Luận văn Nghệ thuật tự sự trong truyện thiếu nhi về loài vật của Tô Hoài

ỤC LỤ

MỞ ĐẦU.4

1. Lý do chọn đề tài.4

2. Lịch sử vấn đề .5

3. Mục đích nghiên cứu.9

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.9

5. Phương pháp nghiên cứu.10

6. Cấu trúc của luận văn.10

NỘI DUNG .10

Chương 1. KHÁI LƯỢC VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG

TÁC CỦA TÔ HOÀI.10

1.1 Khái quát về tự sự học .10

1.1.1 Khái niệm .10

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của tự sự học.12

1.1.3 Những đóng góp của tự sự học trong nghiên cứu văn học .14

1.2 Khái quát về truyện thiếu nhi về loài vật của Tô Hoài .15

1.2.1 Khái niệm truyện thiếu nhi và truyện thiếu nhi về loài vật.15

1.2.2 Truyện thiếu nhi về loài vật của Tô Hoài .21

Chương 2. NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN VÀ XÂY DỰNG NHÂN

VẬT.27

2.1 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện .27

2.1.1 Khái niệm cốt truyện .27

2.1.2 Các loại hình cốt truyện trong truyện thiếu nhi về loài vật của Tô Hoài.30

2.1.3 Nghệ thuật tổ chức diễn biến cốt truyện .

2.2.1 Khái niệm nhân vật văn học.

2.2.2 Các loại hình nhân vật trong truyện thiếu nhi về loài vật của Tô Hoài.

2.2.3 Các biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật.

Chương 3. NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT.

pdf35 trang | Chia sẻ: anan10 | Lượt xem: 823 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Nghệ thuật tự sự trong truyện thiếu nhi về loài vật của Tô Hoài, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hư vậy, ít nhất, đã bao hàm vấn đề người kể chuyện (điểm nhìn, giọng điệu), người tiếp nhận” [40, tr. 170]. Với Trần Đình Sử- một trong những nhà nghiên cứu rất tâm huyết với tự sự học thì “tự sự học Việt Nam còn rất non trẻ” [42, tr.11].Theo ông “Tự sự học bao gồm cả hệ thống sự kiện, cách tổ chức 12 các sự kiện đó, các mô típ truyện, sự phân loại chúng, lịch sử vận động của tự sự” [40, tr. 8] và “đối tượng của tự sự học ngày nay không còn chỉ là ngữ pháp tự sự nói chung mà còn là thi pháp tự sự, phong cách học tự sự của các tác phẩm cụ thể, ngôn ngữ tự sự của các thể loại tự sự, các loại hình tự sự, mô hình tự sự của các giai đoạn phát triển văn học, sự tiếp nhận tự sự và cách tác động đến người đọc của tự sự” [42, tr. 13]. Như vậy, qua các khái niệm trên, có thể khái quát nghệ thuật tự sự là cách thức cấu trúc, tổ chức và triển khai văn bản tự sự. Nói đến nghiên cứu nghệ thuật tự sự của một tác phẩm, một hiện tượng văn học là nói đến việc tìm hiểu văn bản tự sự đó trên nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau, trong đó chủ yếu là nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề khác có liên quan đến văn bản đó. Hiện nay, khi nghiên cứu nghệ thuật tự sự, các nhà nghiên cứu sẽ tập trung vào việc nghiên cứu những khía cạnh nổi bật như: Tổ chức cốt truyện, nhân vật, người kể chuyện và ngôn ngữ trần thuật. 1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của tự sự học Tự sự học đã có từ thời kỳ xa xưa. Roland Barthes có nói đại ý tự sự xuất hiện cùng bản thân lịch sử loài người. Nói theo một cách khác, khi lịch sử được ý thức thì ta đã có tự sự. Từ thời Platon, Aristote, tự sự học đã được chia ra thành tự sự lịch sử và tự sự nghệ thuật. Đến thế kỷ V, tự sự học tiếp tục được phân biệt rõ ràng thành 3 loại tự sự: tự sự mô phỏng (không có sự can thiệp của người kể, như kịch), tự sự giải thích (có kèm phân tích, bình luận) và tự sự hỗn hợp (như sử thi). Như vậy, ở giai đoạn sơ khai này, phạm vi quan tâm của tự sự học không vượt ra ngoài giới hạn tu từ học. Tự sự học thực sự trở thành một ngành khoa học nghiên cứu có tính độc lập với cột mốc lịch sử năm 1969, nhưng trước đó nó đã được manh nha hình thành từ sớm hơn rất nhiều. Trải qua một quá trình ra đời và đạt được những thành công, sự 13 phát triển của tự sự học có thể chia thành 3 thời kỳ: tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa và tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa: Tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc: Từ những năm 20 của thế kỷ trước, Bakhtin là một trong những người mở đường cho tự sự học hiện đại với giai đoạn đầu tiên chính là giai đoạn tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc. Thời kỳ này, tự sự học đi vào nghiên cứu các thành phần, chức năng của tự sự với nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Năm 1925, B.Tomasepxki nghiên cứu các yếu tố và đơn vị của tự sự; Năm 1928, V. Propp nghiên cứu cấu trúc và chức năng tự sự trong truyện cổ tích, Percy Lubbock (1921) và K.Friedemann lại đặc biệt quan tâm tới các vấn đề điểm nhìn, dòng ý thức. Về sau, các vấn đề này tiếp tục được nhiều nhà nghiên cứu tự sự học phát triển lên như J.Pouillon, A.Tate, Cl. Brook, T.Todorov Tự sự học cấu trúc chủ nghĩa: Đặc điểm của lý thuyết tự sự chủ nghĩa cấu trúc là lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là sự mở rộng của ẩn dụ. Công trình mở đầu thời kỳ này là tác phẩm Dẫn luận phân tích tác phẩm tự sự của R.Barthes năm 1968, sau đó là các tác phẩm Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày” của Todorov, Hình thái học truyện cổ tích của Propp, nghiên cứu cấu trúc thần thoại của Claude Levi Strauss và mô hình hành vi ngôn ngữ của Roman Jakobson và nhiều công trình khác của A.J.Greimas, G.Genete, R.Barthes Các nhà nghiên cứu tự sự học giai đoạn này đã có công góp phần làm sáng tỏ bản chất biểu đạt và giao tiếp của tự sự song việc lạm dụng mô hình ngôn ngữ học đã làm cho tự sự học gặp khó khăn. Tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa: Đây là giai đoạn việc nghiên cứu tự sự học gắn liền với ký hiệu học. Đặc điểm của lý thuyết tự sự theo hướng này, tuy cũng coi trọng phân tích hình thức nhưng không tán thành việc sao phỏng đơn giản các mô hình ngôn ngữ học mà đi theo ký hiệu học và siêu ký hiệu học. Tư tưởng này gắn với việc phân tích ý thúc hệ của Bakhtin. Các tác giả như Iu. Lotman, 14 B.Uspenski cũng đi theo hướng này. Ngoài ra, cũng cần kể đến một số tên tuổi tiêu biểu cho tự sự học thời kỳ này như Pierre Macherey với quan điểm “bất kỳ sự đồng nhất nào giữa nhà phê bình văn học với ngôn ngữ học đều sẽ thất bại, bởi nó bỏ qua vai trò tác động của hình thái ý thức” hay Iu. Lotman cho rằng “thông tin ngôn ngữ là thông tin phi văn bản, mà điểm xuất phát của văn bản lại chính là chỗ bất cập của ngôn ngữ khiến nó trở thành văn bản” [40, tr.15]. Như vậy, nếu văn bản trở về với ý nghĩa của ngôn ngữ học thì có nghĩa là sự sụp đổ của văn hóa, vì thế lý thuyết sự sự phải gắn với chức năng nhận thức và giao tiếp. 1.1.3 Những đóng góp của tự sự học trong nghiên cứu văn học Là “một lĩnh vực tri thức rộng lớn, có lịch sử lâu đời” [42, tr. 3], tự sự học có thể coi như “bộ công cụ cơ bản nhất giúp cho người ta có thể đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứ điện ảnh, giao tiếp, phương tiện truyền thông, nghiên cứu văn hóa” [40, tr.11]. Tự sự học là ngành khoa học có vai trò rất quan trọng đối với các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là đối với lĩnh vực nghiên cứu văn học, bởi đối tượng trực tiếp và đầu tiên mà tự sự học nghiên cứu hướng đến chính là các tác giả, tác phẩm, các hiện tượng văn học. Trong bài viết “Tự sự học – một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng”, Trần Đình Sử đã chỉ ra những đóng góp to lớn của tự sự học hỗ trợ cho công cuộc nghiên cứu văn học, giúp các nhà nghiên cứu quan sát cụ thể cơ chế nghệ thuật của tự sự. Nghiên cứu tự sự học có một ý nghĩa văn hóa rất rộng lớn. Xét trong góc độ vai trò với văn học, “nghiên cứu tự sự học mở ra khả năng nghiên cứu truyền thống tự sự trong mỗi nền văn học” [40, tr. 19], qua việc cung cấp những khái niệm về cấu trúc văn bản tự sự giúp ta nhận ra và tìm hiểu các đặc điểm của văn bản một cách khoa học. Nhưng hiện nay việc nghiên cứu vẫn nặng về các miêu tả dữ kiện bề ngoài như tác giả, niên đại, bối cảnh xã hội, nội dung phản ánhmà còn thiếu đi sự phân tích các cấu trúc tự sự bên trong. Việc áp dụng những kết quả từ nghiên cứu tự sự học vào nghiên cứu văn học Việt Nam là một trong những con 15 đường giúp người đọc “hiểu lịch sử văn học với tư cách là lịch sử nghệ thuật ngôn từ và lịch sử văn hóa, văn học của chính dân tộc ta” [40, tr.21]. Sự phát triển nhanh chóng, thu hút nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự, tự sự học trong thời gian vừa qua đã cho thấy vai trò, ý nghĩa lớn lao của tự sự học trong nghiên cứu văn học nói riêng, trong nhiều lĩnh vực của đời sống nói chung. 1.2 Khái quát về truyện thiếu nhi về loài vật của Tô Hoài 1.2.1 Khái niệm truyện thiếu nhi và truyện thiếu nhi về loài vật 1.2.1.1 Khái niệm Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, văn học thiếu nhi theo nghĩa hẹp gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi. Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của thiếu nhi Bách khoa thư Văn học thiếu nhi Việt Nam quan niệm về văn học thiếu nhi tường tận hơn, chi tiết hơn. Khái niệm văn học thiếu nhi được nhận diện ở nhiều góc độ: chủ thể sáng tác, nhân vật trung tâm, mục đích sáng tác, đối tượng tiếp nhận Cụ thể: Mọi tác phẩm được mọi nhà sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi, và đôi khi cũng là người lớn, hoặc là một cơn gió, một loài vật, một đồ vật, một cái cây Tác giả của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các em mà cũng là các nhà văn thuộc mọi lứa tuổi. Những tác phẩm mà thiếu nhi thích thú tìm đọc. Bởi vì các em đã tìm thấy trong đó cách nghĩ, cách cảm cùng những hành động gần gũi với các em, hơn thế, các em còn tìm được ở trong đó một lời nhắc nhở, một sự răn dạy, với những nguồn động viên khích lệ, những sự dẫn dắt ý nhị, bổ ích trong quá trình hoàn thiện tính cách của mình [52, tr.23]. 16 Như vậy, văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm hoặc là thiếu nhi, hoặc là người lớn, hoặc là con người, hoặc là thế giới tự nhiên nhưng được nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ, có nội dung gần gũi, quen thuộc với vốn trải nghiệm của trẻ, được các em thích thú, say mê và có tác dụng hoàn thiện đạo đức, tâm hồn cho trẻ. 1.2.1.2 Truyện thiếu nhi trong văn học Văn học nghệ thuật đã ra đời từ rất sớm, nhưng văn học dành cho thiếu nhi thì mới trở thành một thuật ngữ, một hiện tượng trong vài thế kỷ trở lại đây. Một bộ phận các câu chuyện thần thoại, cổ tích, truyền thuyết trong văn học dân gian được xếp vào các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi, vì đó là những câu truyện có cốt truyện ly kỳ, hoang đường, có nội dung phù hợp với tâm lý ngây thơ và tò mò muốn khám phá thế giới của các em, cũng như dễ dàng đưa vào các bài học giáo huấn nhẹ nhàng để các em tiếp thu một cách hiệu quả và thấm thía nhất. Vậy khi nào văn học thiếu nhi thực sự trở thành một bộ phận của văn học nói chung, với những sáng tác dành riêng cho lứa tuổi thiếu nhi của các tác giả là những cá nhân độc lập? Có thể nói, nền móng đầu tiên của văn học thiếu nhi là cuốn sách giáo khoa viết cho trẻ em của Aldhelm- một nhà tôn giáo (còn được gọi là cha của dòng thơ ca Anglo- Latinh) vào khoảng thế kỷ thứ VIII. Nhưng phải đến khoảng cuối thế kỉ XV, những tác phẩm viết cho thiếu nhi đầu tiên mới thực sự xuất hiện, đó là những tác phẩm của William Caxton- một nhà đánh chữ đầu tiên của nước Anh như “Con cáo Reynard” (1481), “Chuyện ngụ ngôn về Aesop” (1484), và “LeMorte D’Arthur” của Thomas Malory (1484). Đây là những tác phẩm mà đến ngày nay vẫn được trẻ em trên thế giới yêuthích. Sang thế kỉ XVII- XVIII, cuốn sách viết cho thiếu nhi đầu tiên phát hành ở Mỹ có tên gọi là “Nguồn sữa tinh thần của những em bé Boston ở Anh” (Spiritual Milk for Boston Babes in Either England) của tác giả John Cotton nhằm giáo dục, hướng dẫn dạy dỗ các em cách cư xử. Sau đó, khoảng năm 1744 tại nước Anh, John Newbery là người lập ra 17 nhà xuất bản và tiệm sách đầu tiên dành cho thiếu nhi. Ông đã kí hợp đồng với các tác giả nổi tiếng để họ viết những cuốn truyện dành riêng cho độc giả nhỏ tuổi. Những cuốn sách này sau đó đã được các em đón nhận nồng nhiệt, và nhiều nhà nghiên cứu cũng coi đây là sự bắt đầu rõ ràng của nền văn học viết dành cho thiếu nhi. Từ đó, văn học thiếu nhi đã nở rộ với rất nhiều tên tuổi thành công lớn, được đông đảo các em yêu thích. Nổi bật hàng đầu phải kể đến nhà văn Hans Chiristian Anđecxen với bộ sưu tập những câu chuyện cổ tích kì thú như: “Nàng tiên cá”, “Bộ quần áo mới của hoàng đế”, “Con vịt xấu xí”, “Bà chúa tuyết, “Chú lính chì dũng cảm”, “Cô bé bán diêm” Ngoài ra còn rất nhiều tên tuổi lớn khác như Elsa Beskow, Anna Maria Ross và Anna Wahlenberg, Maria Gripe, Gunnel Linde, Ingeoch Lasse Sandberg, Sven Nordqvist với nhiều tác phẩm dành cho thiếu nhi xuất sắc như Pipi tất dài của Astrid Lindren, Mio, Mio của tôi, Ronja Rovardotter, Túp lều bác Tôm Thời gian gần đây, văn học thế giới xuất hiện nhiều nhà văn viết cho thiếu nhi và đã gặt hái được những thành công lớn, tiêu biểu có thể kể đến Nancy Farmer của Mỹ, một tác giả xuất sắc ba lần đoạt giải thưởng Newbery - giải thưởng sách dành cho trẻ em trên toàn nước Mỹ, với những tác phẩm nổi tiếng như “Tai, mắt và cánh tay”, “Cô gái có tên tai họa”, “Ngôi nhà Bọ cạp”, “Quỷ biển” hay nhà văn Canada Pamela Porter với tác phẩm “The Crazy Man”, nhà văn Anh J.K.Rowling với tác phẩm Harry Porter Nhìn chung những tác phẩm viết cho thiếu nhi thành công qua các thời đại đều mang một số đặc điểm phù hợp với khả năng tiếp nhận và sở thích của các em như: cốt truyện đơn giản với nhiều chi tiết kỳ lạ mà gần gũi, cách viết hóm hỉnh, giọng văn trìu mến, nhiều yếu tố ly kỳ, kết thúc có hậu Sự thành công của nhiều cây bút thiếu nhi ở nhiều thời kỳ cho thấy văn học thiếu nhi luôn là một nhu cầu rất lớn của xã hội. Thiếu nhi ở bất kỳ lứa tuổi nào, ở bất kỳ đất nước nào đều luôn yêu thích say mê các tác phẩm văn học dành cho lứa tuổi của 18 mình. Nhưng các tên tuổi viết cho thiếu nhi còn quá ít ỏi cho thấy sự thách thức trong lĩnh vực này, cũng như sự quan tâm của các cây bút dành cho các em vẫn còn chưa tương xứng với vai trò của nó. Ở Việt Nam, “trước cách mạng tháng Tám, chúng ta đã có sách viết cho các em, nhưng hiện tượng đó chưa đủ để khẳng định là một nền văn học cho thiếu nhi đã hình thành” [49, tr. 38]. Cũng giống như sự phát triển của văn học thiếu nhi thế giới, văn học thiếu nhi Việt Nam đã có những mầm mống đầu tiên từ các câu truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn trong văn học dân gian, nhưng văn học hiện đại viết cho thiếu nhi thì phải đến những năm 20 của thế kỷ XX mới thực sự được manh nha, và bắt đầu phát triển trở thành một bộ phận của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tiến trình văn học thiếu nhi Việt Nam hiện đại có thể phân chia thành các giai đoạn chính sau đây: Trong những ngày đầu Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, lực lượng viết cho các em mới chỉ có một số nhà văn chuyên nghiệp thỉnh thoảng có sách cho thiếu nhi như nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Xuân Sanh, Huyền Kiêu,... Nhìn chung, giai đoạn này mới chỉ xuất hiện những tác phẩm viết cho thiếu nhi một cách lẻ tẻ chứ chưa thực sự có phong trào sáng tác cho các em. Đó cũng chính là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng để xây dựng nên nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Tuy nhiên, một số sáng tác trong giai đoạn này lại được đánh giá là những thành công rực rỡ vào bậc nhất của văn học thiếu nhi Việt Nam, đặc biệt là Dế Mèn phiêu lưu kí củaTô Hoài. Từ sau năm 1954, trên miền Bắc, đội ngũ viết cho thiếu nhi ngày càng phát triển nhanh, với nhiều tên tuổi xuất sắc như: Võ Quảng, Phạm Hổ, Đoàn Giỏi, Nguyễn Kiên, Hoàng Anh Đường, Vũ Ngọc Bình, Vũ Tú Nam, Đào Vũ, Lê Minh, Văn Linh, Viết Linh, Bắc Thôn, Hà Ân, Hải Hồ, Xuân Sách ... Đây là chặng đường 19 mở đầu cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng tất cả những thành tựu mà giai đoạn này mang lại đã ghi nhận cố gắng của chúng ta trong việc tạo dựng một nền văn học viết cho trẻ em và thực sự vì trẻ em. Trong những năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt, đội ngũ viết cho thiếu nhi càng phát triển nhanh với những cây bút mới: Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Văn Hồng, Định Hải, Phong Thu, Hoàng Bình Trọng, Nguyễn ThịVân Anh, Văn Biển... và cây bút thiếu nhi xuất sắc Trần Đăng Khoa. Nhiều tác phẩm văn học thiếu nhi xuất sắc như Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Đội thiếu niên du kích Đình Bảng (Xuân Sách), Quê nội, Tảng sáng (Võ Quảng) Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), thơ Võ Quảng, Trần Đăng Khoa, Định Hải đều thuộc về giai đoạn này. Cuối những năm 80, đội ngũ viết cho các em dần dần khởi sắc với sự xuất hiện những cây bút mới và trẻ như Nguyễn Hoàng Sơn, Dương Thuấn, Mai Văn Hai, Phùng Ngọc Hùng, Nguyễn Nhật Ánh, Trần Thiên Hương, Nguyễn Ngọc Ký, Lê Hồng Thiện, Quách Liêu, Hà Lâm Kỳ, Đặng Hấn, Lý Lan... Một số nhà văn có tên tuổi và giàu kinh nghiệm như Vũ Ngọc Bình, Hoàng Anh Đường, Văn Hồng cũng rất tích cực đóng góp về mặt phê bình và dịch thuật sách thiếu nhi. Tiếp sau các nhà văn này đã xuất hiện một số cây bút trẻ tuổi bước đầu đi vào con đường nghiên cứu phê bình văn học cho thiếu nhi. Trong giai đoạn này, nhiều tác giả thể hiện sức sáng tạo dồi dào với rất nhiều tác phẩm thành công, nổi bật nhất phải kể đến Nguyễn Nhật Ánh với Kính vạn hoa, Chuyện xứ Lang Biang, Tôi là Bê Tô, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Đảo mộng mơ, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh hay Nguyễn Ngọc Thuần với Một thiên nằm mộng, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ 1.2.1.3 Truyện thiếu nhi về loài vật trong văn học Trong số các chủ đề được lựa chọn khi sáng tạo các tác phẩm văn học cho thiếu nhi, chủ đề loài vật là một trong những chủ đề hấp dẫn với các nhà văn. Truyện thiếu nhi về loài vật có nguồn gốc từ các câu truyện cổ tích, truyện ngụ 20 ngôn cho các em. Ở hầu hết các quốc gia, các dân tộc, kho tàng văn học dân gian bao giờ cũng có nhiều câu truyện kể về loài vật, những câu truyện “lấy các loài vật (phần lớn là động vật) làm đối tượng phản ánh, tường thuật và lí giải chủ yếu. Loại chuyện này ở thời kì cổ xưa hầu hết các dân tộc đều có. Ở đây, các loài vật được nhân cách hóa một cách hồn nhiên trong trí tưởng tượng của nhân dân thời cổ” [15, tr.312]. Như vậy, xét về nguồn gốc, truyện về đề tài loài vật đã hình thành từ rất sớm cùng với sự ra đời của văn học dân gian. Trong thời kỳ này, con người sống gần gũi với thiên nhiên, với các loài vật. Trong quan niệm còn mang tính sơ khai, con người đã quan sát các loài vật, coi chúng như những cá thể có suy nghĩ, với những tính cách giống với con người. Trên cơ sở đó, họ đã sáng tác những câu truyện truyền miệng vừa để giải trí vừa khéo léo gửi gắm các bài học về thái độ sống, mà trong đó các loài vật là những nhân vật chính.Lúc đầu, các tác phẩm này dành chung cho mọi đối tượng. Tuy nhiên càng về sau, con người trưởng thành hơn, hiểu biết về cuộc sống được nâng cao thì tư duy và cách nhìn nhận về thế giới loài vật cũng thay đổi theo hướng thực tế và khoa học hơn.Truyện viết về loài vật không còn phù hợp với trình độ tiếp nhận của họ nữa. Vì thế, truyện về loài vật thích hợp nhất là với đối tượng thiếu nhi, có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống tinh thần của lứa tuổi này. Khi sáng tác các câu chuyện về loài vật, một cách mặc nhiên các tác giả sẽ hướng đến cách xây dựng cốt truyện, nội dung và nghệ thuật biểu hiện để phục vụ cho đối tượng tiếp nhận là các em thiếu nhi. Cùng với sự phát triển chung của văn học thiếu nhi, truyện viết về loài vật cũng không ngừng phát triển, đạt được nhiều thành tựu. Những tác phẩm văn học thiếu nhi viết về loài vật với cách viết dung dị, mộc mạc, cốt truyện đơn giản nhưng vẫn thấm đẫm tính nhân văn, giọng văn trong sáng tràn đầy sự trìu mến yêu thương. Đặc biệt việc miêu tả thế giới loài vật sinh động tạo nên tính hấp dẫn, kích thích trí tưởng tượng, mở ra trước mắt các em một thế giới mới mẻ và thú vị. Đồng 21 thời đây cũng là nơi gửi gắm những bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc, là một phương tiện giáo dục sinh động, đi vào suy nghĩ non nớt ngây thơ của các em nhanh chóng và dễ dàng. Như vậy lịch sử truyện thiếu nhi về loài vật cũng có độ dài tương ứng với lịch sử truyện thiếu nhi nói chung. Truyện thiếu nhi về loài vật tuy ra đời muộn nhưng cũng đã đạt được những thành công nhất định, có những bước phát triển tương ứng với sự phát triển của văn học thiếu nhi nói chung. Dưới những tác động của hoàn cảnh lịch sử và xã hội, các tác phẩm truyện thiếu nhi về loài vật ngày càng nhiều hơn, nội dung phong phú với đội ngũ nhà văn sáng tác chuyên nghiệp hơn. 1.2.2 Truyện thiếu nhi về loài vật của Tô Hoài Nếu tính từ tác phẩm đầu tiên làm rạng danh cho văn học thiếu nhi nói chung và truyện thiếu nhi về loài vật nói riêng - Dế mèn phiêu lưu ký - đến nay, truyện thiếu nhi viết cho loài vật đã trải qua quãng đường phát triển gần tám thập kỷ. Dù còn rất non trẻ, mảng truyện thiếu nhi về loài vật đã thu hút được nhiều nhà văn sáng tác. Nhiều tác giả đã có những tác phẩm thành công, ghi dấu ấn của mình trong lòng các bạn độc giả nhỏ tuổi. Trong số các nhà văn viết truyện loài vật cho thiếu nhi, cho đến nay Tô Hoài vẫn là cái tên nổi bật bậc nhất, xét cả về số lượng và chất lượng. 1.2.2.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Tô Hoài Nhà văn Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, ông sinh ngày 27 – 9 – 1920 tại quê nội ở thôn Cát Động, Thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ. Tuy nhiên, ông lớn lên ở quê ngoại là làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức quê hương ông. Ngoài ra, Tô Hoài còn có nhiều bút danh khác ít người biết đến hơn như Mắt Biển, Mai Trang, Hồng Hoa, Duy Phương. 22 Sự nghiệp văn học của Tô Hoài bắt đầu từ rất sớm với những sáng tác đầu tiên đăng trên Hà Nội tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy vào cuối những năm 30. Ngoài viết văn, Tô Hoài còn hăng hái tham gia cách mạng. Năm 1938, ông tham gia phong trào ái hữu thợ dệt, làm thư ký ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông. Sau đó, ông tham gia phong trào Thanh niên phản đế. Năm 1943, ông gia nhập tổ văn hóa cứu quốc đầu tiên ở Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài tham gia Nam tiến rồi ông lên Việt Bắc làm báo, sau đó làm chủ nhiệm Tạp chí Cứu quốc Việt Bắc. Tiếp đó ông làm chủ bút Tạp chí Cứu quốc. Từ năm 1954, ông về công tác tại Hội nhà văn Việt Nam và được bầu làm Tổng thư ký của Hội vào năm 1957. Từ năm 1958 cho đến năm 1980, ông tiếp tục tham gia Ban chấp hành, rồi Phó tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam. Đồng thời từ năm 1966 đến 1996, ông làm chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội. Ngoài ra, ông còn tham gia tích cực nhiều hoạt động xã hội khác và đảm đương nhiều trọng trách như: đại biểu Quốc hội khóa VII, phó chủ tịch Ủy ban đoàn kết Á – Phi, phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Ấn, Ủy viên Ban chấp hành Hội Hữu nghị Việt – Xô. Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 2014 tại Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi. Tô Hoài chuyên viết văn xuôi. Ông bắt đầu đến với con đường nghệ thuật từ cuối những năm 30 và chính thức xuất hiện trên văn đàn với truyện ngắn Nước lên (1940). Ngay sau đó, năm 1941,Dế Mèn phiêu lưu ký của ông đã gây một tiếng vang lớn trên văn đàn. Từ năm 1941 cho đến trước Cách mạng tháng Tám ông “viết như chạy thi” và đã có một số lượng tác phẩm tương đối lớn chỉ sau vài năm sáng tác. Mới ngoài 20 tuổi, Tô Hoài đã sớm khẳng định được vị trí của mình trong đội ngũ nhà văn thời kì này bằng một loạt tác phẩm độc đáo, đặc sắc, trong đó có Dế mèn phiêu lưu kí (1941, O chuột (1942)là những truyện về loài vật.Trải qua quá trình lao động nghệ thuật “cần mẫn và sáng tạo”( Hà Minh Đức - Lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài) không ngừng nghỉ suốt hơn 60 năm, Tô Hoài đã sáng tác được một số lượng tác phẩm đồ sộ (hơn một trăm sáu mươi đầu sách) ở nhiều thể loại 23 khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác. Ông đã có một đời văn vừa dài vừa đầy thành công và ý nghĩa “vừa vào ngề sớm lại vừa kéo dài tuổi nghề - một sự kéo dài đàng hoàng chứ không phải lê lết trong sự tẻ nhạt” và “đời văn Tô Hoài gợi ra hình ảnh một dòng sông miên man chảy và mang trong mình cả cuộc sống bất tận” (Vương Trí Nhàn - Cuộc phiêu lưu giữa trần ai cát bụi). Với ý thức cố gắng tìm tòi, khám phá trong sáng tạo nghệ thuật không ngừng, ở thể loại nào ông cũng đạt được những thành công đặc sắc, với nhiều tác phẩm hấp dẫn, có sức sống và ý nghĩa lâu bền, được nhiều thế hệ bạn đọc yêu thích. Năm 1996 ông đã được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. 1.2.2.2 Truyện thiếu nhi về loài vật trong sự nghiệp của Tô Hoài Tô Hoài viết nhiều thể loại, đề tài và ở thể tài nào cũng đạt được những thành tựu đặc sắc. Đặc biệt, ở mảng truyện loài vật, Tô Hoài đã tạo được ấn tượng sâu sắc ở mọi đối tượng độc giả cả trong và ngoài nước với số lượng tác phẩm lớn và chất lượng cao. Hà Minh Đức đã nhận xét: “Tô Hoài là nhà văn viết thành công nhất, hấp dẫn nhất về các loài vật”[29, tr.465]. Sở trường này đã được thể hiện ngay từ những ngày đầu Tô Hoài sáng tác văn chương với Dế Mèn phiêu lưu ký và sau đó là tập truyện ngắn O chuột. Tô Hoài sáng tác Dế Mèn phiêu lưu ký năm mới 17 tuổi. Tác phẩm ngay sau khi được đăng lần đầu tiên trên tờ Truyền bá dành riêng cho thiếu nhi đã gây một ấn tượng mạnh đối với các nhà văn và độc giả bấy giờ, và được đánh giá là tác phẩm tiên phong cho phong trào sáng tác về đề tài loài vật. Đến nay, tác phẩm này đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng và được tái bản nhiều lần. Tô Hoài viết nhiều, với nhiều đề tài và thể loại, từ đề tài miền ngược đến đề tài miền xuôi; từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, truyện đồng thoại đến kịch bản phim Ở đề tài và thể loại nào, Tô Hoài cũng viết hay và đạt được nhiều thành công. Nhưng người ta vẫn nhớ đến Tô Hoài trước hết là nhà văn cho thiếu nhi với sự thành công xuất sắc ở mảng truyện thiếu nhi về loài vật. Có được thành công đó 24 là nhờ tài năng, sự quan sát và khiếu miêu tả của ông, nhưng trên hết là nhờ tâm huyết của nhà văn cho các tác phẩm của mình. Sau Dế Mèn phiêu lưu kí, Tô Hoài vẫn tiếp tục hành trình miêu tả thế giới loài vật, mở đầu là tập truyện ngắn O chuột với 8 truyện ngắn và sau đó là rất nhiều truyện ngắn khác. Viết về Tô Hoài

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf02050004662_1_9919_2003217.pdf
Tài liệu liên quan