Tiểu luận Vai trò tài chính công của Việt Nam từ năm 2008 đến 2010

MỤC LỤC

I.Khái quát về vai trò của tài chính công 3

1. Tài chính công là gì? 3

2. Đặc điểm của tài chính công. 3

3. Vai trò của tài chính công. 4

3.1. Đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước. 4

3.2. Điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội 6

a) Kinh tế. 6

b) Xã hội. 7

II.Vai trò của tài chính công ở Việt Nam từ năm 2008 – 2010 9

1. Đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước 9

2. Điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội. 12

a) Kinh tế 12

b) Xã hội. 18

III. Hạn chế của tài chính công ở Việt Nam. 30

IV. Kết luận 34

 

 

doc36 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Lượt xem: 6335 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tiểu luận Vai trò tài chính công của Việt Nam từ năm 2008 đến 2010, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ày càng gia tăng. Vậy vấn đề đặt ra là Chính Phủ sử dụng tài chính công thông qua những hình thức nào để thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Quốc phòng là một ví dụ về vai trò không thể loại bỏ được của chính phủ - tài chính công. Tại sao? Bởi vì việc phòng thủ cho một quốc gia là một dạng hàng hóa hoàn toàn khác biệt so với cam, máy vi tính hay nhà ở: con người không thể thanh toán cho từng đơn vị hàng hóa mà họ sử dụng mà phải mua một tổng thể cho toàn bộ quốc gia. Cung cấp dịch vụ quốc phòng cho một cá nhân không có nghĩa là những người khác ít được bảo vệ hơn, bởi vì trên thực tế tất cả mọi người đều tiêu thụ các dịch vụ quốc phòng này cùng nhau. Trên thực tế thì dịch vụ quốc phòng được cung cấp cho tất cả dân chúng trong một quốc gia kể cả những người không muốn dịch vụ này, bởi vì không có một cách làm hiệu quả nào khác. Chỉ có các quốc gia chứ không phải là các làng xã hay các cá nhân có thể có đủ nguồn lực để sản xuất máy bay chiến đấu phản lực. Loại hình hàng hóa này gọi là hàng hóa công cộng, bởi vì không một doanh nghiệp tư nhân nào có thể bán dịch vụ quốc phòng cho các công dân của một quốc gia mà vẫn duy trì được hoạt động kinh doanh. Nó chỉ đơn giản là không thể bán dịch vụ quốc phòng cho những người cần và không bảo vệ những người từ chối thanh toán dịch vụ đó. Và nếu những người này vẫn được bảo vệ mà không phải trả tiền thì tại sao họ phải chọn cách thanh toán? Điều này được coi là vấn đề "kẻ ăn không", và đó là lý do chính giải thích vì sao chính phủ phải điều hành quốc phòng và dùng thuế để chi cho quốc phòng. Không có nhiều hàng hóa công cộng thực sự - những hàng hóa nhiều người có thể cùng sử dụng và là đối tượng của vấn đề kẻ ăn không - do đó hầu hết các hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế thị trường đều có thể được các công ty tư nhân sản xuất và bán trong các thị trường tư nhân. Các ví dụ khác về hàng hóa công cộng có thể kể đến là chương trình kiểm soát lũ lụt và sâu bọ, và thậm chí cả băng tần sóng phát thanh và truyền hình được phát sóng rộng rãi trong không trung. Mỗi hàng hóa này đều có thể được nhiều người tiêu dùng sử dụng cùng lúc, và cũng là đối tượng để những kẻ ăn không hưởng thụ, ít nhất ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, với sóng phát thanh và truyền hình, các chương trình có thể được các cá nhân sản xuất và thu lợi bằng cách bán thời gian phát sóng cho quảng cáo. Hoặc trong một vài trường hợp khác, các tín hiệu phát sóng hiện đã được đổi tần số điện tử để các công ty tư nhân có thể kiếm tiền bằng cách cho thuê các thiết bị giải mã cho những người muốn xem các chương trình này. Tài chính công còn được sử dụng để kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế xã hội từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành của nhà nước. Từ các hoạt động này tài chính công đã tạo ra nguồn tài chính một cách kịp thời để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên của nhà nước giúp cho bộ máy nhà nước được vận hành hiệu quả. Điều tiết vĩ mô các hoạt động kinh tế - xã hội. Kinh tế. Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững. Trong giai đoạn 2008 – 2010, tài chính công đã phát huy vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội. Công cụ thuế suất với các mức thuế khác nhau đối với từng loại sản phẩm, ngành nghề, vùng lãnh thổ, tài chính công có vai trò định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế, kích thích hoặc hạn chế phát triển sản xuất kinh doanh theo từng loại sản phẩm. Thực hiện chiến lược, hệ thống chính sách thuế được sửa đổi, bổ sung đã góp phần đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng khá, bình quân 7% năm. Quy mô thu ngân sách nhà nước (NSNN) giai đoạn 2006 - 2010 tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2001 - 2005. Tỷ lệ động viên thu ngân NSNN bình quân đạt 23% GDP (không bao gồm yếu tố tăng giá, do giá dầu thô ở mức cao và thu từ đất đai) so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đặt ra là 21 - 22% GDP, trong đó động viên từ thuế và phí vào ngân sách nhà nước bình quân đạt 22% GDP so với mục tiêu Chiến lược cải cách hệ thống đến năm 2010 đặt ra là 20 - 21% GDP. Tốc độ tăng thu từ thuế, phí và lệ phí vào NSNN bình quân hàng năm đạt 19,6%. Cơ cấu thu NSNN được cải thiện theo chiều hướng tích cực đảm bảo tính ổn định, bền vững, nguồn thu từ sản xuất kinh doanh trong nước tăng dần qua các năm và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu NSNN, năm 2006 tỷ trọng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) trong tổng thu NSNN là 52% thì đến năm 2010 đã tăng lên 63,4%. Có thể thấy rằng, sau 5 năm thực hiện, hệ thống chính sách thuế đã được xây dựng đổng bộ có cơ cấu hợp lý bao quát hầu hết các nguồn thu, thực sự trở thành công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo hướng khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay là 25%. Thuế tiêu thụ đặc biệt với các mức thuế khác nhau tùy thuộc vào từng loại hàng hóa. BIỂU THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT STT Hàng hoá, dịch vụ Thuế suất (%) I Hàng hoá 1 Thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá 65 2 Rượu a) Rượu từ 20 độ trở lên: Từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012 45 Từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 50 b) Rượu dưới 20 độ 25 3 Bia Từ  ngày 01 tháng 01 năm 2010 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2012 45 Từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 50 4 Xe ô tô dưới 24 chỗ a) Xe ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống, trừ loại quy định tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này”: Loại có dung tích xi lanh từ 2.000 cm3 trở xuống 45 Loại có dung tích xi lanh trên 2.000 cm3 đến 3.000 cm3 50 Loại có dung tích xi lanh trên 3.000 cm3       60 b) Xe ô tô chở người từ 10 đến dưới 16 chỗ, trừ loại quy định tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này    30 c) Xe ô tô chở người từ 16 đến dưới 24 chỗ, trừ loại quy định tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này 15 d) Xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng, trừ loại quy định tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này 15 đ) Xe ô tô chạy bằng xăng kết hợp năng lượng điện, năng lượng sinh học, trong đó tỷ trọng xăng sử dụng không quá 70% số năng lượng sử dụng. Bằng 70% mức thuế suất áp dụng cho xe cùng loại quy định tại điểm 4a, 4b, 4c và 4d Điều này e) Xe ô tô chạy bằng năng lượng sinh học Bằng 50% mức thuế suất áp dụng cho xe cùng loại quy định tại điểm 4a, 4b, 4c và 4d  Điều này g) Xe ô tô chạy bằng điện Loại chở người từ 9 chỗ trở xuống 25 Loại chở người từ 10 đến dưới 16 chỗ 15 Loại chở người từ 16 đến dưới 24 chỗ 10 Loại thiết kế vừa chở người, vừa chở hàng 10 5 Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3 20 6 Tàu bay 30 7 Du thuyền 30 8 Xăng các loại, nap-ta, chế phẩm tái hợp và các chế phẩm khác để pha chế xăng 10 9 Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống 10 10 Bài lá 40 11 Vàng mã, hàng mã 70 II Dịch vụ 1 Kinh doanh vũ trường 40 2 Kinh doanh mát-xa, ka-ra-ô-kê 30 3 Kinh doanh ca-si-nô, trò chơi điện tử có thưởng 30 4 Kinh doanh đặt cược 30 5 Kinh doanh gôn 20 6 Kinh doanh xổ số 15 + Thúc đầy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững Định hướng đầu tư điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế kích thích hoặc hạn chế phát triển sản xuất: tình hình phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách Nhà nước, giai đoạn 2007 – 2010: Cụ thể, từ mức 51,7% năm 2007, mức chi đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực kinh tế so với tổng chi đầu tư phát triển trong năm 2010 đã giảm xuống 46,3%... Đây là tín hiệu đáng mừng vì giảm đầu tư từ ngân sách vào kinh tế thực chất là điều tiết bớt “rót” tiền ngân sách vào các đơn vị kinh tế thuộc sở hữu nhà nước - vốn có tỷ lệ đóng góp cho ngân sách chưa tương xứng với tỷ trọng đầu tư từ ngân sách. Tuy nhiên, riêng các ngành giao thông, nông, lâm ngư nghiệp vẫn được ưu tiên đầu tư từ ngân sách để hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng yếu kém. Từ mức 18% năm 2007, đầu tư cho nông, lâm, ngư nghiệp và thủy lợi đã tăng lên, chiếm 20,5% trong tổng chi đầu tư phát triển năm 2010. Tỷ trọng đầu tư cho giao thông vận tải cũng tăng từ 21% lên 22,6%. Trái với kinh tế, tỷ trọng chi đầu tư phát triển cho lĩnh vực xã hội đã tăng từ 43,4% năm 2007 lên 49,1% năm 2010. Trong đó, giáo dục và đào tạo tăng từ 12,2% lên 17,4%. Cũng trong giai đoạn 2007 - 2010, theo phân cấp, tỷ trọng đầu tư do địa phương quản lý đã tăng từ 60,8% lên 69,8%. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý được hình thành từ nguồn đầu tư trong cân đối của các địa phương và các khoản hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương. Theo đánh giá của Chính phủ, mặc dù nguồn vốn đầu tư trong cân đối của các địa phương đã tăng trên 14% trong cả thời kỳ, song tốc độ tăng vốn đầu tư không đồng đều. Nếu tính cả số đầu tư từ nguồn thu sử dụng đất, tỷ trọng đầu tư theo cân đối của các tỉnh có nguồn thu thấp theo xu hướng giảm dần. + Công cụ chi tiêu tài chính công, với việc phân bổ nguồn tài chính cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào các ngành then chốt, các công trình mũi nhọn, hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế trong các trường hợp cần thiết. Về vấn đề trợ cấp giá xăng dầu: Trước đây, chính phủ thường có chính sách trợ cấp giá xăng dầu. Nhưng từ nhiều năm gần đây, Chính phủ đã xác định việc xóa bỏ trợ giá xăng dầu. Đặc biệt từ năm 2008 các biện pháp kiên quyết mới được áp dụng. Trợ giá đã trở nên gánh nặng quá sức cho ngân sách, những bất công bằng của trợ giá ngày càng hiện rõ, và những hậu quả của trợ giá đang làm cho hiệu quả kinh doanh bị biến dạng. Khoản trợ giá hàng chục ngàn tỉ đồng mỗi năm là một gánh nặng lớn đối với ngân sách quốc gia, trong khi đó người được hưởng trợ giá nhiều lại không phải là những người thu nhập thấp. Hãy giả định, một người sử dụng xe gắn máy hàng tháng chi 200.000 đồng tiền xăng, còn một người dùng xe hơi hàng tháng chi 2 triệu đồng tiền xăng. Với mức trợ giá 20%, người dùng xe máy mỗi tháng được trợ giá 40.000 đồng, còn người dùng xe hơi mỗi tháng được trợ giá 400.000 đồng. Biện pháp bỏ trợ giá xăng dầu sẽ giải phóng hàng chục ngàn tỉ đồng ngân sách để chi vào những chương trình mà người nghèo được hưởng nhiều hơn, hoặc ít nhất cũng được hưởng một cách công bằng hơn. Tài chính công với vai trò ổn định kinh tế vĩ mô Cùng với việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng tài chính công còn có vai trò quan trọng trong việc bình ổn kinh tế vĩ mô như: đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, duy trì việc sử dụng lao động ở tỷ lệ cao, hạn chế sự tăng giá đột ngột đồng loạt và kéo dài… Vai trò này được thực hiện thông qua các biện pháp như tạo lập và sử dụng quỹ dự trữ quốc gia, quỹ hỗ trợ việc làm điều chỉnh thuế điều chỉnh chi tiêu chính phủ, phát hành trái phiếu… Chúng ta có thể thấy vai trò này thông qua hoạt động dữ trữ quốc gia. Hoạt động dự trữ quốc gia hoàn toàn không vì mục tiêu lợi nhuận. Nó tác động đến mặt cung hoặc cầu của thị trường. Khi vào vụ mùa, người trồng lúa được mùa. Nhưng nó lại làm cho giá bán xuống thấp vì cung tăng mạnh. Chính phủ tung tiền ra mua với mức giá hợp lý để đảm bảo dự trữ và giá không rớt xuống nữa. Ngày 20-6-2008, Thủ tướng Chính phủ quyết định giao Bộ Tài chính trích 440 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2008 để mua 70.000 tấn lương thực tăng dự trữ quốc gia. Ngoài ra, theo website Chính phủ, 11 tỷ đồng từ nguồn chi sự nghiệp kinh tế năm 2008 sẽ được chi cho phí nhập và bảo quản số lương thực này. Nhờ có động thái của chính sách tài chính công mà người tiêu dùng hay người sản xuất có thể yên tâm về lợi ích của mình được đảm bảo. Khi gia nhập WTO chúng ta nhà nước đã giúp đỡ cho các doanh nghiệp bằng các bảo hộ mậu dịch thương mại, hàng rào thuế quan… để cho những doanh nghiệp nhỏ lẻ của chúng ta có thể có điều kiện tạo lập vững mạnh hơn. Có thể lấy ví dụ cụ thể khi ngành ô tô trong nước của chúng ta mới chỉ dừng lại ở lắp ráp, nhà nước đã tìm các để cho nền công nghiệp ô tô của chúng ta có thể đương đầu với ô tô ngoại nhập. Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu… đã làm cho nền công nghiệp ô tô có thể vươn vai để phát triển. Nhưng nền công nghiệp ô tô trong nước vẫn lẹt đẹt, có trách thì trách chính họ khi đã quá dựa dẫm vào cơ hội mà nhà nước dành cho. Không thể phát huy được ưu thế của mình, làm cho nền công nghiệp ô tô chưa thể phát triển với những gì mà chúng ta mong muốn chờ đợi. Hay như trong trường hợp để tạo việc làm cho người lao động chính phủ đã sử dụng quỹ hỗ trợ việc làm, hộ trợ lãi suất cho vay, hỗ trợ đào tạo nghề… Liên bộ Tài chính, Lao động-Thương binh và Xã hội vừa có thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện đề án “Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động giai đoạn 2009-2020”. Theo đó, từ ngày 24-10, người lao động sinh sống tại huyện nghèo (có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú đủ 12 tháng trở lên) được hỗ trợ kinh phí để đi xuất khẩu lao động. Cụ thể, người lao động đã tốt nghiệp từ bậc tiểu học trở lên, cần bổ túc thêm về văn hóa được hỗ trợ toàn bộ học phí, tài liệu học tập, chi phí sinh hoạt trong thời gian học. Về hỗ trợ đào tạo nghề, ngoại ngữ sẽ thực hiện theo hai mức: người dân tộc thiểu số được hỗ trợ toàn bộ kinh phí; các đối tượng khác được hỗ trợ 50%. Thông tư cũng quy định người lao động thuộc các hộ nghèo, người dân tộc thiểu số đi xuất khẩu lao động được vay vốn với lãi suất bằng 50% lãi suất cho vay hiện hành của Ngân hàng Chính sách xã hội… Với những chính sách gắn liền với tài chính công nhà nước đã phát huy vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh tế hạn chế đà suy giảm kinh tế trước các tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu trước đó và vừa qua. Dù chịu tác động bất lợi của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng Việt Nam vẫn đạt được tăng trưởng ở mức 4,5% năm 2009 và hồi phục 6,5% trong năm 2010. Xã hội. Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội Vai trò thực hiện công bằng xã hội: Để thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, chính phủ sử dụng tài chính công thông qua công cụ thuế và chi tài chính công. Thuế: Trên thực tế thì các chính phủ thông qua các chính sách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập nhằm tạo ra sự công bằng hơn trong phân phối. Đánh thuế cao đối với những người có thu nhập cao rồi hỗ trợ cho những người có thu nhập thấp thông qua các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo. Thuế trực thu mà cụ thể là thuế thu nhập cá nhân với thuế suất lũy tiến từng phần có vai trò điều tiết mạnh thu nhập của từng người có thu nhập cao và điều tiết ở mức độ hợp lý đối với các cá nhân có thu nhập trung bình. Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng góp phần điều chỉnh thu nhập của các chủ thể đầu tư thông qua thuế suất tỉ lệ cố định. Thuế gián thu có vai trò: Điều tiết thu nhập thực tế có khả năng thanh toán của dân cư bằng việc đánh thuế cao với hàng hóa dịch vụ cao cấp, đánh thuế thấp với các mặt hàng dịch vụ thiết yếu đảm bảo đời sống dân cư . Biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng với thu nhập từ tiền công, tiền lương: Bậc Thuế Phần thu nhập tính thuế/năm(triệu Đồng) Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu Đồng) Thuế Suất (%) 1 Đến 60 Đến 5 5 2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10 3 Trên 120 đến 216 Trên 10 đến 18 15 4 Trên 216 đến 384 Trên 18 đến 32 20 5 Trên 384 đến 624 Trên 32 đến 52 25 6 Trên 624 đến 960 Trên 52 đến 80 30 7 Trên 960 Trên 80 35 Trợ cấp là việc chính phủ hay bất kì một cơ quan công cộng nào cung cấp sự giúp đỡ về tài chính hoặc các nhu yếu phẩm cần thiết cho cá nhân hoặc tập thể nhằm giúp đỡ họ vượt qua khó khăn và đạt được mục tiêu an sinh xã hội. Một số loại hình trợ cấp phổ biến hiện nay: + Trợ cấp thôi việc + Trợ cấp thai sản + Trợ cấp người cao tuổi + Trợ cấp thương binh liệt sĩ + Trợ cấp mất việc Trợ giá là chính sách của nhà nước nhằm khuyến khích doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn và giữ giá cả ít biến động mạnh. + Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện tốt chính sách hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo và triển khai thực hiện ngay chính sách trợ cấp khó khăn cho các đối tượng có thu nhập thấp theo Quyết định số 471/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng; phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương quan tâm ổn định đời sống cho công nhân ở các khu kinh tế, khu công nghiệp, nơi tập trung nhiều lao động; sớm nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ để người lao động yên tâm sản xuất, bảo đảm cuộc sống trong điều kiện giá cả tăng cao, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. + Giá điện đối với hộ nghèo có thu nhập thấp thường xuyên có mức sử dụng điện không quá 50 kWh/tháng (993đ/kWh chưa có VAT) với mức hỗ trợ 30.000 đồng/hộ/tháng + Nếu trong 3 tháng liên tục, các hộ sử dụng điện vượt quá trên 155kWh, bên bán điện sẽ tự động chuyển hộ đó sang áp dụng giá điện cho hộ bình thường kể từ tháng tiếp theo với giá từ 1.242 đồng/kWh trở lên An sinh xã hội Vai trò cuả TCC ở nước ta hiện nay còn được biểu hiện rất rõ qua việc thực hiện có kết quả bảo đảm an sinh xã hội, quan tâm chăm lo cho người nghèo, các đối tượng chính sách, những vùng khó khăn; các lĩnh vực văn hóa xã hội có bước phát triển mới : + Chương trình 135 + Chương trình 134 + Chương trình 30a + Hỗ trợ người nghèo ăn tết + Hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo + Hỗ trợ lãi suất vay mua vật liệu xây dựng ở khu vực nông thôn + Xây dựng các công trình lấp nước trên các đảo có đông dân cư, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Giải quyết các vấn đề xã hội: Để giải quyết các vấn đề xã hội tài chính công thông qua việc tài trợ cho phát triển các dịch vụ công cộng thuộc các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, đặc biệt là tài trợ cho các chương trình chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, phòng chống các tệ nạn xã hội, hỗ trợ tài chính cho giải quyết việc làm. Dân số : Tình trạng dân số nước ta vẫn đứng trước những thách thức to lớn: + Quy mô dân số lớn + Tốc độ gia tăng dân số nhanh + Kết quả giảm sinh chưa thật vững chắc + Chất lượng dân số thấp + Mật độ dân số cao và phân bố chưa hợp lí Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn: Năm Tổng số Phân theo giới tính Phân theo thành thị nông thôn Nam Nữ Thành thị Nông thôn 2008 85118,7 41956,1 43162,6 24673,1 60445,6 2009 86025,0 42523,4 43501,6 25584,7 60440,3 2010 86927,7 42990,7 43937,0 26224,4 60703,3 Tốc độ tăng (%) Năm Tổng số Phân theo giới tính Phân theo thành thị, nông thôn Nam Nữ Thành thị Nông thôn 2008 1,07 1,23 0,92 3,90 -0,04 2009 1,06 1,35 0,79 3,69 -0,01 2010 1,05 1,10 1,00 2,50 0,44 Cơ cấu (%) Năm Tổng số Phân theo giới tính Phân theo thành thị, nông thôn Nam Nữ Thành thị Nông thôn 2008 100,00 49,29 50,71 28,99 71,01 2009 100,00 49,43 50,57 29,74 70,26 2010 100,00 49,46 50,54 30,17 69,83 Phương hướng, biện pháp của chính phủ: + Tăng cường công tác lãnh đạo và quản lý, tổ chức tốt bộ máy làm công tác dân số từ Trung ương đến cơ sở, tăng cường sự lãnh đạo và sự phối hợp giữa các cấp các ngành đối với công tác dân số. + Làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền giáo dục. + Nâng cao sự hiểu biết của người dân về vai trò của gia đình, bình đẳng giới, sức khỏe sinh sản, góp phần nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần. + Nhà nước đầu tư đúng mức cho công tác dân số, thực hiện xã hội hóa công tác dân số. Việc làm Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản, là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh hóa xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp. + Năm 2010 quỹ bảo hiểm thất nghiệp đã chi trả trên 550 tỷ đồng + So sánh năm 2010 với năm 2009 tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02% + Năm 2010, cả nước chỉ có khoảng 300 người thất nghiệp được hỗ trợ đào tạo nghề + Bảo hiểm thất nghiệp gặp nhiều rào cản Thành tựu: Chính phủ đã ban hành những chính sách nhằm mở rộng sản xuất, dịch vụ, đa dạng hóa ngành nghề nên tạo được nhiều việc làm mới (chỉ tiêu: giải quyết 1.2 triệu việc làm/năm) Hạn chế: tình trạng thiếu việc làm vẫn là vấn đề bức xúc ở nông thôn và thành thị. Phương hướng và biện pháp cơ bản để giải quyết việc làm: + Thúc đẩy phát triển sản xuất và dịch vụ + Khuyến khích làm giàu hợp pháp, tự do hành nghề + Đẩy mạnh xuất khẩu lao động + Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn giải quyết việc làm Tiền lương Lương tối thiểu đã tăng lên 830.000 đồng/tháng (áp dụng từ 1/5/2011) chẳng làm cho những đối tượng được hưởng mức tăng có cảm giác vui, mà ngược lại nhiều người đang cảm thấy lo lắng. Trên thực tế, mức lương tăng chỉ khoảng 15% lương cơ bản, trong khi đó, từ nhiều ngày trước thời điểm tăng lương, giá cả hàng hóa đều đã tăng từ 30-80% với lý do được đưa ra rất ngắn gọn nhưng cũng đầy “thuyết phục”: xăng tăng giá, lương tăng lên. Giải pháp: + Nâng cao chất lượng và hiệu quả bộ máy công vụ, các chính sách về giá, đảm bảo công bằng. + Tăng lương một cách hợp lý,Tăng lương phải đi kèm với các giải pháp kiểm soát thị trường. + Quy định mức lương tối thiểu chung, trên cơ sở đó thỏa thuận hình thành mức lương tối thiểu ngành. Y tế Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân để không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. + Chi cho công tác phòng bệnh: bao gồm các khoản chi nhằm bảo đảm điều kiện hoạt động của các viện nghiên cứu, phòng khám, trạm chuyên khoa. + Chi cho công tác chữa bệnh: là khoản chi quan trọng nhất nhằm duy trì sự hoạt động của hệ thống các bệnh viện, bệnh xá, nhà điều dưỡng. + Chi cho các chương trình quốc gia về y tế: chương trình phòng chống bướu cổ, phòng chóng sốt rét, dân số và kế hoạch hóa gia đình + Các khoản chi sự nghiệp y tế khác. Thành tựu : + Đưa ra các đề án thích hợp: ví dụ như Đề án 1816 "Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh". + Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các vùng nghèo ngày càng phát triển dưới nhiều hình thức như thiết lập các tổ, đội y tế lưu động đi khám, chữa bệnh, các hoạt động phòng bệnh theo định kỳ ở các thôn, bản. + Việt Nam đã được biết đến như một điểm sáng trong phòng, chống HIV/AIDS, đạt được mục tiêu của Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đề ra là tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư ở mức dưới 0,3% và từng bước hoàn thành một cách vững chắc mục tiêu thiên niên kỷ. + Việt Nam được Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc đánh giá là quốc gia có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giảm nhanh nhất trong khu vực. Bảng tỷ lệ chi cho YTDP giai đoạn 2008 - 2010 TT Nội dung chi cho YTDP Tỷ lệ chi cho YTDP Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 1 Không bao gồm chi trạm y tế xã 12,9 % 18 % 15,6 % 2 Bao gồm chi trạm y tế xã 14,2 % 26,1 % 25,7 % Thực trạng hiện nay: + Thực trạng hiện nay các cơ sở y tế khu vực đã xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của người dân. + Tình trạng quá tải giường bệnh (đặc biệt tại các bệnh viện trung ương) đã bất cập từ rất lâu nhwung chưa được giải quyết. + Trong khi các bệnh dịch” cổ điển “ như : tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết vẫn hoành hành thì y tế dự phòng lại được đầu tư rất thấp chỉ chiếm 10-12% trong đầu tư y tế trong khi khuyến cáo của WHO là tối thiệu 30%. + Việc quản lí thực hiện các chính sách nhà nước chưa được thực hiện đúng và kiểm tra thường xuyên. Giáo dục Chính phủ nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến giáo dục, không ngừng nâng cao phương pháp đào tạo để có nguồn nhân tài cho xã hội. Đưa ra các loại hình ĐT - GD hiệu quả, tiên tiến, phù hợp với từng thời kì và đáp ứng được nhu cầu hiện tại của đất nước và thế giới. Chính sách phổ cập giáo dục, theo đó các đối tượng được ưu tiên sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ; ví dụ như học sinh thuộc diện chính sách được miễn hoặc giảm 100% học phí… Chính sách cho sinh viên vay vốn với lãi suất thấp. Cải thiện cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị học tập, tạo điều kiện học tập hiệu quả. Năm Tổng chi ngân sách nhà nước (tỉ đồng) Tỉ lệ tăng chi NSNN (%) Chi cho sự nghiệp giáo dục (tỉ đồng) Tỉ lệ tăng chi NSNN cho giáo dục Tỉ lệ phần trăm trên tổng chi (%) 2008 398980 54060 13,55 2009 491300 23,14 67300 24,55 13,7 2010 582200 18,5 84700 25,8 14,55 2011 725600 22,9 110130 30 15,18 Cả nước hiện nay đang có 1,7 triệu sinh viên đại học và cao đẳng thì đã có tới 800.000 em đựơc Nhà nước cho vay để đi học (47%), trong khi tỷ lệ người nghèo trên cả nước là 15%. Năm 2010, 1,9 triệu lượt HS, SV được vay vốn hỗ trợ học tập. Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất trế giới Bất cập trong chi tiêu tài chính công cho giáo dục: + Định mức phân bổ NSGD chưa gắn chặt với việc đảm bảo chất lượng đào tạo (đội ngũ nhà giáo, điều kiện về cơ sở vật chất...). + Một số chính sách về miễn, giảm học phí và học bổng hiện nay đã thể h

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docVai trò tài chính công của việt nam từ năm 2008 đến 2010.doc
Tài liệu liên quan