cần tìm ra những khâu then chốt để có thể phát huy được hiệu quả của những thành tựu về giáo dục và y tế vào việc nâng cao không chỉ bản thân chỉ số HDI, mà phải nâng cao cả chỉ số GDP. Nói một cách khác là hiệu quả đầu tư cho y tế và giáo dục cần được thể hiện rõ hơn nữa trong việc giải quyết những mục tiêu bản chất của phát triển kinh tế. Nhìn tổng thể, trong giai đoạn 1999-2004, chỉ số HDI ở tất cả các tỉnh đều được cải thiện, dù với mức độ khác nhau và khoảng cách phát triển con người giữa các tỉnh đã được thu hẹp. Có được sự cải thiện như vậy một phần quan trọng là nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và đến lượt mình, tăng trưởng lại phụ thuộc vào nổ lực của các tỉnh trong việc tăng cường năng lực cạnh tranh của mình – ngoài các nhân tố khác. Tuy nhiên, vẫn tồn tại bất bình đẳng trong phân phối lợi ích tăng trưởng giữa các tỉnh. Hơn nữa, bất bình đẳng nội tỉnh về phân phối thu nhập cũng hiện hữu. Điều này đã ảnh hưởng đến mức độ thay đổi của chỉ số HDI giữa các tỉnh trong thời gian qua. 2.3.2. Mối tương quan giữa chỉ số E1 với chỉ số HDI 2.3.2.1. Theo xếp hạng Thứ hạng HDI vùng ĐBSCL đang đứng thứ 5 trong 8 vùng của cả nước, tụt 1 hạng so với năm 1999. Trong khi đó, chỉ số E1 từ vị trí thứ 3 giảm xuống hạng 7. Đây là khu vực mà trong những năm qua thực trạng giáo dục ở mức báo động, các vùng khác có sự cải thiện giáo dục đáng kể, thay đổi vị trí thứ hạng trong bản đồ giáo dục của cả nước, nhưng với ĐBSCL thì đi ngược lại xu thế này. Phải chăng chính điều này làm kéo giảm thứ hạng chỉ số HDI của vùng so với cả nước? 54 Bảng 2.13: Tương quan giữa chỉ số E1 với chỉ số HDI theo xếp hạng Tỉnh, thành phố Xếp hạng HDI +/- Xếp hạng E1 +/- Chênh lệch xếp hạng 1999 2004 1999 2004 1999 2004 ĐBSCL 4/8 5/8 -1 3/8 7/8 -4 1 -2 1. Vĩnh Long 13 16 -3 10 39 -29 3 -23 2. Long An 16 20 -4 11 42 -31 5 -22 3. Tiền Giang 18 21 -3 11 42 -31 7 -21 4. Cà Mau 20 18 2 21 45 -24 -1 -27 5. Kiên Giang 21 19 2 15 47 -32 6 -28 6. Cần Thơ 24 17 7 28 51 -23 -4 -34 7. Bến Tre 27 33 -6 32 42 -10 -5 -9 8. Trà Vinh 36 40 -4 32 53 -21 4 -13 9. Sóc Trăng 37 47 -10 40 53 -13 -3 -6 10. An Giang 38 41 -3 32 56 -24 6 -15 11. Bạc Liêu 39 34 5 32 53 -21 7 -19 12. Đồng Tháp 40 44 -4 15 51 -36 25 -7 13. Hậu Giang 42 50 0 -8 Nguồn: Tính toán từ số liệu của Báo cáo phát triển con người Việt Nam Xem xét chi tiết đến từng tỉnh thành cho thấy chỉ số giáo dục tụt hạng rõ nét hơn. Năm 2004, 13/13 tỉnh thành ĐBSCL đều tụt hạng, giảm đáng kể nhất là Long An, Tiền Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp trên 30 bậc; Bến Tre giảm 10 bậc; Sóc Trăng giảm 13 bậc; còn lại giảm từ 20 – 30 bậc. Trong khi đó, chỉ số HDI tuy có chiều hướng tụt hạng (8/12 tỉnh) song biên độ thay đổi không lớn, chỉ có Sóc Trăng giảm 10 bậc; còn 4 tỉnh tăng hạng. Do đó, chúng ta thấy chênh lệch xếp hạng giữa chỉ số HDI và chỉ số E1 qua hai năm cũng khác biệt rất rõ. Năm 1999 chênh lệch thứ hạng dao động dưới 10 bậc, duy nhất Đồng Tháp chênh lệch 25 bậc. Đến năm 2004 biên độ đã nới rộng hơn, khoảng cách chênh lệch tách xa dần, và một điều thấy rõ rằng chênh lệch thứ hạng đều là số âm, nghĩa là thứ hạng HDI luôn cao hơn thứ hạng E1. Cần Thơ có khoảng chênh lệch thứ hạng lớn nhất -34 bậc, thật khó lý giải đối với một thành phố được xem là phát triển đi đầu của khu vực ĐBSCL? Phải chăng chênh lệch phát triển nội vùng còn quá lớn, giữa thành thị và nông thôn, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã làm 55 phân tầng rõ nét? Khoảng chênh lệch dưới 10 bậc có các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Đồng Tháp và Hậu Giang. Hình 2.10: Chênh lệch xếp hạng chỉ số HDI và E1 năm 2004 Xếp hạng theo HDI HDI CAO 1 HDI CAO E1 THẤP E1 CAO 11 Vĩnh Long, Long An, Bến Tre Tiền Giang, Cà Mau, 21 Kiên Giang, Cần Thơ 61 51 41 31 21 11 1 Xếp hạng theo E1 Trà Vinh, Sóc Trăng, 41 An Giang, Bạc Liêu Đồng Tháp 51 HDI THẤP HDI THẤP E1 THẤP 61 E1 CAO Hình 2.11: Tương quan theo xếp hạng HDI và E1 của 12 tỉnh thành ĐBSCL năm 1999 Năm 1999 mối tương quan này có đầy đủ nhóm các tỉnh thuận chiều và ngược chiều. Trong đó, có 6/12 tỉnh thuận chiều HDI và E1 cùng cao (thứ hạng < 31), đó là 56 Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang và Cần Thơ. Ngược lại, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang và Bạc Liêu có thứ hạng HDI và E1 cùng thấp (> 31). Nhóm tương quan ngược chiều có tỉnh Bến Tre thứ hạng HDI cao nhưng E1 thấp và Đồng Tháp có thứ hạng HDI thấp nhưng E1 cao. Bức tranh sinh động đó đã thay đổi hoàn toàn vào năm 2004, những tỉnh có thứ hạng chỉ số E1 cao đã không còn xuất hiện. Đồng Tháp vốn xếp hạng E1 cao vào năm 1999 nay cũng được đưa vào nhóm có HDI và E1 cùng thấp. Bến Tre có HDI xếp hạng cao nay lại bị tụt xuống nhóm thuận chiều thấp. Như vậy, tương quan xếp hạng giữa chỉ số phát triển con người và chỉ số giáo dục chỉ còn phân thành hai nhóm E1 thấp + HDI cao hay HDI thấp. Xếp hạng theo HDI HDI CAO 1 E1 THẤP Vĩnh Long, Long An, 12 Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang, Cần Thơ 22 64 52 42 32 22 12 1 Xếp hạng theo E1 Bến Tre, Trà Vinh, 42 Sóc Trăng, An Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp, 52 Hậu Giang HDI THẤP 64 E1 THẤP Hình 2.12: Tương quan theo xếp hạng HDI và E1 của 13 tỉnh thành ĐBSCL năm 2004 Như vậy, xét theo mối tương quan xếp hạng thì toàn vùng ĐBSCL chưa có tỉnh thành nào đạt được độ tương thích tốt giữa chỉ số HDI và E1. 7/13 tỉnh có mối quan hệ thuận chiều cùng thấp, 6 tỉnh còn lại vốn tương thích tốt cùng cao (năm 1999) nay lại có tương quan ngược chiều. 57 Điều này cho thấy, giáo dục ĐBSCL trong thời gian qua chưa đóng góp hợp lý vào sự phát triển của chỉ số phát triển con người. Ta sẽ khẳng định vấn đề này rõ hơn qua việc xem xét mối tương quan giữa chúng với góc độ tiếp cận khác. 2.3.2.2. Theo giá trị Bảng 2.14: Tương quan giữa chỉ số E1 với chỉ số HDI theo giá trị Tỉnh, thành phố Giá trị chỉ số HDI +/- Giá trị chỉ số E1 +/- 1999 2004 1999 2004 Cả nước 0,689 0,731 0,042 0,84 0,86 0,02 ĐB Sông Hồng 0,723 0,757 0,034 0,81 0,89 0,08 Tây Bắc 0,564 0,611 0,047 0,68 0,72 0,04 Đông Bắc 0,641 0,684 0,043 0,72 0,85 0,13 Bắc Trung Bộ 0,662 0,704 0,042 0,75 0,89 0,14 DH Nam Trung Bộ 0,676 0,722 0,046 0,76 0,88 0,12 Tây Nguyên 0,604 0,646 0,042 0,64 0,83 0,19 Đông Nam Bộ 0,751 0,792 0,041 0,80 0,86 0,06 ĐBSCL 0,669 0,702 0,033 0,77 0,80 0,03 1. Vĩnh Long 0,695 0,721 0,026 0,80 0,84 0,04 2. Long An 0,686 0,715 0,029 0,79 0,83 0,04 3. Tiền Giang 0,684 0,713 0,029 0,79 0,83 0,04 4. Cà Mau 0,680 0,718 0,038 0,77 0,82 0,05 5. Kiên Giang 0,678 0,716 0,038 0,78 0,81 0,03 6. Cần Thơ 0,671 0,720 0,049 0,76 0,79 0,03 7. Bến Tre 0,668 0,701 0,033 0,75 0,83 0,08 8. Trà Vinh 0,656 0,686 0,03 0,75 0,78 0,03 9. Sóc Trăng 0,655 0,680 0,025 0,74 0,78 0,04 10. An Giang 0,654 0,686 0,032 0,75 0,77 0,02 11. Bạc Liêu 0,649 0,698 0,049 0,75 0,78 0,03 12. Đồng Tháp 0,648 0,682 0,034 0,78 0,79 0,01 13. Hậu Giang 0,685 0,80 Nguồn: Tính toán từ số liệu của Báo cáo phát triển con người Việt Nam Về giá trị chỉ số HDI: năm 1999 chỉ có Vĩnh Long đạt 0,695 trên mức trung bình cả nước 0,689. Đến năm 2004, không còn tỉnh thành nào đạt giá trị chỉ số HDI cả nước 0,731. Nếu so sánh với mức trung bình của vùng thì số tỉnh thành đạt ≥ 0,702 có 6 tỉnh tỉnh Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang và Cần Thơ. Các tỉnh thành này được Báo cáo phát triển con người Việt Nam 1999-2004 58 xếp vào nhóm phát triển cao (HDI ≥ 0,7) và có thêm tỉnh Bến Tre. Còn nếu theo phân nhóm HDI của UNDP thì không có tỉnh thành nào ở ĐBSCL thuộc nhóm phát triển cao. Xét một cách tương đối, điều đó cũng đồng nghĩa là có 8,08 triệu người được hưởng mức phát triển con người trung bình toàn vùng, chiếm 47,3% dân số ĐBSCL. Còn khoảng 8,99 triệu người của 7 tỉnh khác đang ở dưới mức trung bình của vùng. Nhưng nếu xét theo chỉ số HDI cả nước thì chưa một người dân nào của ĐBSCL hưởng mức phát triển con người trung bình này. Về giá trị chỉ số E1: xét theo mức trung bình cả nước thì không một tỉnh thành nào ở vùng ĐBSCL đạt 0,835 năm 1999 và đạt 0,855 năm 2004. Nhưng nếu xét theo mức bình quân của vùng thì có 7 tỉnh thành đạt mức 0,77 năm 1999 và 0,8 năm 2004. Điều đáng lưu ý là 7 tỉnh thành này không được giữ nguyên, Bến Tre có chuyển biến tăng, năm 2004 đạt 0,83 trên mức trung bình của vùng. Ngược lại Đồng Tháp đến năm 2004 chỉ số giáo dục là 0,79 thấp hơn mức bình quân của vùng. Xem xét này một lần nữa cho ta thấy Cần Thơ đều chưa đạt mức trung bình của vùng ở cả hai năm. Giá trị chỉ số E1 Giá trị chỉ số HDI Long An,Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang, Vĩnh Long Cần Thơ, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp Hình 2.13: Tương quan theo giá trị HDI và E1 của 12 tỉnh thành ĐBSCL năm 1999 Năm 1999: 11/12 tỉnh thành có mối quan hệ thuận chiều, nhưng đều là giá trị chỉ số E1 và HDI cùng thấp (so với mức trung bình cả nước H= 0,689 và E1= 0,835). H= 0,689 E1 = 0,835 59 Duy nhất Vĩnh Long có giá trị chỉ số HDI cao 0,695; nhưng giá trị chỉ số E1 là 0,8 thấp hơn cả nước. Và đây cũng là tỉnh đứng đầu khu vực về giá trị của cả hai chỉ số. Năm 2004: Vĩnh Long cùng được xếp vào nhóm quan hệ thuận chiều thấp và như vậy 13 tỉnh thành khu vực ĐBSCL đều có giá trị chỉ số HDI và E1 dưới mức trung bình cả nước H= 0,731 và E1= 0,855. Tóm lại, xét theo giá trị chỉ số HDI và E1 thì trong 13 tỉnh thành chưa có tỉnh nào đạt mối tương quan tốt. Với cách xem xét này, để đạt mức trung bình cả nước, cả 13 tỉnh thành cần cải thiện chỉ số phát triển con người và chỉ số phát triển giáo dục. Và để đạt mức trung bình của vùng (H= 0,702 và E1= 0,8) thì có 5 tỉnh cần vươn lên ở cả hai chỉ số là Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Bạc Liêu và Đồng Tháp; 2 tỉnh cải thiện chỉ số phát triển con người là Bến Tre, Hậu Giang và phải phấn đấu vươn lên ở chỉ tiêu giáo dục là Cần Thơ. Giá trị chỉ số E1 Giá trị chỉ số HDI Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang, Cần Thơ, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Hậu Giang Hình 2.14: Tương quan theo giá trị HDI và E1 của 13 tỉnh thành ĐBSCL năm 2004 2.3.2.3. Theo hệ số Giá trị của hệ số E1/H (E1/HDI) biểu đạt phần đóng góp của nhân tố giáo dục vào chỉ số phát triển con người của cộng đồng, phản ánh giáo dục là mục tiêu của quá trình phát triển. H= 0,731 E1 = 0,855 60 Tương quan giữa chỉ số phát triển giáo dục E1 với chỉ số phát triển con người HDI của vùng ĐBSCL năm 1999 là 1,15 giảm xuống còn 1,14 năm 2004. Trong khi đó, hệ số này của cả nước giảm từ 1,21 xuống 1,17. Tuy thấp hơn mức trung bình cả nước, nhưng hệ số E1/H của vùng vẫn còn ở mức cao. Bảng 2.15: Tương quan giữa chỉ số E1 với chỉ số HDI theo hệ số Hệ số E1/H (E1/HDI) Chênh lệch 1999 2004 Cả nước 1,212 1,170 -0,042 ĐB Sông Hồng 1,120 1,176 0,055 Tây Bắc 1,206 1,178 -0,027 Đông Bắc 1,123 1,243 0,119 Bắc Trung Bộ 1,133 1,264 0,131 DH Nam Trung Bộ 1,124 1,219 0,095 Tây Nguyên 1,060 1,285 0,225 Đông Nam Bộ 1,065 1,086 0,021 ĐBSCL 1,151 1,140 -0,011 1. Vĩnh Long 1,151 1,165 0,014 2. Long An 1,152 1,161 0,009 3. Tiền Giang 1,155 1,164 0,009 4. Cà Mau 1,132 1,142 0,010 5. Kiên Giang 1,150 1,131 -0,019 6. Cần Thơ 1,133 1,097 -0,035 7. Bến Tre 1,123 1,184 0,061 8. Trà Vinh 1,143 1,137 -0,006 9. Sóc Trăng 1,130 1,147 0,017 10. An Giang 1,147 1,122 -0,024 11. Bạc Liêu 1,156 1,117 -0,038 12. Đồng Tháp 1,204 1,158 -0,045 13. Hậu Giang 1,168 Nguồn: Tính toán từ số liệu của Báo cáo phát triển con người Việt Nam HDI = 0,702 1,05 có hiện tượng nhân tố giáo dục đã lấn phần đóng góp của nhân tố kinh tế và nhân tố tuổi thọ vào HDI. Chứng tỏ giáo dục ĐBSCL không có sự đóng góp hợp lý vào thành quả HDI của cộng đồng. Phân tích hệ số E1/H ở các tỉnh ĐBSCL đều cho thấy có giá trị lớn hơn 1,05 và 13 tỉnh thành này đều có giá trị chỉ số HDI < 0,8. Điều này cũng cho ta kết luận: nhân tố giáo dục đã lấn phần đóng góp của nhân tố kinh tế và nhân tố tuổi thọ vào 61 HDI. Ngoài ra, hệ số E1/H lớn hơn 1 còn chứng tỏ người dân ĐBSCL có phúc lợi giáo dục cao trong HDI. Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng có tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhóm dân số 6-23 tuổi đi học các cấp là khá cao. Với giá trị này, giáo dục đã góp phần làm gia tăng chỉ số phát triển con người HDI. Tuy có tỷ lệ đi học các cấp giáo dục thấp nhất cả nước 61,5% và tỷ lệ người lớn biết chữ 89,8% đứng thứ 3 trên Tây Bắc và Tây Nguyên (năm 2004) nhưng chỉ số giáo dục ĐBSCL vẫn xếp vào hàng cao trong khu vực, đạt từ 0,75 – 0,85. Tuy nhiên ĐBSCL có chỉ số phát triển con người chưa cao do đó khi xem xét hệ số E1/H ta thấy rõ vấn đề này. 2.3.2.4. Nhận xét Xem xét mối tương quan giữa chỉ số phát triển con người HDI và chỉ số giáo dục E1 ở nhiều góc độ khác nhau cho thấy tính tương thích còn thấp và có hiện tượng nhân tố giáo dục lấn phần đóng góp của các nhân tố khác vào chỉ số HDI. Chỉ số E1 đạt khá cao song chỉ số HDI lại không cao tương đồng, do đó độ chênh tỷ số này lớn hơn 1. Như vậy sâu trong nội hàm của chỉ số HDI đang có sự mất cân xứng. Chỉ số giáo dục được xây dựng trên tỷ lệ biết chữ của người lớn (từ 15 tuổi trở lên) và trên tỷ lệ ghi danh theo học các bậc tiểu học, trung học và đại học gộp lại. Nhưng tỷ lệ biết chữ chiếm 2/3 hệ số, trong khi tỷ lệ ghi danh ở tiểu, trung và đại học chỉ chiếm 1/3 hệ số. Nói cách khác, căn bản quan trọng để tính toán chỉ số giáo dục giữa các quốc gia là tỷ lệ biết chữ. Theo định nghĩa khái niệm “kỹ năng biết chữ của người lớn” trong cuộc khảo sát quốc tế về tình trạng biết chữ của người trưởng thành được thực hiện từ 1994 - 1998 (IALS, International Adult Literacy Survey), có nghĩa là “sự hiểu biết và khả năng sử dụng thông tin để có thể vận dụng một cách hiệu quả các kiến thức đòi hỏi trong một xã hội tri thức của thế kỷ 21”. Nói cách khác, biết chữ có nghĩa là kiến thức và kỹ năng xử lý thông tin mà con người cần phải có khi đọc các tài liệu thường gặp hằng ngày trong công việc làm, ở gia đình hay trong cộng đồng. 62 Khi thực hiện cuộc khảo sát này để tính tỷ lệ biết chữ của một nước, người ta không đo lường cá nhân về kiến thức lý thuyết hay khả năng nhớ thuộc lòng các thông tin, mà chỉ khảo sát khả năng triển khai và giải thích ý nghĩa của các tài liệu dưới nhiều dạng khác nhau: văn xuôi, văn vần, các tài liệu hướng dẫn, các thông báo, biểu mẫu xin việc, bảng biểu thống kê, tài liệu định lượng, các tính toán... Căn cứ trên điểm số các thang đo lường ấy, người ta phân chia dân chúng trong mỗi nước theo các mức biết chữ và tính tỷ lệ trong từng mức, từ 1 (thấp nhất) đến 5 (cao nhất). Mức 3 đòi hỏi kỹ năng tương đương với tốt nghiệp trung học phổ thông và năm đầu đại học. Mức 4 và 5 đòi hỏi kỹ năng xử lý thông tin cao hơn, tương đương với trình độ đại học. Như vậy, nếu tỷ lệ biết chữ ở ĐBSCL là 89,8% (2004), tức vào hàng thứ 6 trong 8 vùng cả nước, điều này cũng chưa đủ để nói lên chất lượng nền giáo dục nếu chưa biết được tỷ lệ phần trăm số người ở mỗi mức biết chữ, trong năm mức nói trên, ở lớp tuổi 15 - 65. Hiện nay, dường như chưa có dữ kiện thống kê nào cho biết được các tỷ lệ này ở ĐBSCL nói riêng cũng như của cả nước nói chung. Điều mà chúng ta mong mỏi đạt tới không phải là tỷ lệ biết chữ 92,2% như cả nước hiện nay hay cao hơn nữa, nếu tỷ lệ ấy gồm đa số người dân ở mức 1, nghĩa là mức biết chữ thấp nhất. Điều mà ta mong mỏi là tỷ lệ cao ở mức biết chữ từ bậc 3 trở lên, tức là trình độ học vấn tương đương trung học phổ thông. Đó là mức dân trí cần thiết mà các nước đang cố gắng đạt đến trong nền kinh tế tri thức toàn cầu. Thế nhưng nhìn lại bảng số liệu về chỉ số phát triển con người trong báo cáo, ta thấy tỷ lệ phần trăm ghi danh theo học từ bậc tiểu học lên đến đại học ở ĐBSCL chỉ là 61,5%, đứng thấp nhất toàn quốc. Nếu tình trạng này không được cải thiện, nhất là ở bậc trung học phổ thông và đại học, thì trong tương lai dù tỷ lệ biết chữ có tăng lên kéo theo sự gia tăng chỉ số giáo dục, nhưng đa số dân chúng còn ở mức độ biết chữ thấp, điều đó cũng không thể lạc quan và cũng không nói lên được sự gia tăng về chất lượng của nền giáo dục, hay khả năng đáp ứng của nó trong nền kinh tế hội nhập và phát triển. 63 Nói tóm lại, tỷ lệ người lớn biết chữ cao là một điều kiện thuận lợi để đông đảo người dân ĐBSCL tiếp nhận thông tin. Tuy nhiên, đa số dân cư là nông dân và mức độ phổ cập giáo dục mới ở mức tiểu học. Trình độ văn hóa còn thấp như vậy hạn chế cả sự phát triển các nhu cầu về tinh thần cũng như các điều kiện thỏa mãn chúng của họ. Ngoài ra việc không biết và không thông thạo ngoại ngữ của gần như toàn bộ dân cư nông thôn và một bộ phận đáng kể dân thành thị đang là một trong những trở ngại lớn nhất đối với việc đón nhận các cơ hội về thông tin và tri thức toàn cầu đang mở rộng. Hơn nữa, do thu nhập còn thấp, nên đa số người dân chưa có nhiều điều kiện cải thiện nhanh chóng trình độ văn hóa và chất lượng đời sống tinh thần của mình; ưu tiên hàng đầu của họ vẫn là thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu và đối phó với các rủi ro, hoặc là để con cái họ tiếp tục học ở cấp cao hơn. 2.3.3. Mối tương quan giữa chỉ số GDP với chỉ số E1 2.3.3.1. Theo xếp hạng Trong khi thứ hạng chỉ số GDP của ĐBSCL vẫn giữ nguyên vị trí thứ 3 trong 8 vùng cả nước, thì chỉ số E1 giảm từ hạng 3 xuống hạng 7. Mặc dù thu nhập bình quân đầu người đã tăng từ 4.200 nghìn đồng (tương đương 1.496 USD PPP) năm 1999 lên 7.093 nghìn đồng (tương đương 2.239 USD PPP) năm 2004, vẫn thấp hơn mức trung bình cả nước 8.720 nghìn đồng (2.745 USD PPP), nhưng ĐBSCL vẫn xếp thứ 3 (sau Đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ). Phải chăng điều này cũng không có nhiều ý nghĩa trong việc duy trì và cải thiện tình hình giáo dục ở ĐBSCL? Đây là khu vực mà trong những năm qua thực trạng giáo dục ở mức báo động. Các vùng khác có sự cải thiện giáo dục đáng kể, thay đổi vị trí thứ hạng trong bản đồ giáo dục của cả nước (Bắc Trung Bộ từ hạng 5 lên hạng 1, Tây Nguyên từ hạng 8 lên hạng 6) nhưng với ĐBSCL thì đi ngược lại xu thế này. Xem xét chi tiết đến từng tỉnh thành cho ta thấy rõ nét hơn. 13/13 tỉnh thành ĐBSCL đều tụt hạng, giảm đáng kể nhất là Long An, Tiền Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp trên 30 bậc; Bến Tre giảm 10 bậc; Sóc Trăng giảm 13 bậc; còn lại giảm từ 20 – 30 bậc. 64 Bảng 2.16: Tương quan giữa chỉ số GDP với chỉ số E1 theo xếp hạng Tỉnh, thành phố Xếp hạng GDP +/- Xếp hạng E1 +/- Chênh lệch xếp hạng 1999 2004 1999 2004 1999 2004 ĐBSCL 3/8 3/8 0 3/8 7/8 -4 0 -4 1. Vĩnh Long 15 23 -8 10 39 -29 5 -16 2. Long An 11 19 -8 11 42 -31 0 -23 3. Tiền Giang 15 21 -6 11 42 -31 4 -21 4. Cà Mau 11 12 -1 21 45 -24 -10 -33 5. Kiên Giang 9 13 -4 15 47 -32 -6 -34 6. Cần Thơ 11 8 3 28 51 -23 -17 -43 7. Bến Tre 19 24 -5 32 42 -10 -13 -18 8. Trà Vinh 15 20 -5 32 53 -21 -17 -33 9. Sóc Trăng 15 25 -10 40 53 -13 -25 -28 10. An Giang 11 15 -4 32 56 -24 -21 -41 11. Bạc Liêu 21 11 10 32 53 -21 -1

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLVDLDLH024.pdf
Tài liệu liên quan