Luận văn Thực trạng sử dụng bộ công cụ đánh giá sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ 5 tuổi tại tỉnh Bình Dương

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU . 1

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỘ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT

TRIỂN NGÔN NGỮ VÀ GIAO TIẾP CỦA TRẺ 5 TUỔI . 5

1.1. Lịch sử nghiên cứu về bộ công cụ đánh giá sự phát triển ngôn ngữ và

giao tiếp của trẻ 5 tuổi. 5

1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới. 5

1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam. 10

1.2. Những vấn đề chung về Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi Việt Nam . 13

1.2.1. Khái niệm chuẩn phát triển trẻ em. 13

1.2.2. Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi Việt Nam. 13

1.3. Sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ 5 tuổi. 16

1.3.1. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi. 16

1.3.2. Sự phát triển giao tiếp của trẻ 5 tuổi. 19

1.4. Những vấn đề chung về đánh giá sự phát triển của trẻ. 20

1.4.1. Khái niệm đánh giá sự phát triển của trẻ . 20

1.4.2. Chức năng của đánh giá trong giáo dục mầm non . 21

1.4.3. Phân loại đánh giá. 21

1.4.4. Các phương pháp đánh giá trẻ mầm non:. 23

1.5. Bộ công cụ đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non. 34

1.5.1. Khái niệm. 34

1.5.2. Cấu trúc bộ công cụ . 35

1.5.3. Bộ công cụ theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ. 351.6. Bộ công cụ đánh giá sự phát triển của trẻ 5 tuổi do Sở GD&ĐT tỉnh

Bình Dương triển khai. 44

Tiểu kết chương 1. 46

Chương 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BỘ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ SỰ

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ VÀ GIAO TIẾP CỦA TRẺ

5 TUỔI DO SỞ GD&ĐT TỈNH BÌNH DƯƠNG TRIỂN

KHAI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH

PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG. 47

2.1. Tổ chức nghiên cứu. 47

2.1.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu . 47

2.1.2. Khái quát về quá trình tổ chức nghiên cứu thực trạng . 48

2.2. Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng bộ công cụ đánh giá sự phát

triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ 5 tuổi do Sở GD&ĐT tỉnh Bình

Dương triển khai. . 51

2.2.1. Thực trạng nhận thức của CBQL, GVMN về vai trò của bộ

công cụ đánh giá sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ 5

tuổi do Sở GD&ĐT tỉnh Bình Dương triển khai . 51

2.2.2. Thực trạng nội dung bộ công cụ đánh giá sự phát triển ngôn ngữ

và giao tiếp của trẻ 5 tuổi do Sở GD&ĐT tỉnh Bình Dương triển

khai. .52

2.2.3. Thực trạng sử dụng bộ công cụ đánh giá sự phát triển ngôn ngữ và

giao tiếp của trẻ 5 tuổi do Sở GD&ĐT tỉnh Bình Dương triển khai. .54

2.2.4. Những thuận lợi, khó khăn khi sử dụng bộ công cụ đánh giá sự

phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ 5 tuổi do Sở GD&ĐT

tỉnh Bình Dương triển khai. . 68

2.2.5. Những đề xuất của CBQL và GVMN về việc sử dụng bộ công

cụ đánh giá sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ 5 tuổi do

Sở GD&ĐT tỉnh Bình Dương triển khai. . 802.3. Đề xuất các biện pháp hỗ trợ cán bộ quản lí, giáo viên mầm non sửdụng bộ công cụ đánh giá sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ

5 tuổi do Sở GD&ĐT tỉnh Bình Dương triển khai. . 82

2.3.1. Cơ sở của việc đề xuất các biện pháp:. 82

2.3.2. Một số biện pháp hỗ trợ cán bộ quản lí, giáo viên mầm non sử

dụng BCC đánh giá sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ 5

tuổi do Sở GD&ĐT tỉnh Bình Dương triển khai. . 82

2.3.3. Kết quả khảo sát ý kiến tính khả thi của các biện pháp hỗ trợ

cán bộ quản lí, giáo viên mầm non sử dụng BCC đánh giá sự

phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ 5 tuổi do Sở GD&ĐT

tỉnh Bình Dương triển khai. . 90

Tiểu kết chương 2. 94

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ . 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO . 100

PHỤ LỤC

pdf152 trang | Chia sẻ: lavie11 | Lượt xem: 377 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Thực trạng sử dụng bộ công cụ đánh giá sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ 5 tuổi tại tỉnh Bình Dương, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sẵn, nếu là phiếu cá nhân chỉ cần chuẩn bị đủ theo sỉ số trẻ, còn phiếu của lớp thì mỗi mẫu chuẩn bị một phiếu”. Bên cạnh đó lại có 13,3% tỉ lệ ở mức “khó”. Theo ý kiến của một số giáo viên cho biết nguyên nhân giáo viên cho rằng bước này khó thực hiện là do các các cô mới dạy lớp lá, chưa sử dụng BCC đánh giá sự phát triển của trẻ nên chưa biết các bảng biểu. Cô Trần Ngọc L – Khối trưởng khối lá chia sẽ “mỗi lớp có một cô đã dạy lâu năm là cô chính và một cô trẻ, thường thì cô chính chuẩn bị hồ sơ, sổ sách còn cô phụ chỉ giúp cô chính, chưa nắm rõ các biểu mẫu, không thường xuyên chuẩn bị hồ sơ nên gặp khó khăn”.  Tiến hành đo trên trẻ theo phương pháp đã xây dựng Đây là bước có tỉ lệ ở mức khó tương đối cao so với các bước khác (25%). Tỉ lệ ở mức độ bình thường đạt 61.7% và chỉ có 12.5% đạt mức độ dễ. Điểm trung bình là 3.14 đạt mức trung bình. Qua số liệu thu được chúng ta nhận thấy phần lớn CBQL, GVMN đều thực hiện được bước này. Những giáo viên biết cách sử dụng BCC, xác định phương tiện, lựa chọn phương pháp đánh giá phong phú thì khi tiến hành đo trên trẻ sẽ dễ dàng hơn. Theo ý kiến của một số giáo viên cho biết có những trường hợp trong lớp có trẻ nhút nhát, không tích cực tham gia hoạt động sẽ rất khó để đánh giá, đặt biệt nếu trẻ ít nói và không thích giao tiếp với người khác thì đánh giá sự phát triển NN và GT lại càng khó hơn. Ngoài ra số lượng trẻ trong lớp đông cũng là nguyên nhân gây khó khăn cho giáo viên quan sát, đánh giá trẻ. Cô Nguyễn Thị Thu H được phân 56 công dạy lớp lá từ năm học 2013 - 2014 cho biết “Vì trẻ trong lớp rất đông nên khi tổ chức hoạt động cho trẻ tham gia, cô không thể quan sát hết để nắm chính xác khả năng của trẻ”.  Đánh giá kết quả đạt trên trẻ, ghi kết quả kiểm tra của trẻ vào bảng theo dõi sự phát triển của lớp, thống kê kết quả kiểm tra của lớp Nhìn chung cả ba bước này, có tỉ lệ đánh giá gần giống nhau, điểm trung bình đều đạt ở mức trung bình (từ 2.76 đến 2.78). Nếu ta cộng tỉ lệ ở mức bình thường và dễ lại thì đạt tỉ lệ từ 85.8% đến 89.2%. Tỉ lệ này chứng hầu hết CBQL, GVMN cho rằng 3 bước: Đánh giá kết quả đạt trên trẻ, ghi kết quả kiểm tra của trẻ vào bảng theo dõi sự phát triển của lớp, thống kê kết quả kiểm tra của lớp đều thực hiện tốt. Có khoảng 10% - 11% tỉ lệ CBQL, GVMN mà phần lớn là những giáo viên mới dạy lớp 5 – 6 tuổi cho rằng khó thực hiện. Một số giáo viên cho biết do họ chưa có kinh nghiệm quan sát trẻ, chưa nắm chính xác khả năng của trẻ nên còn phân vân khi đánh giá kết quả trẻ đã đạt hay chưa đạt. Theo Cô Trần Hoàng Nhật L giáo viên lớp lá 3 cho biết: “Em mới về trường được phân công dạy lớp lá thay cho một cô nghĩ hậu sản. Em mới biết đến Bộ chuẩn và được các cô chỉ cách đánh giá nhưng em chưa có kinh nghiệm nên còn lung túng khi đánh giá kết quả của trẻ, chưa xác định trẻ đã đạt hay chưa đạt các chỉ số đề ra để ghi vào bảng biểu”.  Điều chỉnh kế hoạch giáo dục Bước điều chỉnh kế hoạch giáo dục có điểm trung bình là 3.11 đạt ở mức trung bình. Đây là bước có tỉ lệ ở mức khó cao nhất 28.3% so với các bước khác. Tổng tỉ lệ ở mức độ rất khó và khó chiếm 30%, mức độ bình thường là 49.2% và 20.8% ở mức độ dễ. Lập kế hoạch giáo dục là nhiệm vụ mà bất kì CBQL, GVMN nào cũng thực hiện trong công tác chăm sóc – giáo dục trẻ, việc điều chỉnh kế hoạch giáo dục cho phù hợp với trẻ sau khi có kết quả đánh giá thì hầu hết các CBQL, GVMN đều thực hiện được. Một số giáo viên cho rằng nếu là những giáo viên chưa có kinh nghiệm trong công tác thì việc lập kế hoạch đã khó nên việc điều chỉnh kế hoạch sau khi đánh giá lại gặp nhiều khó khăn hơn. Qua trao đổi với một số CBQL, các cô cho biết: Những giáo viên dạy lâu năm sẽ linh hoạt lựa chọn hoạt động phù hợp với trẻ và điều chỉnh kế hoạch dễ 57 dàng hơn. Một số giáo viên mới hay còn hạn chế về chuyên môn thì gặp khó khăn không chỉ trong việc lập kế hoạch mà còn trong việc điều chỉnh kế hoạch sau khi đánh giá. Theo kết quả khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy hầu hết CBQL, GVMN đều sử dụng được BCC theo các bước trên. Trong 7 bước sử dụng BCC, bước “Tiến hành đo trên trẻ theo phương pháp đã xây dựng” và “Điều chỉnh kế hoạch giáo dục” được đánh giá là khó thực hiện hơn các bước khác. Các giáo viên đã lựa chọn phương pháp đánh giá trẻ theo từng chỉ số thuộc lĩnh vực NN và GT nhưng do số lượng trẻ trong lớp quá đông, giáo viên không theo dõi, đánh giá chính xác mức độ của tất cả trẻ. Hoặc do giáo viên lựa chọn phương pháp theo dõi chưa phù hợp với chỉ số cần đánh giá, chưa linh hoạt lựa chọn phương pháp đánh giá trẻ trong các hoạt động. Cô N. T. H giáo viên trường mẫu giáo Sơn Ca chia sẽ cách cô sử dụng BCC theo dõi, đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ trong lớp “Tôi xác định phương pháp theo dõi đánh giá, quan sát trẻ khi nào, ở đâu, trẻ tham gia hoạt động nào,chuẩn bị đồ dùng đồ chơi cần thiết. Khi trẻ hoạt động thì tôi quan sát trẻ có đạt được chỉ số đó hay không. Sau mỗi đợt đánh giá, chúng tôi phải điều chỉnh kế hoạch lại cho phù hợp với mức độ của trẻ”. CBQL, GVMN muốn theo dõi, đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ thì phải biết thiết kế và sử dụng BCC đánh giá theo từng chỉ số thuộc lĩnh vực phát triển NN và GT của BCPTTENT.Chúng tôi tiến hành khảo sát về mức độ thiết kế công cụ đánh giá trẻ theo các chỉ số thuộc lĩnh vực phát triển NN và GT. Kết quả thu được như sau: Bảng 2.6. Đánh giá mức độ thiết kế công cụ đánh giá trẻ theo các chỉ số thuộc lĩnh vực phát triển NN và GT của trẻ 5 tuổi TT Các bước thiết kế công cụ Tỉ lệ (%) Điểm trung bình Rất khó Khó Bình thường Dễ Rất dễ 1 Xác định minh chứng “đạt”, “chưa đạt” 1.7 30.8 65.0 2.5 0 3.32 2 Xác định phương pháp theo dõi, đánh giá 2.5 20.8 70.0 6.7 0 3.19 3 Xác định phương tiện thực hiện 0.8 15.0 74.2 10.0 0 3.07 58 Bảng 2.6 cho thấy điểm trung bình từ 3.07 đến 3.32 đạt ở mức độ trung bình. Các bước khảo sát có tỉ lệ ở mức bình thường cao hơn nhiều so với các mức độ khác (từ 65.0% đến 74.2%). Kết quả này cho thấy CBQL, GVMN đều biết xác định minh chứng “đạt”, “chưa đạt”; Xác định phương tiện thực hiện và xác định phương pháp theo dõi, đánh giá trẻ. Giáo viên muốn sử dụng BCC theo dõi, đánh giá trẻ ở một chỉ số nào đó, trước hết phải nắm được các minh chứng đạt và chưa đạt của chỉ số đó, trên cơ sở đó xác định phương tiện thực hiện, lựa chọn phương pháp đánh giá cho phù hợp với từng chỉ số. Các bước khảo sát ở trên đều có tỉ lệ ở mức bình thường là chủ yếu, nhưng tỉ lệ ở mức độ khó cũng chiếm từ 15% đến 30%, đặc biệc là ở bước “Xác định minh chứng “đạt”, “chưa đạt” ” chiếm đến 30%. Tỉ lệ này cho thấy, giáo viên còn lúng túng, chưa xác định được trẻ đã đạt được hay chưa đạt được chỉ số đã đặt ra. Theo chia sẽ của cô Trần Thu M cho biết: khi theo dõi, đánh giá trẻ theo chỉ số “Nhận ra được sắc thái biểu cảm của lời nói khi vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên, sợ hãi” (Chỉ số 61). Nếu trẻ không nhận ra hai cảm xúc qua lời nói của người khác thì đánh giá đạt hay chưa đạt”. Còn ở bước “Xác định phương pháp theo dõi, đánh giá” có tỉ lệ mức độ “khó” là 20.8 thấp hơn so với bước “Xác định minh chứng đạt, chưa đạt”. Qua trao đổi trực tiếp với giáo viên, chúng tôi nhận thấy phần lớn giáo viên thường xuyên lựa chọn phương pháp trò chuyện, quan sát và nhận xét sản phẩm của trẻ để đánh giá hầu hết các chỉ số. Còn lại những phương pháp khác như bài tập, bảng liệt kê, trắc nghiệm để đánh giá trẻ cho phù hợp với các chỉ số thì giáo viên cho là khó thực hiện. Đề tài cũng đã tiến hành khảo sát tần suất sử dụng các phương pháp theo dõi, đánh giá trẻ như sau: 59 Bảng 2.7. Tần suất sử dụng phương pháp đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ 5 tuổi ST T Phương pháp Tỉ lệ (%) Điểm trung bình Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Ít khi Không bao giờ 1 Quan sát 35.0 61.7 3.3 0 0 4.32 2 Bảng liệt kê 1.7 32.5 53.3 11.7 0.8 3.23 3 Trò chuyện 32.5 60.8 6.7 0 0 4.26 4 Bài tập đánh giá do giáo viên thiết kế 5.8 70.2 22.3 1.7 0 3.79 5 Phân tích sản phẩm của trẻ 9.2 76.7 13.3 0.8 0 3.94 6 Trắc nghiệm 3.3 20.0 50.0 20.0 6.7 2.93 Trong sáu phương pháp khảo sát ở bảng 2.7, ta thấy có bốn phương pháp có điểm trung bình đạt mức cao từ 3.79 đến 4.32. Trong đó, hai phương pháp quan sát và trò chuyện có điểm trung bình cao hơn so với các phương pháp khác (4.32 và 4.26) và tổng tỉ lệ ở mức độ rất thường xuyên và thường xuyên chiếm hơn 90%. Tỉ lệ này chứng tỏ CBQL, GVMN sử dụng phương pháp quan sát và trò chuyện để đánh giá trẻ là chủ yếu, bởi lẽ họ có thể đánh giá trẻ theo các chỉ số của lĩnh vực NN và GT ở tất cả các thời điểm, ở mọi lúc mọi nơi như khi trẻ học, trẻ chơi, hay trong hoạt động sinh hoạt hằng ngày của trẻ. Giáo viên quan sát tất cả các hoạt động của trẻ ở trường mầm non như: hoạt động học, hoạt động vui chơi, hoạt động sinh hoạt Chẳng hạn như quan sát trẻ chơi ở góc phân vai, theo dõi trẻ biết thỏa thuận vai chơi với bạn, ccho5n đồ chơi, trẻ giao tiếp với trẻ khácHoặc trò chuyện với trẻ về nội dung bài thơ, câu chuyện đã học xem trẻ có nắm nội dung của bài thơ, câu chuyện hay không để đánh giá các chỉ số từ chỉ số 64 đến chỉ số 71. Giáo viên có thể dựa vào các sản phẩm của trẻ như tranh vẽ, sản phẩm nặn hoặc sản phẩm thu được ở các góc chơi như album hình ảnh do trẻ làm, thiệp chúc mừng để đánh giá các chỉ số như chỉ số 80, 81, 87 đến chỉ số 90. 60 Hai phương pháp cũng có điểm trung bình đạt mức cao nhưng thấp hơn so với phương pháp quan sát và trò chuyện là phương pháp sử dụng bài tập do giáo viên thiết kế và phân tích sản phẩm của trẻ (3.79 và 3.94), có tỉ lệ ở mức độ thường xuyên trên 70% nhưng lại có tỉ lệ ở mức thỉnh thoảng không nhỏ, đặc biệt là phương pháp bài tập (22.3%). Tỉ lệ này cho thấy giáo viên cũng có sử dụng các sản phẩm của trẻ để đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ nhưng rất ít. Theo ý kiến của một số giáo viên cho biết: giáo viên dựa vào các hoạt động hàng ngày của trẻ và tận dụng các đồ dùng có sẵn ở các hoạt động học, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời hay sản phẩm của trẻ, chỉ sử dụng phương pháp bài tập để đánh giá những chỉ số nào cần thiết. Nếu sử dụng phương pháp bài tập, giáo viên phải thiết kế bài tập riêng để đánh giá trẻ. Hai phương pháp có điểm trung bình thấp nhất 3.23 và 2.93 đạt mức độ trung bình là phương pháp bảng liệt kê và phương pháp trắc nghiệm. Cả hai phương pháp này có tỉ lệ ở mức độ thường xuyên thấp nhưng có tỉ lệ ở mức độ thỉnh thoảng và mức độ ít khi cao hơn so với các phương pháp khác. Phương pháp bảng liệt kê có tỉ lệ ở mức thỉnh thoảng là 53.3%, phương pháp trắc nghiệm là 50.0%. Tỉ lệ trên cho thấy hai phương pháp này không được giáo viên sử dụng nhiều để đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ. Giáo viên còn hạn chế trong việc sử dụng phương pháp bảng liệt kê, phương pháp trắc nghiệm. Đặc biệt là phương pháp trắc nghiệm có tỉ lệ ở mức độ ít khi là 20.0% và không bao giờ là 6.7%, tổng tỉ lệ của hai mức độ này là là 26.7% hơn ¼ mẫu nghiên cứu. Con số này cần phải quan tâm và tìm hiểu nguyên nhân vì sao giáo viên ít sử dụng hai phương pháp này. Có những giáo viên chưa bao giờ sử dụng phương pháp trắc nghiệm để đánh giá trẻ. Qua trao đổi trực tiếp với một số giáo viên, họ cho biết nếu sử dụng phương pháp trắc nghiệm, bảng liệt kê đánh giá trẻ, giáo viên phải tổ chức hoạt động riêng, chuẩn bị bài tập, đồ dùng, đồ chơi và kỹ thuật thực hiện rất khó nhưng chưa được bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn. Kết quả khảo sát này rất phù hợp với kết quả khảo sát ở bảng 2.6, theo một số giáo viên đánh giá việc xác định phương pháp theo dõi, đánh giá trẻ dễ thực hiện bằng cách lựa chọn phương pháp quan sát, trò chuyện, phân tích sản phẩm của trẻ. Sau khi điều tra mức độ các bước sử dụng BCC và tần suất sử dụng các phương pháp theo dõi, đánh giá của CBQL, GVMN, chúng tôi tiến hành điều tra CBQL, 61 GVMN về mức độ phù hợp của các thời điểm được lựa chọn để theo dõi, đánh giá sự phát triển NN và GT, kết quả thu được như sau: Bảng 2.8. Mức độ phù hợp của các thời điểm để theo dõi, đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ 5 tuổi TT Thời điểm Tỉ lệ (%) Điểm trung bình Rất phù hợp Phù hợp Phân vân Không phù hợp Hoàn toàn không phù hợp 1 Đón trẻ 5.0 60.8 16.7 16.7 0.8 3.53 2 Hoạt động học 31.7 65.8 2.5 0 0 4.29 3 Hoạt động vui chơi 22.5 73.3 3.3 0.8 0 4.18 4 Hoạt động ngoài trời 15.0 75.8 8.3 0.8 0 4.05 5 Vệ sinh, ăn, ngủ 4.2 57.5 19.2 18.3 0.8 3.46 6 Hoạt động theo ý thích 8.3 72.5 14.2 5.0 0 3.84 7 Trả trẻ 5.0 60.8 16.7 16.7 0.8 3.53 8 Ở gia đình 17.5 62.5 15.0 5.0 0 3.93 9 Ở các nơi khác vào ngày nghỉ 9.2 61.5 23.3 9.2 0.8 3.77 Điểm trung bình chung 3.83 Nhìn vào bảng 2.8 ta thấy mức độ phù hợp của các thời điểm có điểm trung bình chung là 3.83 đạt mức cao. Các thời điểm như hoạt động học, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời có tỉ lệ đồng ý và hoàn toàn đồng ý cao, còn các thời điểm: hoạt động đón trẻ; vệ sinh, ăn ngủ; trả trẻ thấp hơn so với các thời điểm khác. Hầu hết các thời điểm có tỉ lệ ở mức độ phù hợp trên 50%. Số liệu này cho thấy các thời điểm trên đều phù hợp để đánh giá sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ. CBQL, GVMN đánh giá trẻ mọi lúc mọi nơi, Có thể số liệu cụ thể của các thời điểm như sau: 62 Các thời điểm (2,3,4) tổng tỉ lệ ở 2 mức rất phù hợp và phù hợp cao chiếm 90%. Riêng “hoạt động học” và “hoạt động góc” có khoảng ¼ mẫu nghiên cứu cho là rất phù hợp. Đây là những thời điểm được giáo viên lựa chọn là thời điểm phù hợp để đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ. Vì vậy giáo viên thường xuyên sử dụng những thời điểm này để quan sát, theo dõi, đánh giá trẻ nhiều nhất. Đặc biệt là “hoạt động học” tỉ lệ ở mức rất phù hợp và phù hợp chiếm đến 97.5% gần như là tuyệt đối. Như vậy có thể nhận thấy, giáo viên chọn “hoạt động học” làm thời điểm cho trẻ tham gia để đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ là chính. Theo nhận xét của một số giáo viên thì trong thời điểm này trẻ rất hứng thú tham gia và tích cực đóng góp ý kiến. Mặt khác, đây là lúc các bé ổn định dễ quan sát hơn, có sẵn đồ dùng, đồ chơi phong phú có thể sử dụng cho trẻ chơi không phải chuẩn bị thêm đồ dùng để đánh giá trẻ riêng. Theo cô Lê Thanh D chia sẽ: “Nếu cô muốn đánh giá theo chỉ số “Điều chỉnh giọng nói phù hợp với tình huống và nhu cầu giao tiếp” cô có thể sử dụng giờ làm quen văn học cho trẻ đóng kịch. Hay khi trẻ tham gia hoạt động ở góc, chơi phân vai, chơi ở góc thư viện cô có thể đánh giá các chỉ số như: “Nghe hiểu và thực hiện được các chỉ dẫn liên quan đến 2, 3 hành động” (Chỉ số 62); “Hỏi lại hoặc có những biểu hiện qua cử chỉ, điệu bộ, nét mặt khi không hiểu người khác nói” (Chỉ số 76); “Thể hiện sự thích thú với sách” (Chỉ số 80). Các thời điểm (1,5,6,7) cũng có tỉ lệ phù hợp và rất phù hợp từ 60% đến 80% nhưng lại có tỉ lệ ở mức không phù hợp và hoàn toàn không phù hợp cao hơn so với các thời điểm khác. Một số giáo viên đánh giá những thời điểm này là phù hợp và lựa chọn làm thời điểm đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ. Một số giáo viên lại cho là không phù hợp và ít sử dụng hơn. Họ giải thích lí do không phù hợp là do đây là lúc giáo viên tập trung vào cho trẻ ăn, chuẩn bị cho trẻ ngủ, thay quần áo vệ sinh cho chuẩn bị trả bé, làm rất nhiều việc không quan tâm đến việc đánh giá trẻ theo các chỉ số nữa. Bên cạnh đó, những thời điểm này còn có tỉ lệ ở mức phân vân cao từ 14.2% đến 19.2%. Một số giáo viên còn phân vân chưa xác định được các hoạt động đó có phù hợp cho việc đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ. Theo các giáo viên cho biết họ có thể đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ ở mọi thời điểm, có chỉ số cần quan sát trẻ khi trẻ trẻ học, trẻ chơi. Nhưng có những chỉ số cần quan sát trẻ nói chuyện 63 cùng cô giáo và các bạn khi ăn, vệ sinhCô Lê Ngọc T cho biết: “Tôi chọn ở mức độ phân vân vì tôi thấy thời điểm ăn, vệ sinh so với những thời điểm khác thì nó không phù hợp bằng và ít được lựa chọn làm thời điểm theo dõi, đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ”. Cô Trần Thị L – giáo viên lớp lá 3 cho biết: “mình phân vân vì thời điểm đó chưa phù hợp và giáo viên có thể quan sát trẻ ở những thời điểm khác nhau”. Riêng đối với hai thời điểm “ở gia đình” và “ở các nơi khác vào ngày nghỉ” có tỉ lệ đồng ý rất cao từ 80% và 70.7% nhưng cũng có tỉ lệ phân vân cao, đặc biệt là thời điểm “ở các nơi khác vào ngày nghỉ” có đến 23.3%. Tỉ lệ trên cho thấy, thời điểm này được đánh giá là phù hợp và được lựa chọn làm thời điểm đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ. Chúng ta có thể thấy đây là những thời điểm trẻ được vui chơi thoải mái, thể hiện đúng khả năng của bản thân, trẻ tự do trao đổi ý kiến với mọi người trong gia đình. Đặc biệt đối với những trẻ nhút nhát không dám thể hiện bản thân ở lớp thì đây là lúc thuận tiện nhất để đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ. Giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh, dựa vào thông tin vể tình hình của trẻ do phụ huynh cung cấp để đánh giá trẻ. Nhưng một số giáo viên cho rằng cũng có thể dựa vào thông tin do phụ huynh cung cấp nhưng sẽ không chính xác bằng giáo viên theo dõi trực tiếp trẻ trên lớp. Bảng 2.8 cho thấy, phần lớn CBQL, GVMN đã sử dụng BCC đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Ở mỗi thời điểm giáo viên đều có thể theo dõi, đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ. Tùy theo từng chỉ số mà giáo viên lựa chọn thời điểm theo dõi, đánh giá cho phù hợp. Đối với những chỉ số cần theo dõi đánh giá ở các thời điểm: “ở gia đình” và “ở các nơi khác vào ngày nghỉ” giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh để thu thập thông tin về trẻ. Giáo viên cần theo dõi, đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ ở tất cả các thời điểm để xác định nhu cầu, hứng thú, khả năng của từng trẻ để giáo viên có thể lựa chọn những tác động giáo dục phù hợp. Đồng thời giáo viên có thể nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình giáo dục của mình để từ đó điều chỉnh việc tổ chức hoạt động giáo dục sao cho phù hợp với trẻ. Để tìm hiểu nhận xét của CBQL, GVMN về việc sử dụng BCC khi đánh giá trẻ ở các chỉ số thuộc lĩnh vực NN và GT ở mức độ nào, dễ hay khó? Chúng tôi tiến hành 64 khảo sát CBQL, GVMN về mức độ xây dựng công cụ đánh giá các chỉ số thuộc lĩnh vực NN và GT. Kết quả thu được như sau: Bảng 2.9. Mức độ xây dựng công cụ đánh giá các chỉ số thuộc lĩnh vực phát triển NN và GT của trẻ 5 tuổi TT Chỉ số Tỉ lệ (%) Rất khó Khó Trung bình Dễ Rất dễ 1 Chỉ số 1 0 6.7 61.7 30.8 0.8 2 Chỉ số 2 0 6.7 60.8 26.8 6.7 3 Chỉ số 3 1.7 20.8 57.7 18.2 1.7 4 Chỉ số 4 2.5 16.7 60.8 19.2 0.8 5 Chỉ số 5 4.2 26.7 51.7 15.0 2.5 6 Chỉ số 6 0.8 17.5 70.8 10.0 0.8 7 Chỉ số 7 0.8 14.2 66.8 15.8 2.5 8 Chỉ số 8 0 5.0 60.0 33.3 1.7 9 Chỉ số 9 1.7 14.2 66.8 15.8 1.7 10 Chỉ số 10 0.8 17.5 70.8 10.0 0.8 11 Chỉ số 11 2.5 16.7 60.8 19.2 0.8 12 Chỉ số 12 0 6.7 57.3 36.0 0 13 Chỉ số 13 2.5 16.7 60.8 19.2 0.8 14 Chỉ số 14 1.7 14.2 66.7 15.8 1.7 15 Chỉ số 15 0 6.7 60.3 33.0 0 16 Chỉ số 16 0.8 17.5 70.8 10.0 0.8 17 Chỉ số 17 0 6.7 60.3 33.0 0 18 Chỉ số 18 1.7 14.2 66.7 15.8 1.7 19 Chỉ số 19 0 6.7 60.3 33.0 0 20 Chỉ số 20 0.8 14.2 66.8 15.8 2.5 21 Chỉ số 21 2.5 4.2 60.3 33.0 0 22 Chỉ số 22 2.5 28.3 58.3 10.0 0.8 65 23 Chỉ số 23 6.7 0 66.3 27.0 0 24 Chỉ số 24 0 6.7 60.3 30.5 2.5 25 Chỉ số 25 0 6.7 60.3 26.3 6.7 26 Chỉ số 26 6.7 0 57.3 36.0 0 27 Chỉ số 27 4.2 25.3 59.7 10.0 0.8 28 Chỉ số 28 1.7 14.2 66.7 15.8 1.7 29 Chỉ số 29 2.5 16.7 60.8 19.2 0.8 30 Chỉ số 30 0.8 17.5 70.8 10.0 0.8 31 Chỉ số 31 1.7 14.2 66.7 15.8 1.7 Nhìn vào bảng 2.9 cho thấy phần lớn CBQL, GVMN nhận xét việc sử dụng BCC để đánh giá trẻ theo các chỉ số thuộc lĩnh vực NN và GT ở mức độ trung bình là chủ yếu. Theo ý kiến của giáo viên cho biết: phần lớn các chỉ số của lĩnh vực NN và GT, giáo viên chỉ cần sử dụng phương pháp trò chuyện với trẻ và quan sát trẻ giao tiếp với mọi người khi trẻ ở trường để đánh giá trẻ. Chẳng hạn như chỉ số 62: nghe hiểu và thực hiện được các chỉ dẫn liên quan đến 2, 3 hành động. Giáo viên chỉ cần yêu cầu trẻ thực hiện 2,3 hành động như cất cặp,và đi vào lớp ngồi là có thể đánh giá trẻ theo chỉ số 62. Có những chỉ số cần theo dõi trẻ ở các thời điểm như hoạt động học, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời như chỉ số 64: Nghe hiểu nội dung câu chuyện, thơ, đồng dao, ca dao dành cho lứa tuổi của trẻ. Giáo viên quan sát trẻ trong giờ học làm quen tác phẩm văn học. Chỉ số 69: Sử dụng lời nói để trao đổi và chỉ dẫn bạn bè trog hoạt động, giáo viên quan sát trẻ chơi trò chơi phân vai, trò chơi ở góc xây dựng. Nhưng các chỉ số khó như chỉ số 22: Biết dùng các ký hiệu hoặc hình vẽ để thể hiện cảm xúc, nhu cầu, ý nghĩ và kinh nghiệm của bản thân và chỉ số 27: Biết ý nghĩa một số ký hiệu, biểu tượng trong cuộc sống, giáo viên phải thiết kế bài tập, chuẩn bị thêm đồ dùng, đồ chơi cho phù hợp với chỉ số. Các giáo viên đều nhận định “Khó” là do giáo viên phải tiếp xúc trực tiếp với từng trẻ, đưa ra yêu cầu cho trẻ và cần chuẩn bị thêm đồ dùng, đồ chơi riêng mới đánh giá chính xác, không tận dụng những cái đã có sẵn được. Theo kết quả giáo viên đánh giá trẻ ở các chỉ số thuộc lĩnh vực NN và GT thì phần lớn các chỉ số đều có tỉ lệ trẻ ”đạt” cao (theo biểu mẫu đánh giá cá nhân). Cô 66 Trần Ngọc Thủy T cho biết: ”Khoảng 90% trẻ trong lớp ”đạt” các chỉ số, còn vài trẻ yếu do trẻ chưa mạnh dạn trong giao tiếp, ít nói, chưa tích cực hoạt động chưa đạt ở một vài chỉ số. Kết quả này phù hợp với kết quả khảo sát ở bảng 2.4 đã nhận định các chỉ số phù hợp với trẻ (trên 80%). Như vậy, chúng ta có thể nhận định các chỉ số thuộc lĩnh vực NN và GT phù hợp với trẻ và CBQL, GVMN đều biết sử dụng BCC, lực chọn phương pháp và thời điểm thích hợp với từng chỉ số để theo dõi, đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ. Sau khi tìm hiểu thực trạng sử dụng BCC, chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ hiệu quả sử dụng BCC đánh giá sự phát triển NN và GT của CBQL, GVMN và thu được kết quả như sau: Bảng 2.10. Mức độ hiệu quả sử dụng BCC đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ 5 tuổi Mức độ Tỉ lệ (%) Điểm trung bình Rất hiệu quả 11.7 3.80 Hiệu quả 63.3 Bình thường 18.3 Ít hiệu quả 6.7 Không hiệu quả 0 Bảng 2.10 cho thấy mức độ hiệu quả của việc sử dụng BCC đánh giá sự phát triển GT và GT của trẻ ở mức độ cao có điểm trung bình 3.80 đạt mức độ cao. Tổng tỉ lệ ở mức độ hiệu quả và rất hiệu quả là 75%. Hầu hết CBQL, GVMN được thăm dò cho rằng: Các chỉ số thuộc lĩnh vực NN và GT rất dễ thực hiện, giáo viên sử dụng những công cụ như quan sát, trò chuyện trong giao tiếp hàng ngày của trẻ và thông qua các hoạt động học, hoạt động vui chơi của trẻ để đánh giá các chỉ số. Vì vậy, việc sử dụng BCC của giáo viên đạt hiệu quả cao. Đây là kết quả rất tốt cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Đúng với nhận định ban đầu khi thực trạng khảo sát về nhận thức của CBQL, GVMN về vai trò BCC và mức độ quan tâm cùa CBQL, GVMN đến BCC (bảng 2.2 và 2.3). 67 Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu vẫn còn 18.3% tỉ lệ ở mức độ bình thường và 6.7% ở mức độ ít hiệu quả. Con số này tuy không lớn nhưng cũng là một con số khiến ta không thể lạc quan với thực trạng sử dụng BCC đánh giá sự phát triển NN và GT của trẻ hiện nay. Để hiểu rõ hơn về hiệu quả sử dụng BCC của giáo viên, chúng tôi đã trao đổi trực tiếp với một số CBQL, GVMN những vấn đề như: trẻ có tham gia thực hiện những công cụ do giáo viên xây dựng để đánh giá không? Trẻ có thực hiện đúng những công cụ do giáo viên xây dựng không? Giáo viên xây dựng công cụ có đánh giá được trẻ theo những chỉ số thuộc lĩnh vực NN và GT không? Một số giáo viên đều nhận định rằng phần lớn những công cụ do giáo viên xây dựng đều được trẻ tham gia thực hiện theo đúng mục đích của giáo viên. Vì vậy giáo viên có thể đánh giá được trẻ theo những chỉ số thuộc lĩnh vực NN và GT. Theo ý kiến của một số CBQL là Hiệu phó chuyên môn của trường mầm non cho biết: Mặt dù trẻ đều thực hiện những công cụ do giáo viên xây dựng và giáo viên có thể đánh giá trẻ dựa vào công cụ đó nhưng công cụ chưa đa dạng, chưa kích thích tất cả trẻ tham gia thực hiện. Đồng thời, giáo viên gặp nhiều khó khăn khi sử dụng BCC làm cho hiệu quả sử dụng BCC của giáo viên chưa cao như: Một số trẻ nhút nhát ít tham gia vào hoạt động, trẻ ít giao tiếp với mọi người hoặc trẻ có tham gia chơi nhưng không tích cực nên có những công cụ giáo viên xây dựng nhưng chưa phù hợp với những trẻ này. Ví dụ khi đánh giá chỉ số 61 (Nhận ra được sắc thái biểu cảm của lời nói khi vui, buồn, tức giận, sợ hãi), giáo viên yêu cầu trẻ thể hiện cảm xúc của trẻ theo yêu cầu của cô. Nếu trẻ không dám thể hiện thì trẻ không đạt chỉ số này. Vì vậy giáo viên có thể sử dụng phương pháp khác như cho trẻ vẽ hình khuôn mặt thể hiện cảm xúc và thể hiện theo hình vẽ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftvefile_2015_01_26_7120808920_0676_1872766.pdf
Tài liệu liên quan