Luận văn Quản lí hoạt động học tập của học sinh bán trú ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang

MỤC LỤC

Lời cảm ơn . i

Những chữ viết tắt trong luận văn.ii

Danh mục các bảng .vii

Danh mục các biểu đồ .viii

MỞ ĐẦU . 1

CHưƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP

CỦA HỌC SINH BÁN TRÚ Ở TRưỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. 9

1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề. 9

1.1.1. Trên thế giới. 9

1.1.2. Ở Việt Nam. 11

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài . 14

1.2.1. Quản lý. 14

1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường . 16

1.2.3. Hoạt động học tập của học sinh THPT. 19

1.2.4. Học sinh bán trú trường THPT. 20

1.2.5. Quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú ở trường THPT. 21

1.3. Hoạt động học tập của học sinh bán trú ở trường THPT. 22

1.3.1. Mục tiêu học tập. 22

1.3.2. Kế hoạch học tập. 22

1.3.3 Phương pháp, phương tiện và hình thức học tập . 23

1.3.4. Kiểm tra đánh giá . 24

1.3.5. Đặc điểm của các trường THPT có học sinh bán trú. 24

1.3.6. Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của học sinh THPT bán trú . 26

1.4. Quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú . 27

1.4.1. Kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú . 27

1.4.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động học tập của

học sinh bán trú. 28

1.4.3. Lãnh đạo,chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động học

tập của học sinh bán trú. 30

1.4.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học sinh bán trú . 31iv

1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động học tập của

học sinh bán trú ở trường THPT. 33

1.5.1. Các yếu tố về phía môi trường, điều kiện giảng dạy và học tập. 33

1.5.2. Các yếu tố về phía học sinh . 34

1.5.3. Các yếu tố về phía nhà quản lý, giáo viên . 35

1.5.4. Các yếu tố về phía phụ huynh học sinh và chính quyền địa phương. 37

Kết luận chương 1 . 39

CHưƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA

HỌC SINH BÁN TRÚ Ở CÁC TRưỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TRÊN ĐỊA BÀNHUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG. 40

2.1. Khái quát về giáo dục của huyện Chiêm Hóa và các trường THPT

có học sinh bán trú trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang . 40

2.1.1. Sơ lược về đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Chiêm Hóa,

tỉnh Tuyên Quang. 40

2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. 41

2.1.3. Đặc điểm của các trường THPT có học sinh bán trú trên địa

bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. 41

2.2. Thực trạng hoạt động học tập của học sinh bán trú ở các

trường THPT thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. 46

2.2.1. Nhận thức. 46

2.2.2. Thái độ học tập . 47

2.2.3. Kế hoạch học tập. 48

2.2.4. Phương pháp, phương tiện và hình thức học tập . 49

2.2.5. Chất lượng giáo dục. 50

2.3. Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú ở các

trường THPT trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang . 51

2.3.1. Thực trạng lập kế hoạch quản lý hoạt động học tập của học

sinh bán trú . 51

2.3.2. Thực trạng tổ chức hoạt động học tập của học sinh bán trú. 53

2.3.3. Thực trạng lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động học tập của học

sinh bán trú . 54v

2.3.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học

sinh bán trú . 56

2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động học tập của

học sinh bán trú. 57

2.4.1. Ưu điểm. 59

2.4.2. Tồn tại . 59

2.4.3. Những nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý hoạt

động học tập của học sinh bán trú. 60

Kết luận chương 2 . 63

CHưƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA

HỌC SINH BÁN TRÚ Ở CÁC TRưỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG. 64

3.1. Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp . 64

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn . 64

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống . 64

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả . 64

3.1.4. Nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích. 65

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú . 66

3.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của quản lý hoạt động học

tập với học sinh bán trú ở trường THPT . 66

3.2.2. Kế hoạch hóa công tác quản lý hoạt động học tập của học

sinh bán trú . 67

3.2.3. Hoàn thiện bộ máy quản lý học sinh bán trú. 70

3.2.4. Chỉ đạo đổi mới nội dung, phương thức tổ chức hoạt động

học tập của học sinh bán trú. 71

3.2.5. Chỉ đạo đổi mới nội dung, phương thức kiểm tra - đánh giá

kết quả học tập của học sinh bán trú . 81

3.2.6. Tạo điều kiện về cơ sở vật chất để tiến hành tổ chức các

hoạt động học tập của học sinh bán trú. 83

3.2.7. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các lực lượng giáo dục

trong và ngoài nhà trường để tiến hành tổ chức các hoạt động học

tập của học sinh bán trú. 85vi

3.2.8. Mối quan hệ giữa các biện pháp. 90

3.3. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

đề xuất . 92

Kết luận chương 3 . 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO . 100

PHỤ LỤC. 103

pdf52 trang | Chia sẻ: phuongchi2019 | Ngày: 02/11/2020 | Lượt xem: 396 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Quản lí hoạt động học tập của học sinh bán trú ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
và Khoa học giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1986; Nguyễn Ngọc Quang - Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường CBQL TWI, Hà Nội, 1989;... đã được ứng dụng rộng rãi và mang lại một số hiệu quả nhất định trong quản lý nói chung, quản lý giáo dục, quản lý trường học nói riêng. Vấn đề quản lý hoạt động học tập của người học đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến chuyên gia đề cập đến ở nhiều khía cạnh khác nhau: Trong giáo dục phổ thông có Nguyễn Kỳ - “Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm”, NXB Hà Nội, 1996; coi học sinh là trung tâm và tổ chức lại việc học tập cho các em, lĩnh vực chung và giáo dục đại học có Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) - Học và cách dạy học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2002... Nghiên cứu về lĩnh vực quản lý hoạt động học tập của học sinh THPT; lĩnh vực quản lý học sinh bán trú ở các trường phổ thông và lĩnh vực quản lý hoạt động học tập của học sinh nội trú, học sinh bán trú, gần đây trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang cũng đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả: - Luận văn Thạc sỹ của Hoàng Văn Khánh (2010), đề tài “Quản lý hoạt 13 động ngoài giờ học trên lớp của học sinh bán trú dân nuôi ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang”. Đề tài đề cập đến một số lý luận về hoạt động ngoài giờ học trên lớp của học sinh bán trú dân nuôi, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh bán trú ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. - Luận văn Thạc sỹ của Mai Tiến Dũng (2013), đề tài “Quản lý hoạt động học tập của học sinh trường THPT dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang”. Đề tài đề cập đến một số lý luận về hoạt động học tập của học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh của trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang. - Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Như Sơn (2014), đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho của học sinh bán trú trường THPT Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”. Đề tài đề cập đến một số lý luận về hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh bán trú trường THPT Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh của trường THPT Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Trong các nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau của công tác quản lý học sinh bán trú, các tác giả đã chỉ ra vai trò, tầm quan trọng của hoạt động học tập, các kỹ năng tự học và một số biện pháp tổ chức hoạt động học tập cho học sinh. Tuy nhiên về vấn đề học tập và quản lý học tập của học sinh nói chung và học sinh bán trú nói riêng ở các trường phổ thông dân tộc bán trú ít được các tác giả quan tâm. Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về học tập, biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú ở các trường phổ thông dân tộc bán trú là rất thiết thực. Chính vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú ở các trường THPT trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của các trường THPT ở tỉnh nhà. 14 1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.2.1. Quản lý Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xét trên nhiều phạm vi, cá nhân, tập đoàn, quốc gia, nhóm quốc gia. Hoạt động quản lý xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm. Qua lao động để duy trì sự sống, đòi hỏi sự phối hợp hoạt động giữa các cá nhân con người. Hoạt động quản lý là hiện tượng tất yếu, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung. Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó. Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [10, tr. 38]. Các Mác đã nói lên được bản chất của quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của xã hội loài người. Hoạt động lao động là khá phức tạp, phong phú và đa dạng, quản lý là một hiện tượng lịch sử, xã hội. Khái niệm quản lý là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trên cơ sở và các cách tiếp cận khác nhau. Theo F.W Taylo, "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [15, tr. 5]. Các tác giả người Mỹ như Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich cho rằng: "Quản lý bao hàm việc thiết kế một môi trường mà trong đó con người cùng làm việc với nhau trong các nhóm để thực hiện các mục tiêu của tổ chức" [21]. 15 Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm về Quản lí: Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [26, tr. 32]. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí thì "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [12, tr. 9]. Theo Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [17, tr. 12]. Mặc dù các tác giả nêu trên có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm quản lý nhưng trong quan niệm của họ có những điểm chung, đó là: - Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội. Hoạt động quản lý là điều kiện quan trọng, làm cho tổ chức tồn tại, vận động và phát triển. - Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý lên khách thể trong một tổ chức thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Từ những quan niệm của các tác giả nêu trên về quản lý có thể hiểu rằng: Quản lý là sự tác động có tính hướng đích, có phương pháp của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của quá trình quản lý. Quản lý là một dạng hoạt động có tính chuyên biệt, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu xác định. Ngày nay có thể có những tác giả trình bày chức năng quản lý theo những quan điểm phân loại khác nhau nhưng nền tảng thì quản lý có bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. 16 1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1.2.2.1. Quản lý giáo dục Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, hoạt động giáo dục cũng được quản lý ngay từ khi các tổ chức giáo dục đầu tiên được hình thành, khái niệm Quản lý giáo dục (QLGD) cho đến nay được nhiều tác giả ở trong lẫn ngoài nước nêu ra và bàn luận như: Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người. Giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là sản phẩm xã hội mà còn là nhân tố tích cực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Trong xã hội hiện đại khi các quốc gia đua tranh về khoa học và công nghệ thì giáo dục có vai trò quyết định giúp các quốc gia thắng lợi trong cuộc tranh đua đó. Phát triển giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu thể hiện trong chiến lược và mọi chính sách của mỗi quốc gia. Khoa học quản lý giáo dục trở thành một bộ phận chuyên biệt của quản lý nói chung, nhưng là một khoa học tương đối độc lập vì tính đặc thù của nền giáo dục quốc dân. Trong cuốn “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục” thì M.I.Kôndakov viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh thì chúng ta không hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng chủ thể quản lý trên cơ sở các mặt của đời sống nhà trường để bảo đảm sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [29, tr 94]. Theo P.V. Khuđôminxki (nhà lý luận Xô Viết): Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ, bảo đảm phát triển toàn diện và hài hoà của họ. 17 Ở Việt Nam: Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sỹ Thư cho rằng “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra” [27, tr. 16]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên tình trạng mới về chất” [32, tr. 31]. Hệ thống giáo dục là một hệ thống mở, luôn vận động và phát triển theo quy luật chung và chịu sự quy định của điều kiện kinh tế - xã hội. Các định nghĩa trên cũng cho thấy quản lý giáo dục luôn luôn phải đổi mới, đảm bảo tính năng động, khả năng tự điều chỉnh, thích ứng của giáo dục với sự vận động và phát triển chung. Như vậy, có thể hiểu: Quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục, sử dụng tốt nhất tiềm năng và điều kiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý giáo dục đã đề ra. Tùy theo việc xác định đối tượng quản lý giáo dục mà quản lý giáo dục có nhiều cấp độ khác nhau ở tầm vĩ mô hoặc vi mô. Cấp độ vĩ mô: “Quản lý giáo dục” là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Ngày nay lĩnh vực giáo dục mở rộng hơn nhiều so với trước đây, do mở rộng đối tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn bộ xã hội. Cấp vi mô: Quản lý giáo dục là quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác. 1.2.2.2. Quản lý nhà trường Trong hệ thống giáo dục, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, 18 chủ yếu. Đa phần các hoạt động giáo dục đều được thực hiện trong nhà trường, thông qua hệ thống nhà trường (phổ thông, THCN, CĐ, ĐH và sau ĐH). Nhà trường là “tế bào chủ chốt” của hệ thống giáo dục từ trung ương đến cơ sở. Theo đó quan niệm QLGD luôn đi kèm với quan niệm Quản lý nhà trường (QLNT); Các nội dung QLGD luôn gắn liền với QLNT. Quản lý nhà trường có thể được coi như là sự cụ thể hoá công tác QLGD. Theo Nguyễn Ngọc Quang: QLNT là: “Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp...) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [31, tr. 10]. QLNT chính là quản lý giáo dục trong một đơn vị giáo dục (nhà trường); là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo. Nhà trường vừa là khách thể chính của mọi cấp quản lý từ trung ương đến địa phương, vừa là hệ thống độc lập trong xã hội, song trước hết và cơ bản là chức trách của Ban lãnh đạo nhà trường" [11, tr. 35]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "QLNT hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định" [17, tr. 61]. Trên cơ sở đó, có thể xác định: QLNT là một hệ thống hoạt động có mục đích có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thể hiện tính chất nhà trường XHCN, mà điểm hội tụ là hoạt động dạy học, giáo dục. Nội dung của QLNT, theo tác giả Đặng Quốc Bảo, bao gồm 10 nhân tố cơ bản và mối liên hệ tương tác của chúng. Các nhân tố đó liên hệ tương tác với nhau và đều hướng vào trung tâm đó là sự phát triển của nhà trường. 19 Quản lý nhà trường là một chuỗi hoạt động quản lý mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho quá trình giáo dục và đào tạo vận hành một cách tối ưu, tiến tới mục tiêu dự kiến [2]. 1.2.3. Hoạt động học tập của học sinh THPT Tại Khoản 1, Điều 38, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), quy định nhiệm vụ của học sinh: "Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường". Ngày nay công việc học tập đang từng ngày được xã hội hoá, nhà nhà học tập, người người học tập và mỗi người có một cách thức học tập, một mục đích học tập khác nhau. Tuy nhiên cách học, mục đích học có thể khác nhau nhưng đó là con đường là cơ hội tốt nhất để mỗi cá nhân phất triển, như theo tác giả Phạm Viết Vượng: "Học tập là cơ hội quan trọng nhất giúp mỗi cá nhân phát triển và thành đạt" [35, tr. 23]. Theo tác giả Phạm Thị Thanh Hải: "Học tập là một hoạt động mà chủ thể chính là người học; tri thức kỹ năng là đối tượng học tập. Việc tiếp nhận tri thức, kĩ năng được diễn ra theo cơ chế nhập tâm. Quá trình đó diễn ra trên cơ sở hoạt động của hệ thần kinh, bao gồm các giác quan, các nơ ron thần kinh và não" [19, tr. 25]. Dưới góc độ tâm lý học sư phạm, có thể hiểu: Hoạt động học tập là hoạt động lĩnh hội của người học sinh; học sinh tự giác, tích cực dưới sự điều khiển của thầy nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học. Hoạt động học tập cũng có chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học một cách tự giác, tích cực nhằm biến tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân. Có thể hiểu hoạt động học tập của học sinh là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học. Nghĩa là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà 20 học phải tiến đến những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao, đã được khái quát hoá, hệ thống hoá. Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động học. Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học. Như vậy hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của các lứa tuổi học sinh, do đó nó giữ vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học ở từng lứa tuổi tương ứng. 1.2.4. Học sinh bán trú trường THPT Theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc bán trú ban hành kèm theo Thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT ngày 02/8/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Học sinh bán trú là học sinh ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, được cấp có thẩm quyền cho phép ở lại trường để học tập trong tuần, do không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày”. Học sinh bán trú có nhiều điểm khác biệt so với học sinh nội trú. Học sinh nội trú là học sinh hiện đang theo học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện và cấp tỉnh, là con em các dân tộc thiểu số, con em các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được tuyển vào học ở trường phổ thông dân tộc nội trú với số lượng nhất định. Học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú phải ở tập trung tại khu nội trú của nhà trường trong suốt thời gian học tập, không được ở trọ bên ngoài nhà trường; mọi sinh hoạt và học tập đều diễn ra trong phạm vi khuôn viên nhà trường, có sự quản lý của nhà trường; được học 2 buổi trên ngày theo nội dung, chương trình quy định của Bộ GD&ĐT; được hưởng các chế độ ưu tiên theo quy định của Nhà nước. Học sinh bán trú là các học sinh hiện đang theo học ở các trường phổ thông bình thường thuộc nhiều cấp học (tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông), thuộc đủ các thành phần dân tộc, do gia đình ở cách xa 21 trường, đường đi lại rất khó khăn, phải qua đèo, qua suối, các em không thể đi về trong ngày, phải đến trọ học tại khu bán trú nhà trường, trọ ở nhà người quen, họ hàng, trong nhà dân, cuối tuần vào ngày chủ nhật mới về sinh hoạt cùng gia đình. Trong quá trình học tập, học sinh bán trú cũng được hưởng một số chính sách ưu tiên, hỗ trợ của Nhà nước song không được đầy đủ như của học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú. 1.2.5. Quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú ở trường THPT Học tập là một hoạt động nhận thức, chỉ khi có nhu cầu hiểu biết học sinh mới tích cực học tập. Nhu cầu hiểu biết đó chính là động cơ nhận thức mà hoạt động học tập phải tạo ra cho học sinh. Học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể trong hoạt động dạy - học, vì vậy, quản lý hoạt động học của học sinh là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Trong trường THPT có học sinh bán trú, do có số lượng học sinh bán trú đông nên việc quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh bán trú nói riêng và học sinh nhà trường nói chung. Quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú phải bao quát được cả không gian và thời gian học tập để điều hòa cân đối chung. Không gian hoạt động học tập của học sinh bán trú là từ trong lớp, ngoài lớp đến khu bán trú nhà trường và nơi ở trọ. Thời gian hoạt động học của học sinh bao gồm giờ học trên lớp, giờ tự học khu bán trú hoặc ở nhà trọ và thời gian thực hiện các hình thức học tập khác. Quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú là một khía cạnh cơ bản trong hoạt động quản lý nói chung của nhà trường THPT có học sinh bán trú trên tất cả các lĩnh vực liên quan đến hoạt động học tập của học sinh bán trú: Việc lập kế hoạch quản lý; quản lý hoạt động học tập trong giờ chính khóa; quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp, kiểm tra đánh giá Do phải sống xa gia đình trong suốt cả tuần, thiếu hụt sự giáo dục, quan 22 tâm thường xuyên của gia đình, chất lượng học tập bị ảnh hưởng không nhỏ. Chính vì vậy, việc quản lý hoạt động học tập cho học sinh bán trú là điều rất quan trọng nhưng không dễ thực hiện. Đối với các em, ngoài giờ học chính khóa trên lớp, các em tự học là chủ yếu. Song bên cạnh đó, việc học tập của các em còn phải nhờ đến sự tận tâm của các thầy cô giáo, đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, đội ngũ Ban quản lý khu bán trú, và đặc biệt là nhờ vào kế hoạch giáo dục, các biện pháp quản lý hiệu quả của nhà trường. 1.3. Hoạt động học tập của học sinh bán trú ở trƣờng THPT 1.3.1. Mục tiêu học tập Cuối thế kỷ XX, UNESCO nêu ra các trụ cột của việc học mà ngày nay nhiều quốc gia co là triết lý phát triển, bao gồm: "Học để biết; học để làm/để kiến tạo; Học để chung sống với nhau; Học để tồn tại; Học để làm người". Theo tổng kết của Đặng Quốc Bảo, Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với mục tiêu của việc học nêu lên Học phong "4H": Tháng 9/1949, đến dự khai giảng khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc, sau khi ghi vào sổ vàng nhà trường hàng chữ "Học để làm việc, làm người...". Khi nói chuyện với học viên, giảng viên, Bác nhấn mạnh việc học: "Học - Hỏi - Hiểu - Hành". Và dự vào một số lời khuyên của tiền nhân, Bác dạy: Bác học (Học rộng), Thâm vấn (Hỏi sâu), Thận tư (Tư duy cẩn thận), Minh biện (Phân biệt cho rõ ràng), Đốc hành (Dốc lòng vào hành động) để kiến tạo "4H" theo cách diễn đạt của Việt Nam vừa dễ nhớ, vừa gây ấn tượng. Ở đây, Người kết hợp hai phạm trù "Thận tư" và "Minh biện" thành phạm trù "Hiểu". Ngày nay nhiều nhà trường ở Việt Nam đã lấy phương châm "4H" làm tôn chỉ hoạt động của mình [18, tr. 26] 1.3.2. Kế hoạch học tập Theo Từ điển tiếng việt: "Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống và cụ thể về cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định với mục tiêu nhất định" [18, tr. 27]. Kế hoạch là một tiến trình ấn định mục tiêu và xác định biện pháp tốt nhất 23 để thực hiện được mục tiêu đó. Thiếu kế hoạch thì con người không làm chủ được thời gian và khó đạt được mực tiêu đã định. do đó việc lập kế hoạch giúp con người có mục tiêu rõ ràng, có các biện pháp để thực hiện mục tiêu tốt nhất. 1.3.3 Phương pháp, phương tiện và hình thức học tập Phương pháp là một thành tố quan trọng của quá trình hoạt động. Cùng với mục đích và nội dung hoạt động, phương pháp hoạt động đóng vai trò quyết định đến chất lượng hoạt động. R. Decacto 1596 - 1650, một đại diện của triết học Pháp thế kỉ XVII đã nói: "Không có phương pháp người tài cũng mắc lỗi, có phương pháp người bình thường cũng có thể làm được công việc phi thường" [18, tr. 28]. Đối học sinh bán trú (chủ yếu là con em các dân tộc tại các trường miền núi) phương pháp tổ chức các hoạt động học tập phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện của mỗi nhà trường, của từng địa phương và hoàn cảnh gia đình của học sinh, đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Phương pháp tổ chức các hoạt động học tập phải hết sức linh hoạt, cần thay đổi và điều chỉnh nội dung, hình thức hoạt động sao cho phù hợp với học sinh, giáo viên và điều kiện thực tế; phải khai thác và phát huy được tiềm năng của mỗi học sinh, của gia đình, các lực lượng xã hội, các tổ chức đoàn thể tham gia vào việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh bán trú. Đây là quan điểm có tính nguyên tắc, tạo tiền đề cho việc tìm tòi, xây dựng các biện pháp khai thác và phối hợp các lực lượng xã hội để tổ chức hoạt động học tập cho học sinh bán trú đạt hiệu quả cao. Phương tiện dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất kỹ thuật và sản phẩm của khoa học công nghệ được huy động vào quá trình dạy học được người dạy sử dụng vào điều khiển hoạt động nhận thức của người học. Phương tiện dạy học được xem là thành tố trong cấu trúc của quá trình dạy học. Nếu tiếp cận cấu trúc hoạt động dạy học trên cơ sở mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù mục đích và phương tiện thì các phương tiện chủ yếu để thực hiện mục đích dạy học (theo nghĩa rộng: không chỉ là vật chất kỹ thuật dạy học mà còn có cả các điều kiện chung vè yếu tố con người, thông tin và xã hội) [18, tr. 29] 24 Hình thức học tập được xác định tùy thuộc vào những mối quan hệ của các yếu tố cơ bản như sau: (i) dạy học có tính chất tập thể hay cá nhân; (ii) mức độ hoạt động độc lập của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng; (iii) phương thức hướng dẫn, tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của học sinh; và (iv) địa điểm, thời gian học tập. Trong nhà trường THPT, tồn tại ba hình thức học tập: cá nhân, nhóm và tập thể. Các hình thức tổ chức học tập chủ yếu gồm trên lớp, thảo luận và tự học. Ngoài ra, các hoạt động tập thể ngoài giờ lên lớp như sinh hoạt văn hóa, thể thao... được tổ chức góp phần hình thành và phát triển các năng lực, kỹ năng cần thiết cho học sinh, giúp các em hoàn thiện mình, tự tin trong học tập và trong cuộc sống. Các hình thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh bán trú có nhiều đặc trưng khác với của học sinh không ở bán trú, có ý nghĩa giáo dục thiết thực, phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi, với hứng thú và nguyện vọng của học sinh và điều kiện cụ thể của từng trường. 1.3.4. Kiểm tra đánh giá Kiểm tra là bước cuối cùng trong chu trình quản lí, nhằm đánh giá công tác quản lí. Kiểm tra đánh giá là hoạt động thường xuyên trong giáo dục, kể từ trước khi bắt đầu cho tới khi kết thức khóa học. Nó tạo ra động cơ, theo dõi và điều chỉnh quá trình, cho biết kết quả đào tạo và sự kiểm nghiệm của thực thể. Theo tác giả Phạm Thị Thanh Hải, kiểm tra có thể được

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf05050002839_3735_2003025.pdf
Tài liệu liên quan