được cho là ở trên cây đường đi
ngắn nhất SPT. Cây SPT ban đầu chính là cây quảng bá (Broadcast Tree) vì
router gửi dữ liệu tới tất cả các hàng xóm của nó, mà không biết trên các
router đó có tồn tại các máy nhận dữ liệu hay không.
1.2.2.2 Cắt nhánh
Khi thấy có luồng dữ liệu dư thừa router PIM-DM gửi thông điệp cắt
nhánh Prune lên router phía trên để thông báo cắt nhánh.
Hình 1.10: Cắt nhánh trong PIM-DM
Hình 1.9: Cây phân phối PIM-DM
1.2.2.3 Cơ chế xác nhận
Một router nhận dữ liệu multicast trên cổng mà cổng đó cũng gửi dữ
liệu từ nguồn, thì router sẽ gửi một thông điệp PIM Assert tới cổng mà nó
nhận dữ liệu để tìm ra router được lựa chọn. Trong thông điệp PIM Assert
chứa giá trị metric tới nguồn, và router nào có giá trị metric tốt nhất sẽ được
chọn làm router gửi dữ liệu. Các router khác sẽ ngừng gửi dữ liệu và loại bỏ
cổng của nó ra khỏi cây multicast. Trong trường hợp nhiều router có cùng
metric, thì xét chọn router nào có địa chỉ IP cao nhất.
1.2.2.4 Ghép nhánh
Khi cần ghép nhánh thì router đó sẽ gửi một thông điệp Graft tới
router trên nó để yêu cầu nhận dữ liệu. Router trên nó nhận thông điệp và trả
lời bằng cách gửi lại một thông điệp Graft-Ack thông báo đã được ghép
nhánh.
Hình 1.11: Xác nhận trong PIM-DM
1.2.3 PIM Sparse Mode
1.2.3.1 Cây chia sẻ
Các hoạt động của PIM-SM xoay quanh một cây chia sẻ một chiều,
trong đó gốc cây được gọi là điểm hẹn RP (Rendezvous Point). Cây chia sẻ
còn có một tên khác là cây RP được viết tắt là RPT vì gốc của nó ở tại điểm
RP. Router ở chặng cuối muốn nhận dữ liệu từ một nhóm multicast nó sẽ
tham gia vào cây chia sẻ. Khi router không muốn nhận dữ liệu từ nhóm
multicast nữa nó sẽ cắt bỏ khỏi cây chia sẻ.
1.2.3.2 Cây đường đi ngắn nhất
Giao thức PIM-SM người dùng có thể nhận dữ liệu multicast thông
qua cây đường đi ngắn nhất SPT. Bằng cách tham gia cây SPT dữ liệu
multicast sẽ được đưa trực tiếp tới máy nhận mà không thông qua router RP,
điều đó giúp giảm tải trên router RP. Nhược điểm của cây SPT là router phải
tạo và duy trì các thực thể trạng thái (S, G) trong bảng định tuyến multicast.
Hình 1.12: Ghép nhánh trong PIM-DM
1.2.3.3 Thông điệp Join/Prune
Các phần trước đây đã nhắc đến thông điệp PIM Join và PIM Prune
như hai thông điệp khác nhau với mục đích làm sáng tỏ quá trình tham gia
hay cắt bỏ nhánh. Tuy nhiên thức tế PIM chỉ sử dụng một thông điệp đơn
Join/Prune cho cả hai chức năng. Mỗi thông điệp Join/Prune chứa cả hai
danh sách Join và Prune và một trong hai danh sách đó có thể rỗng. Các thực
thể Join và Prune trong thông điệp Join/Prune có cùng một định dạng chung,
bao gồm các thông tin sau:
- Địa chỉ nguồn multicast: địa chỉ IP của nguồn multicast để thực
hiện quá trình Join hay Prune, nếu cờ Wildcard được bật thì trường này chứa
địa chỉ của router RP.
- Địa chỉ nhóm multicast: địa chỉ nhóm multicast để thực hiện quá
trình Join hay Prune.
- Cờ Wildcard (WC bit): chỉ ra rằng thực thể là một thông điệp (*,
G) Join/Prune.
- Cờ RP Tree (RP bit): thông điệp Join/Prune là thích hợp và cần được
gửi lên cây chia sẻ.
1.2.3.4 Đăng ký nguồn dữ liệu
Trong cây chia sẻ PIM-SM chúng ta đã biết cách router gửi thông điệp
(*, G) tới cây chia sẻ cho nhóm multicast G. Tuy nhiên PIM-SM sử dụng cây
chia sẻ một chiều nên dữ liệu multicast chỉ có thể đi theo chiều từ gốc cây
xuống các nhánh. Vì thế nguồn dữ liệu cần phải có một cách khác để gửi dữ
liệu của nó tới router RP. Tuy nhiên trước tiên router RP cần phải được thông
báo về nguồn đang tồn tại. Để làm điều này PIM-SM sử dụng thông điệp PIM
Register và Register-Stop để thực hiện quá trình đăng ký nguồn dữ liệu. Quá
trình này sẽ thông báo với router RP một nguồn đang hoạt động và phân phối
các gói tin multicast đầu tiên tới RP để tiếp tục được gửi xuống các nhánh.
* Thông điệp PIM Register
Thông điệp PIM Register được gửi từ router DR kết nối với nguồn dữ
liệu tới router RP, với hai mục đích là:
- Báo cho router RP biết rằng S là nguồn hoạt động và đang gửi dữ
liệu tới nhóm G
- Gửi các gói tin multicast đầu tiên từ S tới RP để gửi xuống cây chia
sẻ tới máy nhận. Khi một nguồn multicast bắt đầu gửi dữ liệu, router DR nhận
gói tin multicast từ nguồn và tạo một thực thể trạng thái (S, G) trong bảng
định tuyến multicast. Tiếp đó router DR đóng gói mỗi gói tin multicast trong
các thông điệp PIM Register riêng rẽ và gửi tới router RP. Khi router RP nhận
một thông điệp PIM Register, đầu tiên nó sẻ mở gói thông điệp và nhận được
gói tin multicast trong đó. Nếu gói tin là của một nhóm multicast có các máy
nhận RP gửi gói tin xuống các nhánh cây phù hợp. Sau đó router RP tham gia
vào cây đường đi ngắn nhất của nguồn S và có thể nhận dữ liệu trực tiếp từ
nguồn mà không cần nhận thông qua thông điệp PIM Register nữa. Nếu như
gói tin multicast trong thông điệp PIM Register không có máy nào yêu cầu
nhận (lúc đó danh sách cổng ra cho trạng thái (S, G) là rỗng) thì router RP sẽ
loại bỏ thông điệp multicast và không gửi thông điệp Join trở lại nguồn.
* Thông điệp PIM Register – Stop
Router RP sử dụng thông điệp PIM Register-Stop để thông báo với
router DR ngừng việc gửi các thông điệp PIM Register khi thỏa mãn một
trong hai điều kiện sau:
- Khi router RP bắt đầu nhận dữ liệu multicast từ nguồn thông qua cây
(S, G) SPT giữa nguồn và RP.
- Khi router RP không cần nhận dữ liệu nữa vì trên nó không còn tồn
tại các máy nhận yêu cầu nhận dữ liệu multicast. Khi router DR nhận thông
điệp Register-Stop nó biết router RP không cần nhận dữ liệu nữa vì thế nó
ngừng việc đóng gói và gửi các thông điệp Register.
1.2.3.5 Chuyển từ cây chia sẻ sang cây đường đi ngắn nhất
PIM-SM hỗ trợ khả năng cho phép router DR ở chặng cuối (là
router kết nối trực tiếp với các máy nhận dữ liệu) có thể chuyển từ cây chia
sẻ sang cây SPT cho một nguồn multicast. Điều này được thực hiện tự động
thông qua việc đặt ra một ngưỡng SPT-Threshold của băng thông mạng, khi
giá trị băng thông đạt ngưỡng router DR sẽ tham gia vào cây SPT.
1.2.4 Multicast Open Shortest Path First (MOSPF)
Là một mở rộng của giao thức định tuyến unicast trạng thái liên kết
Open Shortest Path First (OSPF). MOSPF cung cấp sự mở rộng về định dạng
dữ liệu và các đặc tả hoạt động từ OSPF. Sự mở rộng này cho phép dữ liệu
multicast được truyền trên mạng OSPF bằng cách sử dụng cây đường đi ngắn
nhất như là một phần của các router MOSPF.
1.2.4.1 Định tuyến multicast trong vùng
MOSPF là mở rộng của giao thức định tuyến unicast OSPF và do vậy
đòi hỏi OSPF như giao thức định tuyến cơ sở. Khái niệm cơ bản của định
tuyến MOSPF trong miền dựa vào giả thiết trạng thái trong mô tả OSPF đó là
“nếu các router trong một miền biết các phân đoạn mạng có các thành viên
của nhóm multicast, các router đó có thể sử dụng thuật toán Dijkstra để xây
dựng cây đường đi ngắn nhất cho bất kỳ các cặp nhóm, mạng nguồn trong
vùng”.
Một mở rộng quan trọng của MOSPF trong định dạng dữ liệu để hỗ
trợ multicast là sử dụng một thông điệp quảng bá trạng thái liên kết của nhóm
(group Link-State Advertisement – LSA nhóm). Thông điệp LSA nhóm này
được phát tán định kỳ trong cả vùng giống như LSA của giao thức OSPF. Mỗi
LSA nhóm có các thông tin cơ bản sau: địa chỉ nhóm multicast, định danh
router quảng bá, danh sách các giao diện mạng của router (xác định bởi địa
chỉ IP) có các thành viên của nhóm. Sau khi cơ sở dữ liệu của các router
trong vùng được đồng bộ, sự kết hợp của LSA nhóm với router và mạng LSA
cung cấp cho mỗi router MOSPF thông tin cần thiết để xây dựng cây đường
đi ngắn nhất cho các cặp nhóm và mạng trong vùng. Để xây dựng cây này
mỗi router MOSPF sử dụng thuật toán Dijkstra để xây dựng một cây đường đi
ngắn nhất multicast đơn có gốc tại mạng nguồn.
Hình 1.13 chỉ ra kết quả của cây đường đi ngắn nhất MOSPF (N4, G)
SPT với gốc là mạng nguồn N4 và chứa nguồn 1 và 3. mạng N3 chỉ ra kết
quả cây (N3, G) SPT với gốc tại mạng nguồn N3 có chứa nguồn 2.
Hình 1.13: Một vùng MOSPF chứa nguồn và thành viên nhóm multicast G
1.2.4.2 Định tuyến multicast trên nhiều vùng
Phần này minh họa cơ chế mà MOSPF thực hiện để chuyển tiếp gói
tin giữa các vùng OSPF. Khi một nguồn multicast ở trong một vùng gửi tới
người nhận ở trong vùng khác. Cách thức MOSPF sử dụng để quản lý định
tuyến multicast trên nhiều vùng có nhiều điểm giống với cách OSPF thực
hiện. Trong OSPF các router kết một vùng thuộc lớp thứ hai tới vùng đường
trục được gọi là ABR (area border router- router trên biên của vùng) và được
chịu trách nhiệm để chuyển tiếp thông tin định tuyến (trong dạng của một
thông điệp tóm tắt LSA - summary LSA) và dữ liệu unicast giữa hai vùng.
Các router ABR không truyền tuyến đường hay các thông điệp LSA giữa các
vùng, mà chỉ truyền các thông điệp LSA tóm tắt giữa các vùng. Để hỗ trợ
multicast trên nhiều vùng, RFC 1584 định nghĩa chuyển tiếp multicast liên
vùng là một tập con của các OSPF ABR trong mạng và được cấu hình để thực
hiện các tác vụ multicast liên quan như: tóm tắt thông tin thành viên nhóm
trong vùng 0 và chuyển tiếp gói tin multicast giữa các vùng. Các router thực
hiện chức năng này được gọi là router multicast trên biên của vùng (multicast
area border routers – MABR). Để dữ liệu multicast theo cấu trúc phân cấp của
OSPF (từ vùng đường trục tới các vùng lớp thứ hai) router trên vùng đường
trục cần biết các router multicast trên biên của vùng (MABR) nào đang được
kết nối có thành viên hoạt động của nhóm multicast. Các router MABR tóm
tắt thông tin của thành viên nhóm multicast trong vùng và phát tán tới vùng
đường trục thông qua LSA nhóm. Tuy nhiên, không như OSPF LSA tóm tắt
được phát tán đối xứng xuyên qua biên của vùng, các LSA nhóm tóm tắt phát
tán không đối xứng và chỉ theo từ vùng không là đường trục sang vùng đường
trục.
Trong ví dụ này, vùng 1 chứa một thành viên của nhóm A (MA) và
hai thành viên nhóm B (MB). Thông tin thành viên trong nhóm được tóm tắt
trong thông điệp MABR1 và được phát tán đến vùng đường trục (vùng 0)
thông qua LSA nhóm. Tương tự vùng 2 chứa hai thành viên nhóm A và thông
tin được tóm tắt và phát tán tới vùng đường trục thông qua MABR2. Hình
1.15 chỉ ra 2 nguồn hoạt động S1 và S2 gửi dữ liệu tới các nhóm multicast
tương ứng B và A. Thông tin thành viên nhóm được phát tán tới vùng đường
trục bởi các router MABR1 và MABR2 cho biết đường đi từ nguồn tới các
nhóm. Theo đó cây (S1, B) và cây (S2, B) được xây dựng trong vùng đường
trục cho phép lưu lượng nhóm A và B được truyền tới vùng 1 và 2 một cách
thích hợp.
Hình 1.15 Cây đường đi ngắn nhất SPTs trong vùng đường trục
Hình 1.14 Thông điệp nhóm tóm tắt trong vùng đường trục
Trong ví dụ trên nằm trên vùng đường trục và dữ liệu được lấy xuống
tới các vùng không phải đường trục. Tuy nhiên trong thực tế thường xuyên
gặp phải trường hợp các nguồn khung nằm trên vùng đường trục, trong
trường hợp này MOSPF xử lý bằng cách định nghĩa một cờ để báo hiệu người
nhận multicast. Cờ báo hiệu đó chỉ ra router mong muốn nhận tất cả các dữ
liệu multicast. Tất cả các router multicast trên biên vùng (MABR) để nhận dữ
liệu multicast từ các nguồn trong vùng không phải đường trục và từ đó có thể
chuyển tiếp tới các router trên vùng đường trục nếu cần. Trên hình 1.16 thể
hiện mạng với nguồn (S1, B) và (S2, A) bây giờ ở trong mạng không phải
đường trục. Nguồn (S2, A) ở trên vùng 2 và cây đường đi ngắn nhất cho
trường hợp định tuyến cho nhiều vùng vẫn được xây dựng bình thường, tuy
nhiên lúc này MABR2 đánh dấu nhận dữ liệu muticast vì thế nó được thêm
vào cây SPT (S2, A). Tương tự trên vùng 1MABR1 cũng được thêm vào cây
đường đi ngắn nhất (S1, B). Lúc này dựa vào cây đường đi ngắn nhất trên
vùng đường trục các router MABR1 và MABR2 có thể tới các vùng.
Hình 1.16 Nguồn trong vùng không phải đường trục
1.2.4.3. Định tuyến multicast trên các AS
Cơ chế mà MOSPF thực hiện khả năng định tuyến trên các vùng tự trị
(autonomous system - AS). Trong định tuyến unicast OSPF sử dụng các
router tại biên của các vùng tự trị (autonomous system border routers -
ASBR) để chuyển tiếp dữ liệu tới các miền OSPF. Tương tự MOSPF
cũng sử dụng các router multicast trên vùng biên (Multicast AS Border
Routers - MASBR) để chuyển tiếp dữ liệu muticast tới các router trên vùng
đường. Khi lưu lượng vào từ một miền khác thông qua MASBR lưu lượng
này được chuyển qua đường trục tới MABR dựa vào LAS nhóm rút gọn. Tiếp
theo dữ liệu từ các router MABR tiếp tục được phát tán tới các thành viên
nhóm multicast dựa vào cây đường đi ngắn nhất được minh họa như trên hình
1.17.
Hình 1.17. Lưu lượng multicast xuống các miền MOSPF
CHƯƠNG 2: ĐÀO TẠO ĐIỆN TỬ DỰA TRÊN CÔNG
NGHỆ IP MULTICAST
2.1. Một số công nghệ mạng phục vụ cho hệ thông đào tạo điện tử
2.1.1. Giao thức ITU H.323:
2 .1.1.1.Tổng quan:
H323 là một tập các tiêu chuẩn từ ITU-T, nó định nghĩa một tập các
giao thức dùng để liên lạc bằng âm thanh và hình ảnh qua mạng máy tính.
Tiêu chuẩn H.323 đầu tiên được chính thức công bố và giải quyết các
vấn đề cấp phát đa phương tiện trên cơ sở kỹ thuật LAN. Tuy nhiên, khi mạng
Internet và IP trở nên phổ biến, nhiều giao thức tiêu chuẩn RFC và các kỹ
thuật đã được phát triển dựa trên một số ý tưởng của H.323.
H.323 định nghĩa chi tiết các hoạt động của các thiết bị người dùng,
các gateway và các trạm khác. Đầu cuối (endpoint) người dùng H.323 có thể
truyền thông thời gian thực, audio hai chiều, video hoặc dữ liệu với một kết
cuối người dùng H.323 khác. Đầu cuối cũng có thể truyền thông với gateway
H.323 hoặc đơn vị điều khiển đa điểm MCU.
2 .1.1.2.Cấu trúc của H.323:
H.323 là một giao thức có cấu trúc gồm 4 thành phần: đầu cuối,
Gateway, Gatekeeper và đơn vị điều khiển đa điểm MCU (Multipoint Control
Unit). Cấu trúc này được mô tả như trong hình sau:
2.1.1.3.Chồng giao thức H.323:
Hình 2.1: Cấu trúc của H.323
Đầu cuối H.323
Gatekeeper
MCU
Gateway
Đầu cuối H.323
ISDN
PSTN
H.225
(Q.931) H.245 T.120
G.7xx H.26x
RTP
RTCP RAS
TCP UDP
IP
Hình 2.2: Chồng giao thức H.323
Điều khiển Dữ liệu Audio Video Điều khiển
2.1.1.4. Hoạt động của H.323:
Giao thức H.323 bao gồm nhiều hoạt động để hỗ trợ truyền thông giữa
người dùng và các đầu cuối khác, các gateway và MCU. Hình 2.3 trình bày
các giai đoạn chính trong quá trình thiết lập cuộc gọi giữa hai điểm cuối
H.323.
2.1.1.5. Mô hình mạng cơ bản của H.323:
Phát hiện
Đăng kí
Thiết lập kết nối
Thay đổi dung lượng
Thay đổi kênh logic
Truyền tải
Kết thúc
RAS và Q.931
H.245
RAS
PSTN Việt
Nam Việt
Nam
Lào
Thái
Lan
Hồng
Kông
Internet
PSTN
Hồng Kông
PSTN
Thái Lan
PSTN
Lào
Hình 2.4. Mô hình H.323 cơ bản thông qua Internet
Hình 2.3. Các giai đoạn chính của H.323
2.1.2.Giao thức khởi tạo phiên SIP:
2.1.2.1.Tổng quan:
Giao thức khởi tạo phiên (SIP, Session Initiation Protocol) là một giao
thức điều khiển và đã được tiêu chuẩn hóa bởi IETF (RFC 2543). Nhiệm vụ
của nó là thiết lập, hiệu chỉnh và xóa các phiên làm việc giữa các người dùng.
Các phiên làm việc cũng có thể là hội nghị đa phương tiện, cuộc gọi điện
thoại điểm-điểm, …. SIP được sử dụng kết hợp với các chuẩn giao thức IETF
khác như là SAP, SDP và MGCP (MEGACO) để cung cấp một lĩnh vực rộng
hơn cho các dịch vụ VoIP. Cấu trúc của SIP cũng tương tự với cấu trúc HTTP
(giao thức client-server). Nó bao gồm các yêu cầu được gửi đến từ người sử
dụng SIP client tới SIP server. Server xử lý các yêu cầu và đáp ứng đến các
client. Một thông điệp yêu cầu, cùng với các thông điệp đáp ứng tạo nên sự
thực thi SIP.
SIP là một công cụ hỗ trợ hấp dẫn đối với điện thoại IP vì các lý do
sau :
+ Nó có thể hoạt động vô trạng thái hoặc có trạng thái. Vì vậy, sự
hoạt động vô trạng thái cung cấp sự mở rộng tốt do các server không phải duy
trì thông tin về trạng thái cuộc gọi một khi sự thực hiện (transaction) đã được
xử lý.
+ Nó có thể sử dụng nhiều dạng hoặc cú pháp giao thức chuyển
siêu văn bản HTTP (Hypertext Transfer Protocol), vì vậy, nó cung cấp một
cách thuận lợi để hoạt động trên các trình duyệt.
+ Bản tin SIP (nội dung bản tin) thì không rõ ràng, nó có thể là
bất cứ cú pháp nào. Vì vậy, nó có thể được mô tả theo nhiều cách. Chẳng hạn,
nó có thể được mô tả với sự mở rộng thư Internet đa mục đích MIME
(Multipurpose Internet Mail Extension) hoặc ngôn ngữ đánh dấu mở rộng
XML (Extensible Markup Language).
+ Nó nhận dạng một người dùng với bộ định vị tài nguyên đồng
nhất URL (Uniform Resource Locator), vì vậy, nó cung cấp cho người dùng
khả năng khởi tạo cuộc gọi bằng cách nhấp vào một liên kết trên trang web.
Nói chung, SIP hỗ trợ các hoạt động chính sau :
+ Định vị trí của người dùng.
+ Định media cho phiên làm việc.
+ Định sự sẵn sàng của người dùng để tham gia vào một phiên làm
việc.
+ Thiết lập cuộc gọi, chuyển cuộc gọi và kết thúc.
2.1.2.2. Cấu trúc của SIP:
Một khía cạnh khác biệt của SIP đối với các giao thức xử lý cuộc gọi IP
khác là nó không sử dụng bộ điều khiển Gateway. Nó không dùng khái niệm
Gateway/bộ điều khiển Gateway nhưng nó dựa vào mô hình khách/chủ
(client/server).
Server : là một chương trình ứng dụng chấp nhận các bản tin yêu cầu
để phục vụ các yêu cầu này và gửi trả các đáp ứng cho các yêu cầu đó. Server
là Proxy, Redirect, UAS hoặc Registrar.
Proxy server : là một chương trình trung gian, hoạt động như là một
server và một client cho mục đích tạo các yêu cầu thay mặt cho các client
khác. Các yêu cầu được phục vụ bên trong hoặc truyền chúng đến server
khác. Một Proxy có thể dịch và nếu cần thiết, có thể tạo lại bản tin yêu cầu
SIP trước khi chuyển chúng đến server khác hoặc một UA. Trong trường hợp
này, trường Via trong bản tin đáp ứng, yêu cầu chỉ ra các Proxy trung gian
tham gia vào tiến trình xử lý yêu cầu.
Redirect server : là một server chấp nhận một yêu cầu SIP, ánh xạ địa
chỉ trong yêu cầu thành một địa chỉ mới và trả lại địa chỉ này trở về client.
Không giống như Proxy Server, nó không khởi tạo một yêu cầu SIP và không
chuyển các yêu cầu đến các Server khác. Không giống như Server đại diện
người dùng UAS, nó không chấp nhận cuộc gọi.
Registrar : là một server chấp nhận yêu cầu REGISTER. Một
Registrar được xếp đặt với một Proxy hoặc một server gửi lại và có thể đưa ra
các dịch vụ định vị. Registrar được dùng để đăng kí các đối tượng SIP trong
miền SIP và cập nhật vị trí hiện tại của chúng. Một miền SIP thì tương tự với
một vùng H.323.
UA (User Agent) : là một ứng dụng chứa cả UAC (User Agent Client)
và UAS (User Agent Server).
- UAC: đây là phần người sử dụng được dùng để khởi tạo một yêu
cầu SIP tới server SIP hoặc UAS.
- UAS : là một ứng dụng server giao tiếp với người dùng khi yêu
cầu SIP được nhận và trả lại một đáp ứng đại diện cho người dùng.
Server SIP có hai loại : Proxy server và Redirect server. Proxy server
nhận một yêu cầu từ client và quyết định server kế tiếp mà yêu cầu sẽ đi đến.
Proxy này có thể gửi yêu cầu đến một server khác, một Redirect server hoặc
UAS. Đáp ứng sẽ được truyền cùng đường với yêu cầu nhưng theo chiều
ngược lại. Proxy server hoạt động như là client và server. Redirect server sẽ
không chuyển yêu cầu nhưng sẽ chỉ định client tiếp xúc trực tiếp với server kế
tiếp, đáp ứng gửi lại client chứa địa chỉ của server kế tiếp. Nó không hoạt
động được như là một client, nó không chấp nhận cuộc gọi.
2.1.2.3.Tổng quan về hoạt động của SIP:
* Địa chỉ SIP:
Địa chỉ của SIP còn được gọi là bộ định vị tài nguyên chung URL
(Universal Resource Locator), tồn tại dưới dạng user@host. Phần user trong
phần địa chỉ có thể là tên người sử dụng hoặc số điện thoại. Phần host có thể
là tên miền hoặc địa chỉ mạng. Ví dụ địa chỉ SIP :
sip:
[email protected]
sip:
[email protected]
* Định vị server SIP:
Khi client muốn gửi một yêu cầu, client gửi đến một proxy server SIP
đã được cấu hình hoặc gửi yêu cầu đến địa chỉ IP và số cổng tương ứng với
URL SIP. Gửi yêu cầu trực tiếp đến proxy server thì dễ dàng nếu ứng dụng
cuối đã biết proxy server. Gửi yêu cầu theo cách thứ hai thì phức tạp hơn.
Client phải cố gắng tiếp xúc với server ở số cổng được liệt kê trong bộ định vị
tài nguyên đồng nhất URL SIP. Nếu số hiệu cổng không có trong URL SIP
thì client sử dụng số cổng 5060. nếu URL SIP chỉ định một giao thức (UDP
User Agent User Agent
Proxy server Proxy server
Request Request Request
Hình 2.5. Redirect Server
Redirect
server
Registrar
Request
Return
hoặc TCP) thì client tiếp xúc với server sử dụng giao thức đó. Nếu không có
giao thức nào được chỉ định hoặc nếu client không hỗ trợ UDP nhưng có hỗ
trợ TCP thì nó cố gắng dùng TCP. Client có gắng tìm một hoặc nhiều địa chỉ
server SIP bằng cách truy vấn DNS (Domain Name System). Tiến trình như
sau:
+ Nếu phần host của URL SIP là địa chỉ IP, client tiếp xúc với
server ở địa chỉ cho trước. Ngược lại nó xử lý bước kế tiếp.
+ Client truy vấn server DNS cho địa chỉ phần host của URL SIP.
Nếu server DNS không trả về địa chỉ của URL SIP, client sẽ ngừng vì nó
không thể định vị được server.
* Sự giao dịch SIP (SIP Transaction) :
Khi phần host của URL SIP đã được giải quyết, client gửi một hoặc
nhiều yêu cầu SIP đến server và nhận được một hoặc nhiều đáp ứng từ server.
Các yêu cầu cùng với các đáp ứng liên hệ với nhau trong hoạt động này tạo
thành sự giao dịch SIP. Tất cả các đáp ứng chứa cùng các giá trị trong các
trường Call-ID, Cseq, To và From. Điều này cho phép các đáp ứng so khớp
với các yêu cầu.
Nếu TCP được sử dụng, các đáp ứng và yêu cầu trong một sự giao dịch
đơn lẻ được mang trên cùng một kết nối TCP. Nhiều yêu cầu SIP từ một
client đến một server có thể sử dụng cùng kết nối TCP hoặc có thể sử dụng
một kết nối mới cho mỗi yêu cầu.
Nếu client gửi yêu cầu sử dụng UDP, đáp ứng được gửi đến địa chỉ
được định nghĩa trong trường tiêu đề của yêu cầu.
* Lời mời SIP (SIP Invitation) :
Một lời mời SIP thành công bao gồm hai bản tin: bản tin INVITE và
theo sau là bản tin ACK. Bản tin INVITE yêu cầu người bị gọi tham gia vào
một hội nghị đặc biệt hoặc thiết lập một cuộc đối thoại hai người. Sau khi
người bị gọi đồng ý tham gia vào cuộc gọi, người gọi xác nhận rằng nó đã
nhận được đáp ứng bằng cách gửi bản tin ACK.
* Định vị người dùng:
Người bị gọi có thể di chuyển giữa nhiều hệ thống đầu cuối theo thời
gian. Các vị trí này có thể đăng kí động với server SIP. Một server vị trí có
thể trả về nhiều vị trí bởi vì người dùng đăng nhập ở nhiều trạm một cách
đồng thời hoặc server vị trí có thông tin không chính xác. Server SIP kết hợp
các kết quả để cung cấp một danh sách các vị trí hoặc không có vị trí nào.
Hoạt động nhận danh sách các vị trí thay đổi tùy thuộc vào server SIP.
Một Redirect server trả về một danh sách hoàn chỉnh các vị trí và cho phép
các client định vị người dùng chính xác. Một Proxy server cũng cố gắng định
địa chỉ cho đến khi cuộc gọi thành công hoặc người bị gọi từ chối cuộc gọi.
* Thay đổi một phiên đang tồn tại:
Trong một số trường hợp, người ta mong muốn thay đổi các thông số
của một phiên đang tồn tại. Điều này được thực hiện bằng cách phát lại bản
tin INVITE, sử dụng cùng Call-ID, nhưng nội dung mới hoặc các trường tiêu
đều mang thông tin mới. Chẳng hạn, hai đối tác đang trò chuyện và muốn
thêm vào một người thứ ba. Một trong hai mời người thứ ba với địa chỉ
multicast mới và đồng thời gửi bản tin INVITE đến đối tác thứ hai với sự mô
tả phiên multicast mới, ngoại trừ số nhận dạng cuộc gọi là cũ.
2.1.2.4. Hoạt động chính của SIP:
* Hoạt động của Proxy server:
* Hoạt động của Redirect server:
Server định vị
Hình 2.6. Hoạt động của Proxy server
Proxy server
[email protected]
1
2 3
4
56
7
8
Yahoo.com
Luồng RTP/RTCP
Hotmail.com
[email protected]
Redirect
server
Server định vị
[email protected]
Yahoo.com Hotmail.com
Hình 2.7. Hoạt động của Redirect server
1 2 3
4
6
[email protected]
5
2.1.2.5. Mô hình liên mạng giữa SIP và H.323:
* Sử dụng kết nối TDM (E1/T1):
* Sử dụng Proxy đa giao thức:
Hình 2.8. Kết hợp SIP và H.323 sử dụng TDM
PSTN
Việt Nam
Lào
Thái
Lan
Hồng
Kông
Internet
PSTN Hồng
Kông
PSTN
Thái Lan
PSTN
Lào
Việt
Nam
Gateway
SIP
Proxy
SIP
T1/E1
Internet
Hình 2.9. Kết hợp SIP và H.323 sử dụng Proxy đa giao thức
PSTN
Việt Nam
Lào
Thái
Lan
Hồng
Kông
Internet
PSTN Hồng
Kông
PSTN
Thái Lan
PSTN
Lào
Việt Nam
Proxy đa
giao thức
Proxy
SIP
Internet
SIP
H.323
* Sử dụng riêng biệt:
2.2. Đào tạo điện tử dựa trên công nghệ IP Multicast
Một thế hệ mới của e-learning phát triển, dựa trên các ứng dụng phần
mềm nhóm tích hợp đồng bộ, cung cấp các phương tiện tương tác thân thiện
hơn, cho phép đào tạo phong phú hơn vượt xa một lớp học ảo. Mặc dù sự phát
triển của dịch vụ WWW, đa phương tiện điện tử các ứng dụng hội nghị truyền
hình …, trên thực tế chất lượng dịch vụ (QoS: Quality of Service) được cung
cấp bởi hệ thống mạng vẫn l