Luận văn Xây dựng mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng góp phần đảm bảo an ninh lương thực tại xã Vinh quang, Tiên lãng, Hải Phòng

Nam Định, các phòng ban tại huyện Giao Thủy; nguồn tài liệu sơ cấp đƣợc thu thập

thông qua quan sát, phỏng vấn sâu, phỏng vấn KIP 65 cán bộ quản lý và khuyến nông

cấp xã, điều tra theo bộ câu hỏi soạn thảo sẵn 150 ngƣời nông dân đại diện đang trực

tiếp sản xuất trồng trọt, chăn nuôi tại các xã ven biển huyện Giao Thủy. 215 mẫu đƣợc

lựa chọn theo phƣơng pháp ngẫu nhiên đơn giản và ngẫu nhiên phân tầng (có xét đến

chuyên môn và nghề nghiệp chính). Phƣơng pháp thảo luận nhóm và lấy ý kiến

chuyên gia đƣợc sử dụng để phân chia các hộ theo thu nhập (giàu, trung bình, nghèo)

và theo quy mô (lớn, vừa, nhỏ); phƣơng pháp điểm (Case Study) đƣợc áp dụng để

nghiên cứu một số hộ đại diện. Các biện pháp thích ứng với BĐKH trong SXNN trong

đề tài đƣợc chia theo từng lĩnh vực khác nhau: thích ứng trong trồng trọt, thích ứng

trong chăn nuôi, thích ứng trong nuôi trồng thủy sản, thích ứng trong đánh bắt hải sản,

thích ứng trong nghề làm muối và thích ứng trong lâm nghiệp. Bên cạnh các biện pháp

thích ứng, đề tài còn nêu lên các giải pháp ứng phó với BĐKH của chính quyền địa

phƣơng để đảm bảo SXNN của ngƣời dân ven biển huyện Giao Thủy.

pdf37 trang | Chia sẻ: anan10 | Ngày: 02/11/2020 | Lượt xem: 215 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Xây dựng mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng góp phần đảm bảo an ninh lương thực tại xã Vinh quang, Tiên lãng, Hải Phòng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tác Sự tham gia của cộng đồng ngay từ đầu quá trình xây dựng dự án ở địa phƣơng. Do đó họ có thể có những quyết định liên quan tới các kế hoạch hành động,và thiết lập một tổ chức chính quyền địa phƣơng mới – hay tăng cƣờng năng lực cho chính quyền hiện tại. Nó có xu hƣớng liên quan tới phƣơng pháp nghiên cứu mang tính liên ngành – tức là xem xét tới nhiều quan điểm khác nhau, áp dụng quá trình nghiên cứu tổng hợp và có 12 cấu trúc. Nhóm tham gia này đại diện cho quyết định của cộng đồng, do đó đảm bảo cộng đồng có tác động trong việc duy trì cơ cấu tổ chức hay thực hiện chính sách. Nguồn: Pretty (1995), adapted from Pretty (1994), Satterthwaite (1995); Adnan et al.(1992), Hart (1992) 1.2. Tổng quan các nghiên cứu về tác động của BĐKH và các mô hình thích ứng trong lĩnh vực an ninh lƣơng thực: 1.2.1. Các nghiên cứu về giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa Theo PGS.TS Nguyễn Văn Hoan[10], trong suốt thời kỳ sinh trƣởng, phát triển, cây lúa trải qua 3 thời kỳ lớn: thời kỳ sinh trƣởng sinh dƣỡng, thời kỳ sinh trƣởng sinh thực, thời kỳ hình thành hạt và chín. Trong ba thời kỳ sinh trƣởng của cây lúa trải qua 10 giai đoạn phát triển: Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng: 4 giai đoạn(0-3)  Giai đoạn 0: từ nứt nanh đến nảy mầm, hạt lúa hình thành rễ và mầm.  Giai đoạn 1: giai đoạn mạ, bắt đầu từ lá thật đầu tiên đến trƣớc khi nhìn thấy nhánh thứ nhất, từ khi cây mạ có 1 lá đến khi có 4-5 lá thật.  Giai đoạn 2: giai đoạn đẻ nhánh, bắt đầu từ khi cây lúa có nhánh đầu tiên đến khi cây lúa có nhánh tối đa là giai đoạn quyết định số nhánh và chất lƣợng nhánh.  Giai đoạn 3: giai đoạn vƣơn lóng (giai đoạn làm đốt), bắt đầu từ cuối giai đoạn đẻ nhánh hoặc ngay trƣớc giai đoạn hình thành đòng, lóng đƣợc hình thành và vƣơn dài. Giai đoạn 1,2,3 thuộc thời kỳ thứ nhất của cây lúa – thời kỳ sinh trƣởng sinh dƣỡng. Giai đoạn này dài hay ngắn khác nhau tùy theo giống. Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: gồm 3 giai đoạn (4-6)  Giai đoạn 4: phân hóa đòng đến đòng già (giai đoạn làm đòng), khi trên đỉnh sinh trƣởng hình thành bông nguyên thủy. Từ giai đoạn bông nguyên thủy cây lúa còn hình thành đƣợc 2 lá nữa, không kể lá đòng. Giai đoạn 4 kết thúc khi cây lúa có đòng già, chuẩn bị trỗ bông.  Giai đoạn 5: giai đoạn trỗ bông, bắt đầu từ khi các hoa đầu tiên của bông nhô ra khỏi đòng đến khi lóng trên cùng không dài thêm đƣợc nữa.  Giai đoạn 6: giai đoạn nở hoa (lúa phơi màu hay giai đoạn phơi màu) 13 Giai đoạn 4-6 thuộc thời kỳ thứ 2 của cây lúa. Thời kỳ này kéo dài 35 ngày và ổn định ở tất cả các giống không phụ thuộc vào thời gian sinh trƣởng dài hay ngắn. Thời kỳ hình thành hạt và lúa chín: gồm 3 giai đoạn (7-9)  Giai đoạn 7: chín sữa. Trong hạt lúa tích lũy dạng vật chất giống nhƣ sữa.  Giai đoạn 8: chín sáp. Hạt gạo đã hình thành rõ nhƣng vẫn mềm, vật chất tích lũy giống nhƣ sáp.  Giai đoạn 9: chín hoàn toàn. Hạt gạo hoàn chỉnh với nội nhũ và phôi, vỏ trấu có màu vốn có của giống (vàng, nâu, đen, tím). Giai đoạn 7-9 thuộc thời kỳ thứ 3 của cây lúa, bắt đầu từ khi lúa phơi màu đến khi hạt chín hoàn toàn kéo dài khoảng 30-35 ngày ở tất cả các giống. Theo chuyên mục “kiến thức trồng lúa” do website của Nông nghiệp và phát triển nông thôn Vĩnh Phúc[33]: Mỗi một giai đoạn phát triển của cây lúa đều liên quan mật thiết đến yếu tố cấu thành năng suất. Năng suất hạt = Số bông/m2 X Số hạt/bông X Tỉ lệ hạt chắc/bông (%) X Khối lƣợng 1.000 hạt Hầu nhƣ mỗi một yếu tố cấu thành năng suất lúa đều liên quan đến một giai đoạn phát triển cụ thể của cây lúa, mỗi một yếu tố đóng một vai trò khác nhau nhƣng đều nằm trong một hệ quả liên hoàn tạo nên hiệu suất cao nhất mà trong đó các yếu tố đều có liên quan mật thiết với nhau. Nhƣ vậy mỗi giai đoạn sinh trƣởng, phát triển đều liên quan và tạo nên năng suất hạt sau này. Vì vậy, chăm sóc, quản lý tốt ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây lúa là điều hết sức cần thiết để nâng cao hiệu suất và năng suất cây lúa. Số nhánh lúa sẽ quyết định số bông và đó cũng là yếu tố quan trọng nhất để có năng suất cao. Có thể nói số bông đóng góp trên 70% năng suất, trong khi đó số hạt/bông, số hạt chắc/bông và trọng lƣợng hạt đóng góp gần 30%. Theo Nguyêñ Hƣ̃u Tề và côṇ g sƣ ̣[6], Số bông/đơn vị diện tích hình thành bởi 3 yếu tố: mật độ cấy, số nhánh, điều kiện ngoại cảnh và yếu tố kỹ thuật (nhƣ phân bón, nhiệt độ, ánh sáng...). Số hạt/bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, số hoa phân hóa cũng nhƣ số hoa thoái hóa . Toàn bộ quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trƣởng sinh thực. Và số gié, số hoa phân hóa đƣ ợc quyết định ngay từ thời kỳ đầu của giai đoaṇ làm đòng (bƣớc 1-3). Thời kỳ này bị ảnh hƣởng bởi sinh trƣởng của cây lúa và điều kiện ngoại cảnh, các yếu tố này cũng ảnh hƣởng trực tiếp đến sự thoái hóa hoa. Thời kỳ thoái hóa hoa thƣờng bắt đầu vào bƣớc 4 đến bƣớc 8 của giai đoạn làm đòng t ức là khoảng 10-12 ngày trƣớc trỗ. Nguyên nhân chủ yếu do thiếu dinh dƣỡng ở thời kỳ làm 14 đòng hoặc do ngoại cảnh bất thuận nhƣ trời rét, âm u, thiếu ánh sáng, bị ngập, hạn, sâu bệnh... ngoài ra cũng có nguyên nhân do đặc điểm của một số giống. Tỉ lệ hạt chắc/bông (%): tăng tỉ lệ hạt chắc/bông hay nói cách khác là giảm tỉ lệ hạt lép/bông cũng là yếu tố quan trọng quyết định năng suất lúa. Tỉ lệ hạt chắc trên bông đƣợc quyết định ở thời kỳ trƣớc và sau trỗ, nếu gặp điều kiện bất thuận trong thời kỳ này thì tỉ lệ lép sẽ cao. Tỉ lệ hạt lép/bông không chỉ bị ảnh hƣởng của các yếu tố nói trên mà còn bị ảnh hƣởng bởi đặc điểm của giống. Thƣờng tỉ lệ hạt lép biến động tƣơng đối lớn, trung bình từ 5-10 %, ít là 2-5 %, cũng có khi trên 30 % hoặc thậm chí còn cao hơn nữa. Từ những phân tích trên, ta thấy rõ những yếu tố ngoại cảnh bất thuận do thời tiết ảnh hƣởng lớn đến năng suất lúa. Đặc biệt, những yếu tố ngoại cảnh này sẽ ảnh hƣởng rõ rệt trong các giai đoạn phát triển của cây lúa: giai đoạn làm đòng; giai đoạn lúa trỗ. Theo Shouichi Yoshida [29], nhiệt độ, bức xạ mặt trời, lƣợng mƣa ảnh hƣởng trực tiếp bằng việc tác động đến quá trình sinh lý liên quan đến sản lƣợng lƣơng thực, và gián tiếp thông qua các bệnh và côn trùng. Các yếu tố này thƣờng khó tách biệt với nhau. Từ phƣơng pháp điều tra thực địa và phƣơng pháp điều tra xã hội học, tác giả thu thập đƣợc thông tin về thời gian canh tác hai vụ sản xuất lúa chính của địa phƣơng: vụ chiêm bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 6 hàng năm, vụ mùa từ tháng 7 đến 10. Hình 1.3. Phân bố các vụ lúa tại 3 miền trong cả nước (Nguồn: [35]) 15 Hình 1.4. So sánh 3 giai đoạn sinh trưởng của cây lúa có thời gian sinh trưởng khác nhau (Nguồn:Nguyễn Ngọc Đệ,[7]) Theo Nguyễn Ngọc Đệ [7], quá trình sinh trƣởng và phát triển của cây lúa đƣợc chia theo các giai đoạn sau:  Giai đoạn tăng trƣởng: bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng. Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới. Thời gian sinh trƣởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu là do giai đoạn tăng trƣởng này dài hay ngắn. 16  Giai đoạn sinh sản: bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trỗ bông. Giai đoạn này kéo dài khoảng 27 – 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thƣờng không khác nhau nhiều.  Giai đoạn lúa chín: bắt đầu từ lúc trỗ bông đến lúc thu hoạch. Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới. Theo Shouichi Yoshida (1981)[29], thời gian sinh trƣởng của cây lúa chia làm 2 giai đoạn chính là sinh trƣởng dinh dƣỡng và sinh trƣởng sinh thực. Tuy nhiên, có thể chia thành 3 giai đoạn là sinh trƣởng dinh dƣỡng, sinh thực và chín. Thời gian sinh trƣởng của cây lúa thƣờng chiếm từ 90 – 180 ngày từ khi nảy mầm cho đến khi chín, thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào giống và môi trƣờng sinh trƣởng. Trong điều kiện nhiệt đới, giai đoạn sinh trƣởng sinh thực (thời kỳ làm đòng) cần khoảng 30 ngày, thời kỳ chín chiếm 30 ngày và thời gian còn lại dành cho giai đoạn sinh trƣởng dinh dƣỡng. Từ việc xác định chính xác thời vụ dựa vào quy trình sinh trƣởng phát triển của cây lúa thông qua các tài liệu nghiên cứu khoa học đã đƣợc dẫn chứng nêu trên và điều tra thực địa giúp tác giả xác định đƣợc các khoảng thời gian trong các giai đoạn sinh trƣởng phát triển của cây lúa tại xã Vinh Quang nhƣ sau: Bảng 1.2. Các giai đoạn phát triển của cây lúa trong từng vụ canh tác Giai đoạn gieo mạ Giai đoạn làm đòng Giai đoạn lúa trỗ Giai đoạn thu hoạch Vụ xuân Tháng 2 Tháng 3, tháng 4 Tháng 5, tháng 6 Tháng 6 Vụ mùa Tháng 7 Tháng 8, tháng 9 Tháng 9, tháng 10 Tháng 10 Theo TS. Nguyễn Ích Tân [13], điều kiện ngoại cảnh tác động lên cây lúa bao gồm:  Nhiệt độ: cây lúa là cây ƣa nóng nên sinh trƣởng, ra hoa, kết quả tốt trong điều kiện nhiệt độ trên 20oC. Tuy nhiên, tùy giai đoạn sinh trƣởng, phát triển cây lúa yêu cầu nhiệt độ khác nhau. Thời kỳ sinh trƣởng dinh dƣỡng nhiệt độ thích hợp 28- 32 o C. Thời kỳ sinh trƣởng sinh thực nhiệt độ thích hợp là 24-28oC. khi nhiệt độ > 40oC làm hạt phấn chết hoặc ngừng phân hóa. Nếu nhiệt độ < 20oC làm hạt lúa bị lép nhiều. Phản ứng của cây lúa với điều kiện nhiệt độ thể hiện ở bảng sau: 17 Bảng 1.3. Phản ứng của cây lúa trong từng giai đoạn với điều kiện nhiệt độ Giai đoạn sinh trƣởng Nhiệt độ tới hạn (oC) Thấp Cao Tối thích Nảy mầm 10 45 20-35 Mọc thành cây mạ 12-13 35 25-30 Ra rễ 16 35 25-28 Vƣơn lá 7-12 45 31 Đẻ nhánh 9-16 33 25-31 Bắt đầu phân hóa đòng 15 33 25-31 Phân hóa bông 15-20 38 25-31 Nở hoa 22 35 30-33 Chín 12-18 30 20-25 Nguồn: Shouichi Yoshida -1981[29]  Ánh sáng: cƣờng độ ánh sáng thích hợp cho cây lúa 500-600 calo/cm2/ngày. Miền Bắc tháng 4-6, tháng 8-10 là thích hợp. Chất lƣợng ánh sáng phụ thuộc vào độ dài bƣớc sóng của ánh sáng và quần thể ruộng lúa.  Nƣớc: cây lúa yêu cầu lƣợng nƣớc lớn trong quá trình sinh trƣởng, phát triển và tạo năng suất. Từng giai đoạn khác nhau cây lúa yêu cầu lƣợng nƣớc khác nhau. Trong quá trình sinh trƣởng, phát triển của cây lúa có 2 giai đoạn cần nhiều nƣớc: từ khi cấy đến khi đẻ nhánh và từ phân hóa đòng đến chín sáp. Theo Nguyễn Việt Long [9], nƣớc là thành phần chính của cây lúa, điều tiết các quá trình sinh trƣởng phát triển, giúp quá trình vận chuyển, làm mát cây và làm cho cây cứng chắc. Một vụ lúa cần lƣợng mƣa 900-1100mm. Việc tƣới nƣớc đủ cho lúa là một việc làm bắt buộc thƣờng xuyên khi thâm canh. Nếu thiếu hụt nƣớc vào giai đoạn sinh trƣởng dinh dƣỡng có thể làm giảm chiều cao cây, số nhánh và diện tích lá nhƣng năng suất không bị ảnh hƣởng nếu nhƣ nhu cầu nƣớc đƣợc đáp ứng kịp thời; tuy nhiên, nếu thiếu nƣớc giai đoạn phân bào giảm nhiễm đến trỗ bông (nhất là vào thời gian 11 ngày và 3 ngày trƣớc trỗ bông) chỉ cần hạn 3 ngày đã làm giảm năng suất rất nghiêm trọng và tỷ lệ hạt lép cao. (Shouichi Yoshida, 1981)[29]. Trong điều kiện thủy lợi chƣa hoàn chỉnh, lƣợng mƣa là một trong những yếu tố khí hậu có tính quyết định đến việc hình thành các vùng trồng lúa và các vụ lúa trong năm. Nếu lƣợng mƣa phân phối không đều, gây ngập úng giữa mùa mƣa ở nhiều nơi, 18 mùa khô lại không đủ nƣớc tƣới. Ngay trong mùa mƣa, đôi khi lại có khoảng thời gian nắng kéo dài làm trở ngại cho sinh trƣởng của cây lúa. Nếu công tác thủy lợi đƣợc thực hiện tốt, ruộng lúa chủ động nƣớc thì mƣa không có lợi cho sự gia tăng năng suất lúa. Ngƣợc lại, mƣa nhiều, gió to, trời âm u, bão đến thất thƣờng, ít nắng, cây lúa sẽ phát triển không thuận lợi. Mƣa kéo dài còn tạo điều kiện ẩm độ thích hợp cho sâu bệnh phát triển làm hại lúa. Ở giai đoạn làm đòng và trỗ, gió mạnh ảnh hƣởng xấu đến quá trình hình thành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông, sự thụ phấn, thụ tinh và chất khô trong hạt bị trở ngại làm tăng tỷ lệ hạt lép, làm giảm năng suất lúa.(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)[7] Bảng 1.4. Yêu cầu nước qua từng thời kỳ sinh trưởng (Nguyễn Việt Long, 2013)[9] Thời kỳ nảy mầm Cần lƣợng nƣớc 25-28% so với trọng lƣợng của hạt Thời kỳ mạ Sau gieo đến mũi chông giữ ẩm thƣờng xuyên, thời kỳ 3-4 lá giữ một lớp nƣớc 4- 5 cm Thời kỳ trên ruộng lúa Giữ một lớp nƣớc thƣờng xuyên 5-10 cm trên mặt ruộng Theo Shouichi Yoshida [29], từ quan điểm là một nhà sinh lý học cây trồng, thời vụ, năng suất và sự ổn định là những khía cạnh quan trọng trong việc trồng lúa, yếu tố khí hậu ảnh hƣởng đến các khía cạnh đó theo những con đƣờng khác nhau. Cũng theo Yoshida, nhiệt độ ảnh hƣởng rất lớn đến sinh trƣởng phát triển của cây lúa. Nhiệt độ lạnh làm ảnh hƣởng đến sức nảy mầm, mạ ra lá chậm, mạ lùn, lá vàng, đỉnh bông bị thoái hóa, độ thoát cổ bông kém, chậm ra hoa, tỷ lệ lép cao và chín không đều. Cây lúa rất mẫn cảm với nhiệt độ cao lúc trỗ bông, khi gặp nhiệt độ trên 35 oC kéo dài hơn 1 giờ vào lúc lúa nở hoa làm cho tỷ lệ hạt lép tăng rõ rệt. 1.2.2. Tổng quan về tác động của BĐKH và các mô hình thích ứng trong lĩnh vực an ninh lương thực trên thế giới Ngày 10/3/2016, Hội nghị lần thứ 33 của Tổ chức Lƣơng thực nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng tổ chức tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Putrajaya của Malaysia nhằm tăng cƣờng an ninh lƣơng thực, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp bền vững. Phó Thủ tƣớng Malaysia 19 Ahmad Zahid Hamidi nhấn mạnh an ninh lƣơng thực cũng quan trọng nhƣ an ninh quốc gia, đồng thời nêu ra ba biện pháp để đảm bảo an ninh lƣơng thực trong khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng, bao gồm kích thích đầu tƣ tƣ nhân vào nông nghiệp, giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu với phát triển nông nghiệp bền vững, và xóa đói giảm nghèo bằng cách sử dụng đa dạng sinh học.Tổng Giám đốc FAO José Graziano da Silva nêu nội dung hội nghị: phản ánh mối quan tâm chung làm thế nào để giải quyết thách thức trong tƣơng lai hƣớng tới mục tiêu chấm dứt tình trạng đói nghèo trong 15 năm tới theo Chƣơng trình nghị sự Phát triển bền vững 2030. Theo IPCC,2014 [27] giới thiệu kịch bản BĐKH, nƣớc biển dâng có đánh giá: Tốc độ BĐKH gia tăng theo hƣớng cực đoan hơn so với các đánh giá trƣớc đây, đặc biệt là các hiện tƣợng cực đoan liên quan đến nhiệt độ cao gia tăng mạnh mẽ. Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên rõ rệt, tốc độ tăng cao lên so với trƣớc đó. Lƣợng mƣa cũng thay đổi rõ rệt, có một số vùng lƣợng mƣa tăng, một số vùng giảm, biểu hiện rõ rệt trong 30 năm trở lại đây. Nhƣ vậy sự thay đổi lƣợng mƣa ở quy mô toàn cầu diễn ra mạnh mẽ hơn so với trƣớc đây. BĐKH sẽ gây ảnh hƣởng lớn đối với sản xuất nông nghiệp ở các vùng sinh thái. Nhiều nghiên cứu đã bắt đầu từ các thành phần khí hậu và chủ yếu xuất phát từ sự ấm lên của trái đất (Stern, 2005) [28]. Các nghiên cứu này thể hiện ở các khía cạnh sau:  Nhiệt độ tăng sẽ ảnh hƣởng đến khả năng phát sinh, phát triển của cây trồng, vật nuôi làm cho thay đổi về năng suất và sản lƣợng;  Nhiệt độ tăng làm cho suy giảm tài nguyên nƣớc, nhiều vùng không có nƣớc và không thể tiếp tục canh tác làm cho diện tích canh tác bị suy giảm;  Nhiệt độ tăng làm cho băng tan, dẫn đến nhiều vùng đất bị xâm lấn và ngập mặn và không thể tiếp tục canh tác các loại cây trồng hoặc làm giảm năng suất;  Thay đổi về các điều kiện khí hậu sẽ làm suy giảm đa dạng sinh học, làm mất cân bằng sinh thái và ảnh hƣởng đến sinh trƣởng phát triển cây trồng và phát sinh dịch bệnh;  Các hiện tƣợng thời tiết cực đoan, không theo quy luật nhƣ bão sớm, muộn, mƣa không đúng mùa sẽ gây khó khăn cho bố trí cơ cấu mùa vụ và gây thiệt hại,.. Cuốn sách “Phân tích khả năng bị tổn thƣơng và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu – CARE International” [22] do Do Angie Dazé, Kaia Ambrose và Charles Ehrhart biên soạn. GS. Robert Chambers, viện sĩ thông tấn, viện Nghiên cứu Phát 20 Triển, Đại học Sussex, Vƣơng Quốc Anh đã phát biểu về cuốn sách nhƣ sau: Cuốn sách trình bày phƣơng pháp luận mới về việc phân tích khả năng bị tổn thƣơng và năng lực thích ứng với khí hậu. Cuốn sách nhấn mạnh cộng đồng là không đồng nhất, những ngƣời ít có khả năng thích ứng sẽ có nguy cơ cao hơn. Cuốn sách cũng đƣa ra phân tích khả năng bị tổn thƣơng và năng lực thích ứng của chính những thành viên của cộng đồng. Cuốn sách áp dụng những giá trị, quy trình và phƣơng pháp có sự tham gia để tạo điều kiện cho ngƣời dân địa phƣơng thực hành và nâng cao kiến thức và hiểu biết của họ, và để lập kế hoạch hành động. Cuốn sách nêu lên phƣơng pháp luận Phân tích năng lực và khả năng bị tổn thƣơng (CVCA). Mục đích cơ bản của CVCA là để:  Phân tích khả năng bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu và năng lực thích ứng tại cấp độ cộng đồng.  Kết hợp kiến thức cộng đồng và dữ liệu khoa học để có đƣợc sự hiểu biết nhiều hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến địa phƣơng nghiên cứu. Trong CVCA có những điểm khác so với các phƣơng pháp tiếp cận cộng đồng khác bao gồm:  Tập trung vào biến đổi khí hậu: CVCA tập trung vào sự hiểu biết bằng cách nào biến đổi khí hậu sẽ tác động đến cuộc sống và sinh kế của nhóm đối tƣợng nghiên cứu. Nó kiểm tra những hiểm họa, khả năng bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu và năng lực thích ứng với góc độ xây dựng cách thích ứng cho tƣơng lai.  Phân tích điều kiện và hiểm họa: CVCA nỗ lực kết hợp những mô hình thực tiễn điển hình (good practice) từ những phân tích cho đến những sáng kiến phát triển theo hƣớng tập trung vào điều kiện đói nghèo và khả năng bị tổn thƣơng, và những vấn đề đƣợc thực hiện trong bối cảnh giảm nhẹ rủi ro thiên tai (DRR), theo hƣớng tập trung vào hiểm họa.  Nhấn mạnh phân tích các bên có liên quan, học tập và đối thoại hợp tác: điều này thu đƣợc sự hiểu biết lớn hơn trong các cộng đồng có đủ nguồn lực để nghiên cứu và đánh giá.  Hỗ trợ cho việc thích ứng, và có thể đẩy mạnh đối thoại giữa các bên có liên quan về các hành động thích ứng có tính khả thi.  Tập trung vàonhững cộng đồng đã kiểm tra môi trƣờng hỗ trợ: quá trình CVCA tập trung vào mức độ cộng đồng nhƣng kết hợp phân tích những vấn đề ở cấp 21 vùng và quốc gia trong một nỗ lực để thúc đẩy một môi trƣờng hỗ trợ cho sự thích ứng dựa vào cộng đồng. Trong cuốn sách cũng nêu ra các định nghĩa cụ thể về “năng lực thích ứng”, “thích ứng với biến đổi khí hậu”, “thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA)” Quy trình của CBA liên quan đến 4 chiến lƣợc:  Đẩy mạnh chiến lƣợc sinh kế chống chịu với khí hậu trong sự kết hợp với đa dạng hóa thu nhập và nâng cao năng lực cho quy hoạch và quản lý rủi ro;  Chiến lƣợc giảm nhẹ rủi ro thiên tai nhằm giảm tác động của hiểm họa, đặc biệt lên những hộ gia đình và cá nhân có khả năng bị tổn thƣơng;  Xây dựng năng lực cho xã hội ngƣời dân địa phƣơng và các cơ quan chính phủ sao cho họ có thể hỗ trợ tốt hơn cho cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân trong nỗ lực thích ứng của họ;  Tuyên truyền và vận động xã hội để đề cập đến những nguyên nhân tiềm ẩn của khả năng bị tổn thƣơng, chẳng hạn nhƣ quản trị kém, thiếu sự kiểm soát đối với các nguồn lực, hoặc tiếp cận hạn chế tới các dịch vụ cơ bản. Nghiên cứu: “Adaptation strategies for agricultural water management under climate change in Europe” của hai tác giả Ana Iglesias – khoa kinh tế nông nghiệp và xã hội học, đại học Bách Khoa Tây Ban Nha cùng đồng tác giả Luis Garrote – Khoa xây dựng, đại học Bách Khoa Tây Ban Nha đã đƣợc đăng trên tạp chí “Agricultural water management,155/2015”[21] đã nêu lên tầm quan trọng của nguồn nƣớc trong sự phát triển nông nghiệp trên thế giới nói chung cũng nhƣ Châu Âu nói riêng. Đặc biệt, trong bối cảnh BĐKH hiện nay, việc quản lý nguồn nƣớc ngày càng trở nên phức tạp. Những thách thức của BĐKH sẽ phải đƣợc đối phó thông qua sự thích nghi. Khi nhu cầu nguồn nƣớc trong nông nghiệp vô cùng thiết yếu thì việc lựa chọn các biện pháp thích nghi cũng nhƣ yêu cầu quản lý nguồn nƣớc tổng hợp các yếu tố về kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội đồng bộ và toàn diện hơn. Nhu cầu nƣớc nông nghiệp phải đƣợc cung cấp trong bối cảnh nguồn nƣớc suy giảm do tác động của môi trƣờng, tăng trƣởng dân số, phát triển kinh tế và thay đổi toàn cầu. Sự thích nghi đƣợc thể hiện qua việc quản lý nƣớc trong nông nghiệp liên quan không chỉ quản lý tài nguyên nƣớc truyền thống mà còn để quản lý sản xuất lƣơng thực, phát triển nông thôn và tài nguyên thiên nhiên. Nghiên cứu tập trung vào các nội dung sau: 22  Trình tự logic từ đánh giá về BĐKH, rủi ro và cơ hội;  Xác định các giải pháp thích ứng;  Tổng hợp đánh giá 168 các nghiên cứu, tài liệu sẵn có từ năm 1999-2014 bao gồm các bài báo, ấn phẩm trích dẫn trong các tạp chí, báo cáo của World Bank, Liên Hợp Quốc, Ủy Ban Châu Âu, cơ quan Môi trƣờng Châu Âu và OEDC, các dự báo về BĐKH, tác động đến nhu cầu nƣớc trong nông nghiệp, đáp ứng tiềm năng để khắc phục những tác động tiêu cực;  Xác định đối tƣợng thích hợp nhất để đánh giá hiệu quả tác động của BĐKH lên đối tƣợng đã xác định. Nghiên cứu nêu lên các giải pháp thích ứng, đặc biệt các giải pháp đƣợc áp dụng tại Hà Lan. Xác định các khoảng thời gian cần thiết để thực hiện các biện pháp thích ứng. Nhiều sự thích nghi có thể đƣợc thực hiện nhanh chóng một cách cá nhân để đáp ứng tình trạng khan hiếm nƣớc nhƣ việc thay thế nguồn nƣớc. Với phƣơng pháp này có thể thực hiện từ 1-5 năm. Ngƣợc lại, đối với các biện pháp nhƣ thay đổi chính sách, đầu tƣ cơ sở hạ tầng quy mô lớn đòi hỏi sự hợp tác của nhiều ngành và địa phƣơng, thời gian cho sự thích ứng này có thể tính trên 10 năm, chẳng hạn việc xây dựng và quản lý các hồ chứa nhỏ tại khu vực đất nông nghiệp. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn nêu lên những hạn chế khi đánh giá các phƣơng pháp thích ứng nhƣ việc sử dụng các dữ liệu để đánh giá tác động đƣợc lấy từ một phạm vi rất rộng hoặc ở khu vực địa phƣơng nhỏ, nguồn dữ liệu hạn chế, khó thu thập chính xác, các nguồn dữ liệu có thể mâu thuẫn trong quá trình đánh giá. Tuy nhiên, bằng cách dựa vào các phƣơng pháp tiêu chuẩn đƣợc chấp nhận rộng rãi, sử dụng các công bố đánh giá trong các đề tài, luận văn, nghiên cứu đã tổng hợp các thông tin hợp lệ, đánh giá sơ bộ về sự phù hợp các biện pháp thích ứng (các thuộc tính của sự thích ứng, tiêu chí, đánh giá). Bộ tài liệu: “Biến đổi khí hậu và an ninh lƣơng thực” do Tổ chức Lƣơng thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, FAO, Rome, 2008 [24] ấn phẩm này đƣợc biên soạn bởi nhiều thành viên của nhóm liên ngành FAO’s Interdepartmental Working Group (IDWG) về biến đổi khí hậu, dƣới sự chủ trì của Wulf Killmann – chủ tịch nhóm công tác liên ngành Biến Đổi Khí Hậu. Tài liệu này cung cấp các thông tin cơ bản về mối tƣơng quan giữa BĐKH và an ninh lƣơng thực, cách đối phó với các mối đe dọa mới. Bên cạnh đó, tài liệu còn nêu lên những cơ hội cho ngành nông nghiệp để thích ứng, cùng việc mô tả làm thế nào có thể góp phần giảm thiểu các thách thức khí hậu. 23 Bộ tài liệu đƣợc chia làm 4 chƣơng chính với nội dung của từng chƣơng nhƣ sau:  Chƣơng 1: Định nghĩa các thuật ngữ quan trọng – thảo luận mối quan hệ của các tác động có thể có của biến đổi khí hậu với hiệu suất của hệ thống lƣơng thực, dẫn đến kết quả của an ninh lƣơng thực.  Chƣơng 2 – chƣơng 3: Cung cấp chi tiết các lựa chọn về thích ứng và giảm nhẹ cho các lĩnh vực lƣơng thực và nông nghiệp.  Chƣơng 4: Mô tả các thiết lập thể chế cho việc hành động để giảm thiểu và thích ứng với BĐKH, rút ra kết luận cho hành động tiếp theo của FAO và cộng đồng quốc tế. Các tác động đến an ninh lƣơng thực do BĐKH trong mô hình sản xuất nông nghiệp đƣợc chia làm hai loại:  Tác động đối với việc sản xuất lƣơng thực sẽ ảnh hƣởng đến nguồn cung cấp lƣơng thực, thực phẩm trên toàn cầu và cho từng địa phƣơng cụ thể. Trên toàn cầu, sản lƣợng lƣơng thực cao hơn ở các vùng ôn đới có thể bù đắp sản lƣợng thấp hơn ở các vùng nhiệt đới. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia có thu nhập thấp với khả năng tài chính hạn chế và sự phụ thuộc cao vào việc sản xuất của mình để trang trải nhu cầu lƣơng thực trong nƣớc, nó có thể không đảm bảo bù đắp đƣợc sự sụt giảm nguồn cung trong nƣớc, làm tăng sự phụ thuộc vào viện trợ lƣơng thực. (FAO,2008)[24]  Tác động với tất cả cả loại hình sản xuất nông nghiệp sẽ ảnh hƣởng đến sinh kế và tiếp cận lƣơng thực. Nhóm sản xuất mà ít có khả năng đối phó với BĐKH nhƣ những ngƣời nghèo nông thôn ở các nƣớc đang phát triển, nguy cơ an toàn và phúc lợi của họ sẽ bị tổn hại. Tác động tiềm tàng của BĐKH đối với việc sử dụng lƣơng thực:  Giá trị dinh dƣỡng: mất an ninh lƣơng thực thƣờng gắn liền với suy dinh dƣỡng, vì chế độ ăn của những ngƣời không có khả năng đáp ứng tất cả các thực phẩm họ cần thƣờng chứa một tỷ lệ cao các loại lƣơng thực và thiếu sự đa dạng cần thiết để đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng.  Tính ổn định của nguồn cung cấp: nhiều loại cây trồng có chu kỳ hàng năm, và sản lƣợng dao động với biến đổi khí hậu, đặc biệt là lƣợng mƣa và nhiệt độ. Duy trì sự liên tục của nguồn cun

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf01050003451_1_6524_2002747.pdf
Tài liệu liên quan