Luận văn Năng lực của chủ tịch uỷ ban nhân dân xã, thị xã phước Long, tỉnh Bình Phước

Trang

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 7

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 8

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 8

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 10

7. Kết cấu 10

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC CỦA CHỦ

TỊCH UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ

1.1. Khái niệm quát về Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã 12

1.2. Năng lực Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã 17

1.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã 26

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của Chủ tịch Uỷ ban nhân

dân xã 38

1.4.1. Yếu tố khách quan 39

1.4.2. Yếu tố chủ quan 40

1.5. Kinh nghiệm của Hà Tỉnh, Bắc Giang, Bắc Ninh trong việc

nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức 42

Chương 2

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA CHỦ TỊCH UỶ BAN

NHÂN DÂN XÃ, THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

2.1. Khái quát về điều kiện, tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Phước

Long, tỉnh Bình Phước 49

2.1.1. Điều kiện tự nhiên thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước 49

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước 51

pdf117 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 17/03/2022 | Lượt xem: 323 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Năng lực của chủ tịch uỷ ban nhân dân xã, thị xã phước Long, tỉnh Bình Phước, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
không đủ trang trải, mức sống của cán bộ bị giảm sút, họ phải lo kiếm thêm việc làm khác, thậm chí phải tham nhũng, bòn rút công quỹ, gây ra những hậu quả xấu đối với bản thân người cán bộ và đối với Nhà nước. Ngược lại, nếu tiền lương cho cán bộ lớn hơn hoặc bằng mức thu nhập trung bình khá của xã hội thì sẽ tạo cho cán bộ yên tâm, phấn khởi, tận tuỵ với công việc, dồn hết khả năng sức lực và trí lực cho công việc vì lợi ích chung để hoàn thành công vụ được giao. Bên cạnh lương, các chế độ phúc lợi và an sinh xã hội dành cho cán bộ đảm nhận chức danh Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã cũng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ và tinh thần trách nhiệm của họ đối với công vụ được giao. Các chế độ phúc lợi từ hệ thống an sinh xã hội như các khoản trợ cấp ốm đau, thai sản, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giúp đội ngũ cán bộ yên tâm công tác, nhờ đó mà hiệu quả thực thi công vụ cũng được nâng lên. 1.5. Kinh nghiệm của Hà Tỉnh, Bắc Giang và thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh trong việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức 43 1.5.1. Kinh nghiệm của tỉnh Hà Tỉnh Để nâng cao chất lượng đội ngũ Chủ tịch Uỷ ban nhân xã, những năm qua, Tỉnh Uỷ Hà Tỉnh đã chỉ đạo triển khai thực hiện nhiều giải pháp, chính sách mới, mang lại nhiều kết quả tốt. Cụ thể như sau: Thứ nhất, thực hiện chính sách thu hút nhân tài: ưu tiên sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học và thạc sĩ về công tác tại xã. Trong 03 năm (2011 – 2013) đã có 803 người về công tác tại cơ sở.Thứ hai, các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hoá cán bộ, công chức cấp xã. Từ 2009 đến nay, toàn tỉnh đã cử đi đào tạo, chuẩn hoá 7.992 lượt cán bộ, công chức cấp xã từ trung cấp đến đại học; đào tạo bồi dưỡng khác cho 25.600 lượt cán bộ, công chức; tỉnh cũng đã tổ chức chỉnh huấn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt đang công tác tại 262 xã, phường, thị trấn với 766 đồng chí tham gia. Thứ ba, công tác luân chuyển, bổ nhiệm, chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ cơ sở được thực hiện ngày càng tốt hơn, mạnh dạn hơn. Các huyện Đức Thọ, Kỳ Anh, Hương Sơn... đã luân chuyển 9 đồng chí cán bộ huyện về làm cán bộ chủ chốt ở xã. Đến nay, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tăng lên; trình độ, kiến thức, năng lực lãnh đạo, quản lý từng bước được nâng lên. Thứ tư, công tác tư tưởng, nâng cao trách nhiệm cũng như khả năng đi đầu của các Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường để làm gương cho những cán bộ, công chức khác ở phong cách làm việc khoa học, nghiêm túc; trong cuộc sống đời thường, luôn chia sẻ thuận lợi, khó khăn với đồng chí, đồng nghiệp, với quần chúng nhân dân, luôn “nói đi đôi với làm”, và gương mẫu, hết lòng vì nhiệm vụ chung. Có như vậy mới phát huy được sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong xây dựng nông thôn mới. Thực tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đã tích cực phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cùng nhân dân tạo nên những thành tựu 44 về đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, cải thiện dân sinh, tăng cường Quốc phòng an ninh, làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn, thành thị, góp phần thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhiều cán bộ cơ sở nêu cao tinh thần trách nhiệm, sâu sát nhân dân, bám sát địa bàn dân cư, nhạy bén với thực tiễn, kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong đời sống, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển của tỉnh nhà trong những năm gần đây... 1.5.2. Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Giang Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh, thời kỳ qua, Các cấp ủy ở Bắc Giang luôn chú trọng công tác rèn luyện đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở với nhiều cách làm sáng tạo và cụ thể: Một là, khắc phục những khâu yếu kém, nhất là về con người, nhằm tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, xây dựng nông thôn mới. Điển hình là Tân Yên, từ một huyện trung du nghèo, sau 4 năm có nhiều thay đổi lớn. Song hành cùng những thay đổi này có dấu ấn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở. Năm 2010, trong số 262 cán bộ chuyên trách, chỉ có 20 người trình độ đại học, 120 người chưa qua đào tạo, chiếm gần 46%; trong 202 công chức, trình độ đại học có 47 người, 12 người chưa qua đào tạo. Sự bất cập này là căn nguyên khiến nhiều mục tiêu phát triển Kinh tế - xã hội đặt ra trước đó khó hoàn thành. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, để vẫn đội ngũ ấy mà tạo được chuyển biến, Đảng ủy - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân huyện Tân Yên đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, trước hết là bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, theo hướng yếu lĩnh vực nào, bồi dưỡng lĩnh vực đó. Huyện ủy có giải pháp mới, yêu cầu các xã, thị trấn cử cán bộ, công chức tham gia bồi dưỡng ba tháng, mỗi tuần học ba ngày tại các phòng, 45 ban, cơ quan của huyện. Các ngày còn lại, cán bộ, công chức về xã, thị trấn thực hành, ứng dụng ngay kiến thức, kỹ năng được bồi dưỡng theo phân công công tác. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thực hiện chế độ nhận xét, đánh giá hàng tháng đối với cán bộ đến bồi dưỡng. Với chương trình này, đã có gần 200 cán bộ, công chức cấp xã được học việc. Thực tế khẳng định, hầu hết số cán bộ được tập huấn, bồi dưỡng đều áp dụng được các kiến thức, kỹ năng học vào công việc hằng ngày. Hai là, cần hoàn thiện các kỹ năng của cán bộ, công chức trong công tác chuyên môn: điểm yếu của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là khả năng nắm bắt, ra quyết định xử lý tình huống, các vấn đề mới nảy sinh trong tiến trình đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là khi luân chuyển cán bộ, công chức xã chuyển sang công tác mới sẽ gặp không ít lúng túng: kỹ năng thuyết trình, điều hành cuộc họp, đến xử lý văn bản... Thông qua các lớp bồi dưỡng theo chức danh do Huyện ủy tổ chức trong hai tuần học, thảo luận, thực hành trên lớp, cùng việc tự học hỏi, nghiên cứu, cán bộ, công chức tự tin trên diễn đàn, trong giải quyết các tình huống ở cơ sở. Ba là, cần hướng về cơ sở, giúp đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức tại chỗ, tăng cường kinh nghiệm thực tiễn cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, hướng tới đội ngũ đạt chuẩn toàn diện. Tỉnh ủy Bắc Giang đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ từ cấp huyện về cơ sở và ngược lại. Thực tế cho thấy, trong số 43 cán bộ cấp huyện được luân chuyển về cơ sở giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đều đã tận dụng được lợi thế chuyên môn, vận dụng sáng tạo trong công việc, tạo sự gắn kết với cơ sở. Phần lớn cán bộ luân chuyển là người trẻ, năng động, có triển vọng, phát huy được khả năng tại cơ sở; góp phần tạo nguồn cán bộ trước mắt và lâu dài. Cũng như nhiều địa phương khác, Bắc Giang còn nhiều việc phải bàn trong chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức; trong lựa chọn ngành học, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức sau đào tạo; xây dựng chương trình bồi dưỡng sao 46 cho thật sự hiệu quả, không hình thức, tránh lãng phí, từng bước phấn đấu nâng tầm đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở địa phương. 1.5.3 Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có thể áp dụng với thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Qua những kinh nghiệm thành công của một số tỉnh bạn, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có thể áp dụng một số kinh nghiệm rút ra sau: Thứ nhất, phải làm thật tốt và chặt chẽ khâu tuyển dụng. Cần tổ chức, thực hiện tuyển dụng theo năng lực và cạnh tranh, xóa bỏ cơ chế “xin- cho”. Chính sách thu hút nhân tài đã và đang được nhiều địa phương áp dụng cũng là một giải pháp hay cho thị xã Từ Sơn nhằm thu hút được và ngày càng nhiều cán bộ, công chức giỏi về làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và cán bộ, công chức xã nói riêng. Thứ hai, thực hiện tiêu chuẩn hóa các chức danh cán bộ, công chức: có ý nghĩa rất quan trọng để bố trí, sử dụng cán bộ, công chức một cách đúng đắn và chính xác; là căn cứ để xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức, đồng thời cũng là mục tiêu để mỗi cán bộ phấn đấu, rèn luyện và tự hoàn thiện bản thân. Thứ ba, tiếp tục thực hiện luân chuyển cán bộ: nhằm từng bước khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ địa phương. Việc thực hiện điều động, luân chuyển lãnh đạo các phòng, ban của huyện về giữ các chức danh chủ chốt ở xã, phường có tình hình phức tạp, yếu kém để củng cố hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở; đồng thời luân chuyển cán bộ từ xã lên huyện nhằm kết hợp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã dự nguồn các chức danh chủ chốt ở cơ sở. Thứ tư là công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã phải được quan tâm thường xuyên, đúng mực. Không chỉ trình độ chuyên môn, 47 trình độ lý luận chính trị mà cả những kỹ năng cần thiết của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ: kỹ năng giao tiếp, tiếp đón công dân, sự tự tin, mạnh dạn trong các cuộc họp... Cử cán bộ, công chức tham dự các khóa học dài hạn, tập trung ở các cơ sở đào tạo chuyên ngành. Tuy nhiên, đào tạo, bồi dưỡng cần chú trọng vào nội dung, phương pháp đào tạo. Yếu kém khâu nào, đào tạo bồi dưỡng khâu đó. tâm thường xuyên, đúng mực. Không chỉ trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị mà cả những kỹ năng cần thiết của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ: kỹ năng giao tiếp, tiếp đón công dân, sự tự tin, mạnh dạn trong các cuộc họp... Cử cán bộ, công chức tham dự các khóa học dài hạn, tập trung ở các cơ sở đào tạo chuyên ngành. Tuy nhiên, đào tạo, bồi dưỡng cần chú trọng vào nội dung, phương pháp đào tạo. Yếu kém khâu nào, đào tạo bồi dưỡng khâu đó. 48 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Chương 1 đã phân tích và trình bày các vấn đề lý luận chung về năng lực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã. Cụ thể: Chương 1 đã phân tích khái niệm năng lực và khái niệm về năng lực về Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã và đặc biệt đi sâu phân tích năng lực Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã và các tiêu chí đánh giá năng lực. Phần quan trọng nhất mà chương 1 đã giải quyết được đó là tập trung làm rỏ khái niệm năng lực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã; phân tích các tiêu chí đánh giá năng lực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã trên các phương diện chính là kiến thức, kỹ năng, thái độ và mức độ hoàn thành công việc được giao. Chương 1 cũng đã trình bày và phân tích những yếu tố căn bản và quan trọng ảnh hưởng đến năng lực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã. Kết quả nghiên cứu của chương 1 là căn cứ khoa học lý luận để tác giả tiến hành nghiên cứu, khảo sát và phân tích thực trạng năng lực của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã trên địa bàn thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. 49 Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA CHỦ TỊCH UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ, THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC 2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước 2.1.1. Điều kiện tự nhiên thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước Trước ngày 30/4/1975, Thị xã Phước Long là một bộ phận của quận Bà Rá tỉnh Biên Hoà xưa kia. Ngày 22 tháng 10 năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chia tỉnh Biên Hòa thành 4 tỉnh: Biên Hòa, Long Khánh, Phước Long (có thêm phần đất của tỉnh Thủ Dầu Một), Bình Long (có thêm phần đất của tỉnh Thủ Dầu Một), thị xã Phước Long lúc đó thuộc quận Phước Bình, tỉnh Phước Long, đồng thời cũng là tỉnh lỵ tỉnh Phước Long. Ngày 29 tháng 8 năm 1994, xã Phước Bình được chia thành 2 đơn vị hành chính là thị trấn Thác Mơ (huyện lỵ) và thị trấn Phước Bình, 2 thị trấn Phước Bình và Thác Mơ chính là tiền thân của thị xã Phước Long ngày nay. Ngày 11 tháng 8 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 35/NQ- CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính cấp huyện, xã. Theo đó, thành lập thị xã Phước Long thuộc tỉnh Bình Phước trên cơ sở điều chỉnh 11.883,93 ha diện tích tự nhiên và 50.019 nhân khẩu của huyện Phước Long (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Thác Mơ, thị trấn Phước Bình, xã Sơn Giang, xã Long Giang, xã Phước Tín; 540,17 ha diện tích tự nhiên và 3.803 nhân khẩu của xã Bình Sơn; 423,67 ha diện tích tự nhiên và 2.542 nhân khẩu của xã Bình Tân). Thành lập 2 phường: Thác Mơ và Long Thủy trên cơ sở giải thể thị trấn Thác Mơ; thành lập 2 phường: Phước Bình và Long Phước 50 trên cơ sở giải thể thị trấn Phước Bình; chuyển xã Sơn Giang thành phường Sơn Giang. Trung tâm thị xã đặt tại phường Thác Mơ [16,tr.1]. Thị xã Phước Long có địa hình tương đối dốc và chia cắt mạnh so với bình quân chung toàn tỉnh, đây là một trong những yếu tố khó khăn trong việc bố trí sử dụng đất so với các huyện thị khác trong tỉnh. Trong đó: - Có 63,71% diện tích tự nhiên có độ dốc <15o (toàn tỉnh 71,67% DTTN) đây là phần diện tích thuận lợi cho việc sử dụng đất (cả về nông nghiệp và phi nông nghiệp), trong đó: 13,58% diện tích có độ dốc từ 3-8o và 22,88% diện tích có độ dốc từ 8-15o [14,tr.2]. - Diện tích đất có độ dốc >15o, chiếm 36,3% tổng diện tích tự nhiên. Phần diện tích đất này rất khó khăn trong việc sản xuất nông nghiệp và nhất là gây khó khăn và tốn kém trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng. Trong đó: đất có độ dốc từ 15-20o (chiếm 27,74% tổng diện tích tự nhiên) [18,tr.2]. Thị xã Phước Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao điều quanh năm, ít gió bão, không có mùa đông lạnh, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nói chung và nhất là sản xuất nông nghiệp, với các loại cây trồng nhiệt đới điển hình. Trong đó nổi bật một số đặc điểm sau: Có bức xạ mặt trời cao so với cả nước, (130 kcalo/cm2/năm) và phân bố khá điều trong năm, thuận lợi cho cây trồng phát triển quanh năm; lượng mưa tương đối cao (2.285 mm) và phân thành hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) và lượng mưa phân hoá theo mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp [10,tr.3]. Vị trí điạ lý: Phước Long nằm chính giữa tỉnh Bình Phước, phía Bắc và phía Tây nam giáp với huyện Bù Gia Mập, phía Nam giáp với huyện Phú Riềng, phía Đông giáp với huyện Bù Đăng. Thị xã Phước Long gồm có 05 phường và 02 xã: 51 - Các phường gồm: Long Phước, Phước Bình, Sơn Giang, Long Thuỷ, Thác Mơ - Các xã gồm: Phước Tín, Long Giang 2.1.2. Về điều kiện kinh tế- xã hội của thị xã Phước Long Giai đoạn 2010 – 2015, kinh tế phát tiếp tục tăng trưởng theo định hướng “Dịch vụ - Công nghiệp” và có bước phát triển một số ngành nghề dịch vụ và sản xuất theo hướng chất lượng, tạo ra các sản phẩm có giá trị tăng cao nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu thị trường. Công tác quản lý ngân sách đảm bảo cân đối thu – chi và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Thu ngân sách Nhà nước tăng năm sau cao hơn năm trước; chi ngân sách đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, nhất là nhu cầu chi thường xuyên, trong đó ưu tiên các hoạt động giáo dục – đào tạo, y tế, quốc phòng – an ninh va an sinh xã hội. Huy động có hiệu quả các nguồn lực xã hội kết hợp khai thác và sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung đầu tư cải thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, ưu tiên các dư án an sinh xã hội trên địa bàn thị xã; công tác quy hoạch, quản lý đô thị, tài nguyên môi trường có chuyển biến. Hiện nay, trên địa bàn thị xã Phước Long có 12 trường Mầm Non, 10 trường Tiểu học, 05 trường Trung học cơ sở, 02 trường Trung học phổ thông và 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên và 07 trung tâm giáo dục cộng đồng của các phường, xã. Đội ngũ cán bộ, giáo viên 100% có trình độ đạt chuẩn. trường học đều được xây dựng kiên cố và bán kiên cố. Sự quan tâm của thị xã đối với sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo là điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Phước Long. Đến nay, toàn thị xã có 01 Trung tâm Y tế, 07 Trạm y tế xã, phường với tổng số là 250 giường bệnh. Số cán bộ y tế 154 người; trong đó có 30 52 bác sỹ, 80 y sỹ, 25 dược sỹ, nữ hộ sinh 29; có 4/7 được công nhận đạt các tiêu chí quốc gia về y tế. Công tác chăm lo sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được đảm bảo. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai: phấn đấu đến năm 2020 thị xã Phước Long trở thành là đô thị du lịch của tỉnh Bình Phước; quảng bá, xúc tiến đầu tư khu du lịch sinh thái núi Bà Rá – Thác Mơ, xây dựng khu di tích lịch sử bà Nguyễn Thị Định. Hiệu lực quản lý điều hành của chính quyền các cấp được nâng lên, không có chính quyền yếu kém, dân chủ ở cơ sở được phát huy, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt, đó là những điều kiện thuận lợi để đội ngũ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã nói riêng và lãnh đạo cán bộ, công chức nói chung ở cấp cơ sở rèn luyện và trưởng thành. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển kinh tế và các lĩnh vực khác thì thị xã vẫn chưa có những khâu đột phá về mô hình kinh tế lớn, một số vấn đề văn hoá – xã hội – đô thị bức xúc mà nhân dân quan tâm chậm được giải quyết. Trách nhiệm của tập thể, cá nhân cán bộ, công chức chưa tích cực phát huy trong công việc. Những tồn tại trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở nói chung và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã nói riêng. Những hạn chế, do đó phải xây dựng được một đội ngũ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã là một nhân tố để hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. 2.1.3. Tình hình chung về đội ngũ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước 2.1.3.1. Về số lượng cơ cấu Thị xã Phước Long có 02 đơn vị hành chính là xã, trong đó Chủ tịch 53 Uỷ ban nhân dân xã có 02 người. - Cơ cấu giới tính: 02 nam (tỷ lệ chiếm 100%); 0 nữ (tỷ lệ chiếm 0%). Như vậy, tỷ lệ nam là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường là tuyệt đối. Bảng 2.1: Thống kê độ tuổi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã. Độ tuổi Năm Dưới 35 tuổi Từ 35 đến 45 tuổi Trên 45 tuổi Tỷ lệ Đảng viên Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Đảng viên Ngoài đảng 2012 2 100 2 0 2013 1 50 1 50 2 2014 1 50 1 50 2 2015 1 50 1 50 2 0 2016 1 50 1 50 2 0 Nguồn: Phòng Nội vụ thị xã Phước Long Như vậy, về độ tuổi ta thấy tỷ lệ độ tuổi chuyển dịch theo hướng trẻ hoá. Theo đó, sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng trở thành nguồn cung cấp cán bộ quan trọng cho cơ sở và là nguồn quy hoạch cán bộ lâu dài của địa phương. Thị xã Phước Long là thị xã dẫn đầu trong 11 huyện, thị xã của tỉnh Bình phước về sử dụng nguồn là sinh viên quy hoạch chức danh: Bí thư Đảng uỷ, Phó Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã. Sau một thời gian công tác nhiều người trong số cán bộ trẻ này đã trưởng thành, hiện giữ nhiều cương vị là Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong 2 xã thì có một xã có cán bộ trẻ xuất thân tư sinh viên về công tác. 2.1.3.2. Về nguồn hình thành Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước được hình thành từ nguồn nguồn: bộ đội chuyển ngành sau giải phóng, cán bộ Tư pháp phường, trí thức trẻ tình nguyện và tuyển dụng mới... Sau khi đất 54 nước thống nhất, qua thử thách và rèn luyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã của thị xã từng bước trưởng thành và phát triển cả về số lượng và chất lượng. Lớp cán bộ, công chức mới tuyển dụng sau ngày miền Nam giải phóng được đào tạo, bồi dưỡng cơ bản là nguồn lực phong phú bổ sung vào chức danh Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã. Lớp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã trưởng thành trong chiến tranh có lập trường chính trị vững vàng, giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng, trong đó có một phận không nhỏ có trình độ chuyên môn, trình độ quản lý, đã đóng góp tích cực cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của thị xã và mỗi đơn vị xã. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, thị xã Phước Long chịu sự tác động mạnh của việc thay đổi sắp xếp bộ máy, tổ chức.... nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy đáp ứng yêu câu của phát triển kinh tế thị trường và yêu cầu công việc trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã không ngừng được nâng lên. Điều đó, phản ảnh đúng xu hướng chung cán bộ công chức của thị xã không ngừng học tập để nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, năng lực của cán bộ, công chức chính quyền xã nói chung, của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã nói riêng còn một ít hạn chế, chưa đáp ứng trọn vẹn yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ sở; các quy định về quản lý, tiêu chuẩn, công tác đào tạo, bồi dưỡng, tiền lương, phụ cấp và các đãi ngộ khác đối với cán bộ, công chức chính quyền xã nói chung, với Chủ tịch Uỷ ban nhân xã nói riêng; nhiều vấn đề mới phát sinh trong quản lý Nhà nước của chính quyền xã chưa được giải quyết kịp thời...Những hạn chế đó, đã trở thành thách thức đối với sự phát triển của thị xã nếu không được quan tâm, có giải pháp khắc phục. 2.2. Phân tích thực trạng năng lực Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, 55 thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước 2.2.1. Năng lực Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã thông qua các yếu tố cấu thành năng lực 2.2.1.1. Về kiến thức - Về trình độ học vấn: 100% Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có trình độ học vấn tốt nghiệp Trung học phổ thông (2/2), không có ai có trình độ học vấn dưới Trung học phổ thông tại Bảng 2.3. - Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: 2/2 người có trình độ Đại học (chiếm tỷ lệ 50%); 1/2 người có trình độ Trung cấp (chiếm 50%) tại Bảng 2.3. Thực tiễn, những năm gần đây công tác đào tạo, bồi dưỡng, nhất là việc đào tạo chuyên môn trình độ đại học được đẩy mạnh đã giúp mặt bằng về trình độ chuyên môn của đội ngũ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã không có sự thay đổi đáng kể. So với năm 2015 đến nay có 1/2 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã đạt trình độ Đại học, 1/2 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có trình độ Trung cấp. Theo hệ thống tiêu chuẩn đối với cán bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ban hành kèm theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ Nội vụ thì đội ngũ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu trình độ chuyên môn; đồng thời với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của đất nước nói chung và của thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước nói riêng thì trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của đội ngũ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, thị xã Phước Long đảm bảo so với yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. - Về trình độ lý luận chính trị: Có 100% Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, thị xã Phước Long có trình độ từ Trung cấp đến Cao cấp lý luận chính trị tại Bảng 2.3. Trong những năm gần đây, phần lớn đội ngũ cán bộ chủ chốt xã trên địa bàn thị xã Phước Long được sự quan tâm, tạo điều kiện của Thị uỷ, Uỷ ban nhân dân thị xã đã cử đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận 56 chính trị tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khu vực II. Thông qua đó, mà nâng cao khả năng tiếp nhận tri thức ngày càng nhiều, càng sâu sắc để củng cố và phát triển thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho hoạt động thực tiễn cũng như những kiến thức cần thiết cho hoạt động lãnh đạo, quản lý của mình. Vì vậy, việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã nói chung và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình quản lý và điều hành ở địa phương, là một trong những tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức. 2.2.1.2. Về kỹ năng Trong hoạt động quản lý Nhà nước yêu cầu rất nhiều kỹ năng như: kỹ năng thu nhập và xử lý thông tin, phân tích, tổng hợp, hệ thông hoạch định, ra quyết định, tổ chức; kiểm tra, đánh giá, kỹ năng trình bày trước công chúng, kỹ năng tuyên truyền vận động quần chúng, kỹ năng sử dụng thuần thục các thiết bị văn phòng, trong đó có thiết bị máy tính, kỹ năng sử dụng các thiết bị nghiệp vụ, kỹ năng tác nghiệp và kỹ năng giao tiếp – lễ tân. Mỗi nhiệm vụ, mỗi chức trách đòi hỏi có những kỹ năng phù hợp khác nhau, cán bộ, công chức càng nhiều kỹ năng càng tư tin trong công việc. Kỹ năng được hình thành từ trình độ, kiến thức và kinh nghiệm qua thâm niên công tác. Trong thực tế, kỹ năng lãnh đạo điều hành không đồng nhất với trình độ, bằng cấp và thâm niên công tác. Có những người có rất nhiều bằng cấp hoặc hiểu rất nhiều về lý thuyết nhưng khi bắt tay vào điều hành một công việc nào đó thì lại rất lúng túng. Biểu đồ 2.1: Khảo sát kỹ năng của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã 57 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100 1 Kỹ năng tư duy Kỹ năng giao tiếp Kỹ năng lập kế hoạch Kỹ năng tham mưu đề xuất Kỹ năng soạn thảo văn bản Kỹ năng thúc đẩy và tạo động lực thực hiện nhiệm vụ Kỹ năng xử lý và giải quyết tình huống Nguồn: khảo sát kỹ năng của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Qua khảo sát 02/2 xã trên địa bàn thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước thì có 2/2 Chủ tịch (chiếm 100%) kỹ năng thúc đẩy

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_nang_luc_cua_chu_tich_uy_ban_nhan_dan_xa_thi_xa_phu.pdf
Tài liệu liên quan