Tóm tắt Luận án Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh

Ngoài ra, cũng còn một số quy định của pháp luật chưa thật sự phù

hợp với sự thay đổi của đời sống xã hội. BLHS 2015 được ban hành đã

phần nào khắc phục được một số hạn chế của BLHS năm 1999, nhưng chưa

hoàn toàn đầy đủ và phù hợp, quá trình nghiên cứu đã thấy bộc lộ nhiều

nhiều hạn chế, vướng mắc trong các quy định về nhóm các tội xâm phạm

chế độ hôn nhân và gia đình, một số quy định, hướng dẫn còn chồng chéo,

mâu thuẩn nhau.

Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận về nhóm các tội xâm phạm chế

độ hôn nhân và gia đình, cũng như nghiên cứu một số vụ án cụ thể về cá tội

phạm này để đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về nhóm các tội

xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, luận án đã đưa ra một số kiến nghị

góp phần bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về các

tội này, kiến nghị về hoàn thiện pháp luật hình sự, kiến nghị về hướng dẫn

áp dụng pháp luật hình sự, kiến nghị về tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật

hình sự và một số giải pháp khác về nâng cao trình độ, năng lực của các cán

bộ áp dụng pháp luật cũng như nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến,

giáo dục pháp luật, hy vọng những vấn đề nghiên cứu trên sớm được ứng

dụng để đạt được hiệu quả tốt nhất

pdf27 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 08/03/2022 | Lượt xem: 69 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
dụng đúng đắn các quy định về nhóm tội phạm này trên cơ sở khoa học và mang tính hiệu quả cao. 6. Ý nghĩa của luận án 6.1. Ý nghĩa khoa học 6.2. Ý nghĩa thực tiễn 7. Kết cấu của luận án : Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chương 2: Những vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp hình sự về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Chương 3: Thực tiển áp dụng quy định pháp luật các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh. 6 Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng đúng các quy định pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình tại Tp.HCM. Ngoài ra còn có phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, mỗi công trình nghiên cứu, đều có ý nghĩa đóng góp vào quá trình nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung, pháp luật hình sự về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình nói riêng, đồng thời góp phần tích cực trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, tác giả luận án đã có lựa chọn một số công trình nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài để tham khảo về tình hình nghiên cứu như sau : 1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 1.1.1. Những công trình nghiên cứu vấn đề về nhận thức lý luận, các quy định chung các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ở trong nước 1.1.2. Những công trình nghiên cứu các vấn đề về thực tiển áp dụng pháp luật, các giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ở trong nước 1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới cũng có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình như sau: 1.2.1. Những công trình nghiên cứu các vấn đề về lý luận và quy định chung các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ngoài 1.2.2. Những công trình nghiên cứu các vấn đề về thực tiển áp dụng pháp luật đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ngoài 7 1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu trong luận án : Qua nghiên cứu các công trình khoa học về các tội xâm chế độ hôn nhân và gia đình ở trong nước cũng như ở một số quốc gia trên thế giới, tác giả luận án đã ghi nhận, tiếp thu, chọn lọc và có những đánh giá, nhận xét như sau: 1.3.1. Những vấn đề đã thống nhất 1.3.2. Những vấn đề còn tranh luận Qua nghiên cứu tác giả nhận thấy có sự khác nhau về quan điểm cũng như cách tiếp cận nghiên cứu đối với những vấn đề cụ thể trong các đề tài, như nội dung nghiên cứu, giới hạn nghiên cứu, chiều sâu nghiên cứu .. Các nhà nghiên cứu cũng có sự nhận thức khác nhau về cùng một vấn đề mà họ quan tâm nghiên cứu, nên việc nhìn nhận cùng một vấn đề có những luận điểm không thống nhất là do có những hướng nghiên cứu không giống nhau mà tác giả luận án nhận thấy như sau: Các công trình trên chưa thống nhất và còn nhiều tranh luận về cơ sở của việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình sự ở Việt Nam qua các thời kỳ, có công trình nghiên cứu xác định cơ sở của việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình sự ở Việt Nam xuất phát chủ yếu từ nguyên nhân kinh tế, có công trình nghiên cứu xác định cơ sở của việc quy định các tội trên xuất phát chủ yếu từ truyền thống, đạo đức, tập quán hoặc do từ thể chế chính trị v.v Những phân tích, đối chiếu, so sánh của pháp luật hình sự nhiều công trình vẫn còn ý kiến khác nhau về đối tượng, về chủ thể, khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan v.v, có quan điểm khi nghiên cứu cho rằng hành vi của một người đã có vợ có chồng quan hệ với người khác như vợ chồng là vi phạm pháp luật, nhưng cũng có quan điểm nghiên cứu cho rằng người khác vừa nêu là người đồng giới hay là người khác giới, vì thực tế 8 hiện nay xã hội đã có không ít người đồng giới đang có quan hệ và chung sống với nhau như vợ chồng, do đó việc hệ thống toàn cảnh những quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ở Việt Nam chưa đầy đủ và chuẩn xác. Chưa có công trình nào nghiên cứu các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật Việt nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh. đây là địa phương dân số đông, đa dạng, là trung tâm của cả nước về kinh tế, văn hóa và cũng là nơi có số lượng vụ án xét xử cao ở Việt Nam, để từ đó có những kiến nghị hoàn thiện pháp luật mang tính chất rộng rãi. Các công trình khoa học nghiên cứu nêu trên mặc dù đã đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, nhưng nhiều giải pháp, kiến nghị còn mang tính nhất thời, khập khiễng, thiếu hệ thống, hoặc không tập trung, thậm chí còn mâu thuẫn, trái ngược nhau, chưa có sự thống nhất trong việc xây dựng mô hình pháp lý cho các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. 1.3.3. Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu trong luận án : Một mặt luận án sẽ tiếp thu những ưu điểm của các công trình nghiên cứu đã nêu, mặt khác sẽ làm rõ những vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc đã được nghiên cứu nhưng ở mức độ chưa đầy đủ, trên cơ sở xác định đề tài luận án thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, trên cơ sở kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu, trên cơ sở những điểm đã thống nhất cũng như còn tranh luận trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tác giả luận án xác định những vấn đề kế thừa và tiếp tục nghiên cứu như sau: Qua tổng hợp, tiếp thu những vấn đề lý luận của pháp luật hình sự, các quan hệ về hôn nhân và gia đình, tác giả luận án sẽ hệ thống những vấn đề mang tính lý luận khoa học về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, làm rõ những ảnh hưởng về các điều kiện như kinh tế, văn 9 hóa, đạo đức, xã hội v.v.. từng thời kỳ có ảnh hưởng gì đến nhận thức của con người về quan hệ hôn nhân và gia đình, về chế độ hôn nhân và gia đình, từ đó thấy được hướng phát triển của những quan hệ xã hội này. Qua nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam từng giai đoạn lịch sử xã hội, tác giả luận án sẽ xây dựng bức tranh tương đối tổng thể về cơ chế pháp lý ở Việt Nam trong bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, từ đó nhận thức những giá trị được kế thừa trong lịch sử lập pháp hình sự trong việc bảo vệ các quan hệ hôn nhân và gia đình, bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình. Qua nghiên cứu các số liệu về tình hình xét xử các vụ án xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân hai cấp ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2019, tác giả luận án sẽ đánh giá quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, từ đó xác định, phân tích những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Từ kết quả nghiên cứu những vấn đề nêu trên, tác giả luận án sẽ đề xuất một số biện pháp để góp phần bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Quan hệ hôn nhân và gia đình có vai trò rất quan trọng đời sống của xã hội, nó là nền tảng để tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, vì mỗi cá thể là thành viên trong gia đình cũng là thành viên của xã hội, hay nói cách khác mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, mỗi thành viên trong gia đình là một phần của tế bào, do vậy các quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến việc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình bằng cách đặt ra những quy định bằng nhiều hình thức và mức độ khác nhau, trong đó quy định phổ biến và hiệu quả nhất những hành vi gây nguy hiểm cho quan hệ trên là bằng hình thức xử lý hình sự. 10 Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học với nhiều công trình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các tội xâm phạm đến các quan hệ về hôn nhân và gia đình, các quan hệ đối với người chưa thành niên trên nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như: Luật học, Xã hội học, Tâm lý học, Tội phạm học v.v.., những công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã có những đóng góp to lớn vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và có ý nghĩa rất to lớn cho thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Ở Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình luôn được quan tâm bảo vệ từ các giai đoạn lịch sử xa xưa, nếu giai đoạn phong kiến nhận thức về quy định và áp dụng pháp luật trong xử lý đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình mang tính chất đàn áp để bảo vệ lợi ích cho giai cấp phong kiến, thể hiện mối quan hệ mang tính bất bình đẳng thì thời kỳ hiện đại ngày nay việc nhận thức, quy định và áp dụng pháp luật trong xử lý đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình mang ý nghĩa tiến bộ, nhân đạo, trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục. Cũng có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến các tội xâm phạm đến các quan hệ về hôn nhân và gia đình ở Việt Nam, nhưng đa số những công trình thể hiện ở những tội danh riêng lẻ hoặc thiếu tính toàn diện và tổng thể, chưa có cập nhật tương đối hệ thống những vấn đề lý luận về chế độ hôn nhân và gia đình. Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên thế giới cũng như những công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài của luận án, dù có những vấn đề đã thống nhất, hay những vấn đề còn đang tranh luận hoặc những hạn chế, những nội dung chưa được giải quyết triệt để, nhưng các công trình trên là nguồn tư liệu vô cùng quý giá để tác giả nghiên cứu, tiếp cận và tiếp thu những thành quả tích cực để đưa vào luận án, góp phần quan trọng vào sự thành công của luận án. 11 CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2.1. Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, cơ sở và ý nghĩa của việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 2.1.1. Khái niệm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 2.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật Hình sự Việt Nam 2.1.2.1. Khách thể của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 2.1.2.2. Mặt khách quan các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 2.1.2.3. Chủ thể của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 2.1.2.4. Mặt chủ quan của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 2.1.2.5. So sánh một số tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình với các tội phạm khác có liên quan. 2.1.2.6. Chế tài hình phạt đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật hình sự năm 2015 Chế tài hình phạt đối với nhóm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân 2.1.3. Cơ sở của việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam 2.1.3.1. Cơ sơ lý luận 2.1.3.2. Cơ sở thực tiển 2.1.3.3. Cơ sở Chính trị - Pháp lý 2.1.3.4. Cơ sở Kinh tế 2.1.3.5. Cơ sở Đạo đức 2.1.3.6. Cơ sở Tâm lý, Văn hóa, Truyền thống 2.1.4. Ý nghĩa của việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam 12 2.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình từ trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015 2.2.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng tám năm 1945 Thời kỳ xã hội phong kiến Thời kỳ Pháp thuộc 2.2.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực 2.2.3. Giai đoạn Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực đến Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực 2.3. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới: 2.3.1. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Nga 2.3.2. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 2.3.3. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức 2.3.4. Những điểm tương đồng, những điểm khác và những vấn đề được rút ra từ kinh nghiệm xây dựng pháp luật hình sự ở nước ngoài, đặt ra cho việc hoàn thiện các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam 2.3.4.1. Những điểm tương đồng so với BLHS Việt Nam 2.3.4.2. Những điểm khác so với BLHS Việt Nam 2.3.4.3. Những vấn đề được rút ra từ kinh nghiệm xây dựng pháp luật hình sự ở nước ngoài, đặt ra cho việc hoàn thiện các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam 13 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Vấn đề HN&GĐ là một phạm trù triết học có nguồn gốc từ tự nhiên và xã hội, quá trình phát triển xã hội, thông qua thực tiễn lao động, sáng tạo và tư duy, năng lực của con người ngày càng hoàn thiện, tính chất tự nhiên này đã tồn tại trong lịch sử phát triển của loài người với tư cách là động lực phát triển của xã hội [18]. Khi xã hội phân chia giai cấp, thông qua nhà nước giai cấp thống trị đã dùng các chính sách và pháp luật để điều chỉnh, can thiệp vào quá trình phát triển các quan hệ hôn nhân và gia đình theo hướng tiến bộ, phù hợp với quy luật tự nhiên và bảo đảm lợi ích của giai cấp thống trị bằng các biện pháp cưỡng chế, chế độ hôn nhân và gia đình đã ra đời từ đó [156]. Chế độ HN&GĐ có vai trò tái sản xuất ra đời sống thể chất và tinh thần của con người, là cơ sở nền tảng của mỗi quốc gia, là tế bào của xã hội giúp cho những công dân được hình thành, sinh trưởng và phát triển, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng công dân, đồng thời bảo đảm sự phát triển bền vững cho xã hội [33]. Trên cơ sở các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ thì các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ được định nghĩa là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến toàn bộ những quy định của pháp luật về chế độ kết hôn, ly hôn, quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, cấp dưỡng, xác định cha, mẹ, con, con nuôi, giám hộ, quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến HN&GĐ. Lịch sử hình thành và phát triển các quy định về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ ở Việt Nam qua các thời kỳ đã thể hiện từ thực tế cuộc sống xã hội, các chính sách pháp luật hình sự về các tội này đã được hoạch định làm cơ sở cho việc ban hành các quy định trong Bộ luật hình sự nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội này tránh bị xâm hại. 14 Mỗi quốc gia trên thế giới có khác nhau về điều kiện địa lý, vị trí, dân số, kinh tế, tập quán, truyền thống, nên việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình cũng khác nhau, do dựa trên các cơ sở về chính trị, xã hội, kinh tế, đạo đức, tình cảm, văn hóa, truyền thống của quốc gia để ban hành các quy định pháp luật, do đó Bộ luật hình sự của mỗi quốc gia luôn có sự tương đồng và khác biệt nhau, mang lại một số kinh nghiệm lập pháp để điều chỉnh, bảo chế độ HN&GĐ ở Việt Nam. Nội dung của chương này đã đề cập đến những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, nhằm tạo tiền đề cho việc phân tích những dấu hiệu pháp lý chung và phân loại nhóm các tội phạm này theo quy định của BLHS, đánh giá về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hình sự về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ. CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Từ sự điều chỉnh căn bản trong chính sách hình sự giai đoạn này, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định đối với 7 tội danh trong chương các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, với những chính sách hình sự phù hợp, việc ban hành BLHS năm 2015 đã giúp cho các quy định của luật sớm đi vào cuộc sống, phát huy vai trò là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần bảo vệ an toàn, trật tự xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường và tăng cường hội nhập quốc tế. 3.1. Những điểm kế thừa và những điểm khác trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Bộ luật hình sự năm 1999 3.1.1. Khái quát chung 15 3.1.2. Những điểm kế thừa của Bộ luật Hình sự năm 2015 từ Bộ luật Hình sự năm 1999 theo các dấu hiệu cấu thành tội phạm Khách thể của tội phạm : Mặt khách quan của tội phạm ; Chủ thể của tội phạm ; Mặt chủ quan của tội phạm. 3.1.3. Những điểm khác trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Bộ luật Hình sự năm 1999 3.1.4. Tình hình xét xử các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình tại Thành phố Hồ chí Minh Qua thống kê trong thời gian 15 năm, từ năm 2005 đến năm 2019 thì số liệu những vụ án đưa ra xét xử về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ do Tòa án nhân dân hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh, như sau : Xét xử sơ thẩm tại các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện số lượng 34 vụ án, với 44 bị cáo; Xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh số lượng 4 vụ án, với 4 bị cáo; Xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh số lượng 11 vụ án, với 11 bị cáo; Theo các số liệu thống kê nêu trên, qua nghiên cứu thì thấy số lượng vụ án về xâm phạm chế độ HN&GĐ tại Thành phố Hồ Chí Minh hàng năm không nhiều và không đều nhau, cụ thể sau: 3.1.4.1. Đối với “Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ” theo Điều 146 BLHS năm 1999 và “Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện” và theo Điều 181 BLHS năm 2015 3.1.4.2. Đối với “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng” theo Điều 147 BLHS năm 1999 và “Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng” theo Điều 182 BLHS năm 2015 3.1.4.3. Đối với “Tội tổ chức tảo hôn, tảo hôn” theo Điều 148 BLHS năm 1999 và “Tội tổ chức tảo hôn” theo Điều 183 BLHS năm 2015 3.1.4.4. Đối với “Đăng ký kết hôn trái pháp luật” theo Điều 149 BLHS năm 1999 và chuyển hóa thành “Tội đăng ký hộ tịch trái pháp luật” theo Điều 16 336 chương: XXII “Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính” BLHS năm 2015. 3.1.4.5. Đối với “Tội loạn luân” theo điều 150 BLHS năm 1999 và “Tội loạn luân” theo Điều 184 BLHS năm 2015: 3.1.4.6. Đối với “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu” theo điều 151 BLHS năm 1999 và “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình” theo điều 185 BLHS năm 2015 3.1.4.7. Đối với “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” theo Điều 152 BLHS năm 1999 và “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” theo Điều 186 BLHS năm 2015 3.1.4.8. Đối với “Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại” theo Điều 187 BLHS năm 2015: 3.2. Thực tiễn định tội danh đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh 3.2.1. Thực tiễn định tội danh “Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ” theo Điều 146 BLHS năm 1999 và “Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện” theo Điều 181 BLHS năm 2015. 3.2.2. Định tội danh, đối với “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng” theo Điều 147 BLHS năm 1999 và Điều 182 BLHS năm 2015 3.2.3. Đối với “Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn” theo Điều 148 Bộ luật hình sự năm 1999 và “Tội tổ chức tảo hôn” theo Điều 183 Bộ luật hình sự năm 2015 3.2.4. Đối với “Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật” theo Điều 149 BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 chuyển hóa thành “Tội đăng ký hộ tịch trái pháp luật” theo Điều 336 chương: “Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính” 3.2.5. Đối với “Tội loạn luân” theo Điều 150 BLHS năm 1999 và theo Điều 184 BLHS năm 2015 17 3.2.6. Đối với “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” theo Điều 151 BLHS năm 1999 và “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình” theo Điều 185 BLHS năm 2015 3.2.7. Đối với “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” theo Điều 152 BLHS năm 1999 và theo Điều 186 BLHS năm 2015 3.2.8. Đối với tội “Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại” theo Điều 187 BLHS năm 2015 Đây là tội danh mới được bổ sung vào Bộ luật Hình sự năm 2015, đến nay chưa có điều tra, truy tố, xét xử vụ nào tại Thành phố Hồ Chí Minh. 3.3. Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS, hình phạt không chỉ trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, giáo dục tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm [9, Điều 30]. Quyết định hình phạt là một trong những biện pháp để đưa BLHS vào cuộc sống xã hội, ngoài ra còn góp phần vào việc thực hiện đường lối, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản của quá trình áp dụng hình phạt [9, Điều 31]. Chính sách hình sự của nhà nước đối với các tội phạm này chủ yếu là nhằm giáo dục, thuyết phục, đồng thời có sự phân hóa trách nhiệm hình sự tương đối rõ với từng loại hành vi cụ thể, trong 7 tội danh của Chương xâm phạm chế độ HN&GĐ thì có 4 tội phạm là ít nghiêm trọng, mức cao nhất của khung hình phạt là đến 3 năm tù, còn 3 tội danh còn lại là Tội loạn luân, Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình, Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại là có mức cao nhất của khung hình phạt lên đến 5 năm tù. Vì 18 vậy việc áp dụng đối với những người phạm các tội này đa số là các biện pháp không tước tự do hoặc tước tự do nhưng không quá 5 năm. 3.4. Những vướng mắc, sai sót trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh Số lượng các vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình có tính chất bạo lực được xét xử hình sự còn rất hạn chế, nó không phù hợp với thực trạng và thống kê xã hội học về bạo lực gia đình. Có những tội danh suốt thời gian dài không có xét xử như Tội tổ chức tảo hôn, Tội tảo hôn theo Điều 148 của BLHS năm 1999, mặt dù có thể hành vi này đang diễn ra hàng ngày ở nhiều địa phương, nhất là ở những vùng dân tộc ít người ở các vùng nông thôn, bản làng xa xôi. 3.5. Nguyên nhân của những vướng mắc, sai sót trong thực tiễn xét xử các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình 3.5.1. Về những nguyên nhân khách quan: 3.5.2. Về những nguyên nhân chủ quan KẾT LUẠN CHƯƠNG 3 Thực tế, qua những trường hợp ở các bản án đã nên trên cho thấy trong hoạt động truy tố vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu sót trong nhận thức đối với các quy định pháp luật, nhận thức đối với những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và nhận thức trong quá trình định tội danh, từ đó ảnh hưởng đến kết quả truy tố, kết quả của việc ban hành Cáo trạng theo luật định. Đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân: Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng độc lập và quan trọng nhất của hoạt động tố tụng hình sự, mà trong đó Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành: 1) áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử, 2) Đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên (buộc tội và bào chữa) phán xét về vấn đề tính chất tội 19 phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo (hoặc xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm - nếu bản án hay quyết định sơ thẩm đã được tuyên và chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị hoặc kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm - nếu bản án hay quyết định đó bị kháng nghị) và cuối cùng, tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục. Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án hình sự do Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Tuy nhiên, như những trường hợp ở các bản án đã nên trên cho thấy trong hoạt động xét xử vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu sót trong nhận thức đối với các quy định pháp luật, nhận thức đối với những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và nhận thức trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt, từ đó ảnh hưởng đến kết quả xét xử, kết quả của việc ban hành Bản án, Quyết định theo luật định. 20 CHƯƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_an_cac_toi_xam_pham_che_do_hon_nhan_va_gia_dinh.pdf
Tài liệu liên quan