Hệ thống văn bản quy định hiện hành và thực trạng cơ cấu tổ
chức bộ máy tham mưu hành chính nhà nước
3.2.1. Hệ thống văn bản quy định hiện hành của nhà nước về công
tác tham mưu
Thời gian qua, những nội dung những văn bản trên đã được áp dụng
đem lại hiệu quả to lớn trong việc ban hành chính sách thiết thực, phù hợp
với các tiêu chí hội nhập.
Tuy nhiên, những yêu cầu về cải cách bộ máy và xây dựng thể chế
trong tình hình mới về hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, phá vỡ thế khó
khăn, trì trệ hiện nay cũng như những lúng túng trong vận dụng chính sách
xây dựng nền hành chính với hàm lượng tri thức cao đặt ra cho việc cải cách
thể chế một cách linh hoạt hơn, đặc biệt là trong xây dựng đội ngũ chuyên
gia, thu hút nhân tài trong bộ máy công chức hành chính và trách nhiệm đối
với chất lượng tham mưu.
Vẫn còn nhiều bất cập trong các nội dung văn bản quy định hiện hành
như: chưa xác định rõ và thẩm quyền, trách nhiệm phân cấp quản lý ở trung
ương và chế độ trách nhiệm của người đứng đầu trong hệ thống cơ quan hành
chính.
3.2.2. Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy tham mưu HCNN
Thời gian qua, Chính phủ đã rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, tiếp tục xây dựng, sửa đổi, bổ sung các
văn bản, như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa
phương. Đã ban hành các nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ.
Tuy về cơ bản, bộ máy tham mưu hành chính đã được cơ cấu lại tương
đối hợp lý, song vẫn còn nhiều vấn đề bất cập chưa được giải quyết đặt ra
nhiệm vụ cho thời gian tới.15
3.2.3. Thực trạng đội ngũ nhân sự tham mưu của cơ quan HCNN ở
TƯ
Kết quả khảo sát cho thấy có đặc điểm năng lực đội ngũ tham mưu
hành chính có nhiều thay đổi tích cực theo định hướng cải cách hành chính.
Những thay đổi này có liên quan trực tiếp đến những đổi mới trong công tác
tuyển dụng, bố trí cán bộ tham mưu. Bên cạnh những thành tựu đạt được,
năng lực đội ngũ tham mưu cũng nảy sinh nhiều bất cập. Từ đây đặt ra yêu
cầu đổi mới mạnh mẽ hơn nữa công tác tuyển dụng, bố trí cán bộ tham mưu.
28 trang |
Chia sẻ: trungkhoi17 | Lượt xem: 501 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Hoàn thiện công tác tham mưu của cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ề đổi mới công tác tham mưu
Một số nước trên thế giới xây dựng quy trình tham mưu theo hướng
tăng cường trách nhiệm tham mưu trong thẩm định tính hợp pháp của văn
bản. Mô hình Mỹ và các nước phương tây về tổ chức xây dựng chính sách;
Mô hình Châu Á ( Ấn độ, trung quốc) phát triển các viện chính sách; Kinh
nghiệm một số quốc gia như Pháp tuyển chọn rất khắt khe 200/ hàng ngàn
người; Mô hình tổ chức cơ chế tham mưu độc lập, mô hình đổi mới tổ chức,
hoạt động của Chính phủ
Như vậy, hoàn thiện công tác tham mưu trong cơ quan quản lý hành
chính nhà nước ở trung ương là vấn đề mới, chưa được nghiên cứu thấu đáo
và đầy đủ trong các công trình khoa học, tài lịêu tham khảo.
7
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THAM MƯU
CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG
2.1. Khái niệm, chức năng, đặc điểm, vai trò của tham mưu của cơ quan
HCNN ở trung ương
2.1.1. Khái niệm tham mưu và các thuật ngữ liên quan
Qua tổng hợp cho thấy: Tham mưu trong quản lý hành chính nhà nước là
một dạng đặc thù trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước nhằm cung
cấp ý kiến, đề xuất phương án, giải pháp để cá nhân, cấp có thẩm quyền xem
xét, sử dụng trong quá trình ra quyết định. Chủ thể hoạt động này là những
cá nhân, tổ chức chuyên trách trong hệ thống, chịu trách nhiệm pháp lý về
nội dung, kết quả tham mưu thông qua việc thực hiện công tác thông tin,
phân tích, đề xuất phương án giải quyết đúng đắn, hiệu quả trong lĩnh vực
chuyên môn.
Khái quát rộng về chức năng tham mưu trong hành chính có thể thấy
tham mưu không chỉ là hoạt động của một cá nhân hoặc một bộ phận mà còn
có thể là một cơ quan, tổ chức chuyên trách tham mưu cho một tổ chức lãnh
đạo trong trường hợp bộ tham mưu cho Chính phủ trong việc xây dựng chính
sách, ban hành quyết định và tổ chức thực hiện quyết định.
2.1.2. Chức năng , nhiệm vụ của bộ phận tham mưu
Với cách hiểu như vậy, bộ phận tham mưu có đặc thù là luôn ở vị trí trợ
giúp một chủ thể là nhà lãnh đạo, quản lý. Chính đặc điểm, những yêu cầu
mới của chủ thể lãnh đạo sẽ quyết định tính chất, đặc điểm của đội ngũ tham
mưu.Về nội dung tham mưu, có thể chia làm 2 loại; tham mưu tổng hợp và
tham mưu chuyên ngành.Đối tượng tham mưu, từ góc độ tham mưu là một tổ
chức, có thể hiểu đó là những cấp quản lý lãnh đạo có quyền lực ban hành và
thực hiện các quyết định quản lý.
Tìm hiểu chủ thể công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước
ở trung ương có thể xác định đó là những cá nhân, tổ chức thực hiện công tác
tham mưu cho đối tượng lãnh đạo là cơ quan hành chính nhà nước ở trung
ương.
Bộ phận thực hiện công tác tham mưu ở các cơ quan hành chính nhà
nước ở trung ương có thể hiểu đó là các bộ, cơ quan ngang bộ tham mưu cho
Chính phủ và các vụ thuộc bộ tham mưu cho lãnh đạo bộ.
Vì vậy, sản phẩm của tham mưu có thể là các quyết định quản lý cụ thể
hoặc tham mưu về xây dựng chính sách vĩ mô.
8
2.1.3. Đặc điểm, phạm vi đối tượng của công tác tham mưu trong
hành chính nhà nước ở trung ương
Thứ nhất, công tác tham mưu là hoạt động mang tính trợ giúp, nghĩa là
luôn gắn liền với hoạt động quản lý lãnh đạo, trong đó, hoạt động quản lý
lãnh đạo là trung tâm, là đối tượng phục vụ của tham mưu.
Thứ hai, công tác tham mưu mang tính chuyên nghiệp, gắn liền một
lĩnh vực, một chuyên môn cụ thể, là hoạt động mang tính chuyên môn sâu.
Thứ ba, công tác tham mưu mang tính chuyên trách, tức là những người
thực hiên công tác tham mưu phải là đội ngũ chuyên trách trong tổ chức, có
trách nhiệm tham mưu, thực hiện hoạt động này một cách thường xuyên, chịu
trách nhiệm về kết quả tham mưu, về tính đúng đắn hiệu quả mà phương án
tham mưu đưa lại.
Thứ tư, tham mưu phục vụ lãnh đạo luôn gắn liền với công tác thông tin.
Trách nhiệm được giao phó đòi hỏi bộ phận tham mưu phải đảm bảo thông
tin mọi mặt, kịp thời, đầy đủ.
Đối tượng phục vụ của tham mưu trong hành chính nhà nước ở trung
ương là hoạt động quản lý, lãnh đạo trong hành chính nhà nước TƯ. Đặc
điểm của quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính ảnh hưởng
trực tiếp tới mọi mặt của đời sống xã hội, của công dân. Về phạm vi ảnh
hưởng, hoạt động hành chính nhà nước ở TƯ tạo ảnh hưởng trực tiếp lên
nhiều đối tượng của một ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn ngành, toàn
quốc, nhiều địa phương, đặc biệt là cả những lĩnh vực liên quan đến hoạt
động đối ngoại, có yếu tố nước ngoài.
2.1.4. Trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ của tham mưu
Tham mưu có trách nhiệm:
- Cung cấp cho quản lý đầy đủ nội dung thông tin, căn cứ, cơ sở, dữ liệu
cần thiết về đối tượng quản lý và các thông tin liên quan đến quá trình
quản lý;
- Phân tích, giải thích, thuyết phục đối với nhà quản lý để lựa chọn
phương án tối ưu nhất từ các phương án đề xuất phù hợp với mục tiêu
quản lý; có trách nhiệm xem xét, đánh giá hiệu quả các quyết định của
quản lý, chủ động đưa ra các đề xuất, cảnh báogiúp lãnh đạo kịp thời
điều chỉnh, điều hành chỉ đạo thực hiện các quyết định;
- Dự báo các khả năng, kịp thời báo cáo cảnh báo các sự cố, khả năng
xảy ra sự cố về đối tượng quản lý, các ảnh hưởng từ môi trường khách
quan tới đối tượng quản lý cho nhà quản lý;
9
- Phối hợp với các cơ quan, đơn vị chuyên môn cấp trên, cũng như bộ
phận chuyên môn cấp dưới, đảm bảo sự thống nhất trong chuyên môn
trong toàn bộ hệ thống quản lý hành chính nhà nước;
- Phối hợp với đơn vị thực thi cùng cấp trong việc chia sẻ nắm bắt
thông tin thực tiễn thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
- Bằng các quy định trong Nghị định 110/2004 và Nghị định 09/2010,
pháp luật hiện hành quy định trách nhiệm của tham mưu với vai trò:
Chịu trách nhiệm liên đới trước pháp luật về nội dung, chất lượng chính
sách.
2.2. Nội dung, kỹ năng, quy trình và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt
động tham mưu của cơ quan HCNN ở trung ương
2.2.1. Nội dung công tác tham mưu của cơ quan HCNN ở TƯ
Nội dung công tác tham mưu chủ yếu xoay quanh các nhiệm vụ trợ giúp
cho hoạt động quản lý như sau:
- Thu thập xử lý, tổng hợp, phân tích thông tin, cung cấp thông tin ;
- Xây dựng dự thảo các quyết định trình lãnh đạo ban hành;
- Quản lý cơ sở dữ liệu phục vụ các hoạt động lập chương trình kế
hoạch
- Xây dựng và triển khai hệ thống kiểm soát đối tượng quản lý,thống kê,
phân tích, báo cáo;
- Giúp lãnh đạo quản lý, kiểm soát sự thay đổi, giải quyết xung đột, xử
lý sự cố, phòng tránh rủi ro;
- Quản lý sáng kiến;
- Giúp lãnh đạo trong các hoạt động phát ngôn, giao tiếp, PR và truyền
thông;
- Tổ chức các hoạt động kết nối giữa lãnh đạo và các bộ phận cấp dưới
trực thuộc;
2.2.2. Kỹ năng tham mưu và quy trình tham mưu
Các nghiên cứu tập trung giới thiệu nội dung kỹ năng tham mưu và quy
trình thực hịên các hoạt động của cán bộ tham mưu, quy trình tìm ra giải
pháp gồm:
- Xác định vấn đề;
- Phân tích vấn đề;
- Khai thác giải pháp thay thế;
- Tìm ra giải pháp tốt nhất;
- Đưa ra quyết định có hiệu quả.
10
2.2.3. Các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tham mưu
Do tính chất chính sách gắn với lợi ích, hoạt động tham mưu bị tác
động bởi rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, thậm chí cả những yếu tố
mang tính lợi ích, nhạy cảm, chính thức và không chính thức. Yếu tố ảnh
hưởng tới hoạt động tham mưu, năng lực cán bộ tham mưu bao hàm cả các
yếu tố chủ quan và khách quan.
Các khía cạnh về cơ chế, chính sách đãi ngộ, tuyển dụng, bồi dưỡng
nghiệp vụ và các điều kiện đảm bảo hoạt động tham mưu là yếu tố đang cản
trở việc củng cố và phát triển kỹ năng nghề nghiệp của họ. Trong số những
yếu tố cơ bản, yếu tố ảnh hưởng rõ nét nhất là cơ chế , chính sách và công tác
đào tạo bồi dưỡng.
Các điều kiện về mặt chính trị, cơ sở phát triển kinh tế xã hội, nền tảng
công nghệ: trong đó việc hoàn thiện nền tảng công nghệ giúp đảm bảo đổi
mới sâu rộng phương pháp tổ chức và hoạt động tham mưu, công tác thông
tin quản lý; nền tảng kinh tế giúp bảo đảm cụ thể hóa tối đa định hướng tự
chủ trong phát triển kinh tế xã hội, thiết lập quan hệ hợp tác, đối ngoại; giảm
sự lệ thuộc về xây dựng chính sách, giảm sức ép chính trị từ các thế lực bên
ngoài
2.3. Yêu cầu, nguyên tắc tổ chức hoạt động tham mưu của cơ quan
hành chính NN ở trung ương
2.3.1. Yêu cầu về năng lực, tổ chức bộ máy tham mưu
Tham mưu phải đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo và điều
hành công việc của bộ máy quản lý hành chính nhà nước; Đảm bảo chất
lượng tham mưu, đề xuất; Đảm bảo tính khả thi và hiện thực trong công tác
tham mưu; Đáp ứng các yêu cầu cải cách hành chính.
Cần xác định rõ mối quan hệ chức năng, quyền hạn, cơ cấu, thẩm quyền,
trách nhiệm, cũng như cần xác định mô hình phối kết hợp nhằm nâng cao
hiệu quả và tránh lãng phí chồng chéo.
2.3.2. Nguyên tắc chủ yếu trong công tác tham mưu của cơ quan
HCNN ở trung ương
Đảm bảo đúng các quy định hiện hành của pháp luật, các chế độ, chính
sách của nhà nước; Có cơ sở khoa học, khách quan, trung thực; Đề cao trách
nhiệm trong công tác tham mưu; Nguyên tắc toàn diện, tổng hợp.
2.4. Tổ chức bộ máy, đội ngũ nhân sự tham mưu trong cơ quan
hành chính NN ở trung ương
11
2.4.1. Tổ chức bộ máy tham mưu trong cơ quan hành chính nhà
nước
Vấn đề xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về tham mưu, xác định vị
trí tham mưu, phân lập chức năng tham mưu và thực thi;Thiết kế, phân tích và
phân công công việc trong bộ máy tham mưu.
Xét về quy mô, vị trí của chủ thể lãnh đạo quản lý, đối tượng phục vụ
của tham mưu, ta có thể thấy quy mô đội ngũ tham mưu có thể không giống
nhau.
Có 3 cấp độ về quy mô bộ máy tham mưu: từ quy mô nhỏ nhất đến quy
mô lớn nhất. Xét về nội dung lĩnh vực tham mưu, có thể chia ra loại tham
mưu tổng hợp và tham mưu lĩnh vực chuyên ngành.
Bên cạnh đó, tiến hành tổ chức quy trình kỹ thuật tham mưu, đảm bảo
cơ sở xác định trách nhiệm tham mưu.
2.4.2. Tổ chức, quản lý đội ngũ nhân sự tham mưu hành chính
Nội dung kỹ năng của đội ngũ chuyên viên tham mưu cơ quan hành
chính NN: liên quan đến các kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, phân tích,
tổng hợp thông tin, phát hiện vấn đề, đề xuất, xây dựng và trình bày ý
tưởng cũng như các kỹ năng mềm liên quan như: khả năng giao tiếp, phối
hợpNói đến thực trạng đội ngũ cần tính toán đến 2 mặt: số lượng và chất
lượng.Về tổ chức đội ngũ tham mưu: công tác tổ chức nhân sự tham mưu tập
trung vào các nhiệm vụ: Lập kế hoạch, thực hịên, kiểm tra, đánh giá các nội
dung: đào tạo, bổ nhiệm, tuyển dụng, xây dựng lực lượng; phân công nhiệm
vụ, đánh giá, đảm bảo chính sách, chế độ, xây dựng quy trình thực hiện,
phương pháp phối hợp thực hiện
Xây dựng năng lực đội ngũ tham mưu trong tổ chức làm việc với lãnh
đạo.
2.5. Phương tiện kỹ thuật, công nghệ tham mưu
2.5.1. Khái niệm kỹ thuật,phương pháp kỹ thuật
Cán bộ tham mưu thực hiện nhiệm vụ xử lý thông tin, xây dựng
phương án đề xuất trình lãnh đạo thông qua hệ thống các công cụ kỹ thuật và
công nghệ, bao gồm: hệ thống trang thiết bị, cơ sở kỹ thuật phục vụ tham
mưu; Tổ chức cơ sở dữ liệu, thông tin, hồ sơ tài liệu; các công cụ, phương
tiện cơ bản thực thi nhiệm vụ tham mưu.
2.5.2. Trang thiết bị kỹ thuật tham mưu
Cũng như các vị trí trong bộ máy hành chính, trang thiết bị kỹ thuật cơ
bản phục vụ tham mưu thường bao gồm:
12
- Trang thiết bị kỹ thuật, máy móc phục vụ tham mưu trong tổ chức xử
lý thông tin, chia sẻ dữ liệu;
- Trang thiết bị máy móc phục vụ hội nghị, thực hịên các nhiệm vụ tham
mưu;
- Trang thiết bị liên kết, phối kết hợp trong họat động tham mưu;
- Trang thiết bị phục vụ kiểm soát hệ thống;
- Dịch vụ kỹ thuật trong tham mưu ;
- Công cụ thuộc về tính năng máy móc,kỹ thuật như máy tính, phần
mềm chuyên dụng, các thiết bị tuyền thông, liên lạc
2.6. Quy trình, phương pháp thực hiện hoạt động tham mưu
2.6.1. Phương pháp xác định vấn đề
Phương pháp xác định vấn đề một cách chính xác đòi hỏi dựa trên việc
xây dựng nguồn tin, kênh thông tin, đảm bảo tính kịp thời của thông tin. Đặc
biệt cần coi trọng tính chính xác, đầyđủ của thông tin và một yêu cầu nữa là
tính dự báo cao của thông tin quản lý, cần có cơ sở dữ liệu về diễn biến, quá
trình lịch sử của vấn đề để xác định mức độ tất yếu vấn đề sẽ phát sinh, giúp
cho việc đầu tư giải quyết vấn đề được hiệu quả, tránh lãng phí. Đồng thời
phát hiện vấn đề cần mang tính kịp thời để giúp cho các cấp quản lý chủ động
ứng phó.
2.6.2. Tổ chức hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin cho tham mưu
Theo đặc thù của hoạt động quản lý hành chính, hoạt động đảm bảo
thông tin trong công tác tham mưu cũng bao gồm các nội dung sau:Tổ chức
nguồn tin, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, dịch vụ cung cấp thông tin, công
tác quản lý hồ sơ, tài liệu trong tham mưu. Nội dung công tác xử lý thông tin
trong tham mưu bao gồm:
- Thu thập, đánh giá, phân loại, kiểm tra, chọn lọc, sắp xếp;
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, lưu giữ, tra tìm;
- Tổng hợp, phân tích, xây dựng phương án;
- Xây dựng nguồn tin, tổ chức nguồn tin;
- Phân tích hoàn cảnh, tình huống.
Tính kịp thời và bảo mật: Một trong những vấn đề quan trọng trong quá
trình xử lý thông tin mà người tham mưu cần đảm bảo đó là tính kịp thời và
bảo mật của thông tin. Thông tin tham mưu đặc biệt quan trọng do nó phục
vụ cho việc đề ra chiến lược chỉ đạo, điều hành. Nguyên tắc làm việc của bộ
máy tham mưu cần được xây dựng trên cơ sở cơ chế bảo mật mang tính yêu
13
cầu cá nhân nhưng cần kết hợp một cách tối ưu với phương án chia sẻ thông
tin giữa các ngành, lĩnh vực.
2.6.3. Phương pháp, xây dựng phương án, chiến lược, kế hoạch, quy
hoạch
Xây dựng phương án trong tham mưu là bước tiếp theo trong quy trình
tham mưu sau các hoạt động xác định vấn đề và xử lý thông tin trong tham
mưu.
Xây dựng phương án trong tham mưu là xây dựng giải pháp nhằm giải
quyết vấn đề được xác định. Yêu cầu đối với việc xây dựng phương án trong
tham mưu cần được đảm bảo tính khách quan, hợp lý, khả thi, kịp thời, phù
hợp với mục tiêu, mục đích quản lý, tiết kiệm, hiệu quả, đúng căn cứ, đúng
thẩm quyền và các yêu cầu cụ thể cần đặt ra
2.6.4. Phương pháp trình bày đề xuất, là, việc với lãnh đạo:
Nhóm kỹ năng làm việc với lãnh đạo có thể có 2 khía cạnh:
- Kỹ năng làm việc trực tiếp với lãnh đạo;
- Kỹ năng làm việc gián tiếp với lãnh đạo, thông qua việc thực thi các
nhiệm vụ phục vụ lãnh đạo.
2.7. Kinh nghiệm công tác tham mưu hành chính trên thế giới
Kinh nghiệm một số quốc gia như Pháp tuyển chọn rất khắt khe 200/
hàng ngàn người. Mô hình tổ chức cơ chế tham mưu độc lập, mô hình đổi
mới tổ chức, hoạt động của Chính phủ.
Một số nước trên thế giới xây dựng quy trình tham mưu theo hướng tăng
cường trách nhiệm tham mưu trong thẩm định tính hợp pháp của văn bản.
Mô hình phát triển các viện chính sách ( Châu Á, Mỹ..).
14
Chương 3
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THAM MƯU CỦA CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG
3.1. Khái quát về cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương
Luận án giới thiệu khái quát tổ chức hoạt động, cơ cấu tổ chức, chức
năng nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương gồm
Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp
thuộc bộ.
3.2. Hệ thống văn bản quy định hiện hành và thực trạng cơ cấu tổ
chức bộ máy tham mưu hành chính nhà nước
3.2.1. Hệ thống văn bản quy định hiện hành của nhà nước về công
tác tham mưu
Thời gian qua, những nội dung những văn bản trên đã được áp dụng
đem lại hiệu quả to lớn trong việc ban hành chính sách thiết thực, phù hợp
với các tiêu chí hội nhập.
Tuy nhiên, những yêu cầu về cải cách bộ máy và xây dựng thể chế
trong tình hình mới về hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, phá vỡ thế khó
khăn, trì trệ hiện nay cũng như những lúng túng trong vận dụng chính sách
xây dựng nền hành chính với hàm lượng tri thức cao đặt ra cho việc cải cách
thể chế một cách linh hoạt hơn, đặc biệt là trong xây dựng đội ngũ chuyên
gia, thu hút nhân tài trong bộ máy công chức hành chính và trách nhiệm đối
với chất lượng tham mưu.
Vẫn còn nhiều bất cập trong các nội dung văn bản quy định hiện hành
như: chưa xác định rõ và thẩm quyền, trách nhiệm phân cấp quản lý ở trung
ương và chế độ trách nhiệm của người đứng đầu trong hệ thống cơ quan hành
chính....
3.2.2. Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy tham mưu HCNN
Thời gian qua, Chính phủ đã rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, tiếp tục xây dựng, sửa đổi, bổ sung các
văn bản, như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa
phương. Đã ban hành các nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ.
Tuy về cơ bản, bộ máy tham mưu hành chính đã được cơ cấu lại tương
đối hợp lý, song vẫn còn nhiều vấn đề bất cập chưa được giải quyết đặt ra
nhiệm vụ cho thời gian tới.
15
3.2.3. Thực trạng đội ngũ nhân sự tham mưu của cơ quan HCNN ở
TƯ
Kết quả khảo sát cho thấy có đặc điểm năng lực đội ngũ tham mưu
hành chính có nhiều thay đổi tích cực theo định hướng cải cách hành chính.
Những thay đổi này có liên quan trực tiếp đến những đổi mới trong công tác
tuyển dụng, bố trí cán bộ tham mưu. Bên cạnh những thành tựu đạt được,
năng lực đội ngũ tham mưu cũng nảy sinh nhiều bất cập. Từ đây đặt ra yêu
cầu đổi mới mạnh mẽ hơn nữa công tác tuyển dụng, bố trí cán bộ tham mưu.
3.3. Thực trạng quy trình thực hiện công tác tham mưu hành chính
NN ở trung ương
3.3.1. Thực trạng kỹ năng phát hiện vấn đề
Những vấn đề do tham mưu phát hiện thường được tiến hành thông qua
các cuộc họp giao ban, tiếp xúc với đại diện các cục thực thi: các cục thực thi
báo cáo những trường hợp chưa giải quyết, chậm giải quyết, những vướng
mắc do quy định pháp luật chưa rõ ràng, đầy đủ. Việc thực hiện nội dung này
còn nhiều bất cập như xác định vấn đề chưa trúng, chưa sâu, chưa kịp thời.
3.3.2. Thực trạng tổng hợp, phân tích thông tin
Khảo sát sơ bộ thì trong 3 năm gần đây, hầu như tất cả những đề xuất
chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đều có lấy ý kiến. Tuy
nhiên, mức độ thực hiện thì có sự khác nhau. Trách nhiệm của tham mưu
trong vấn đề này là chưa xây dựng được danh mục hệ thống các tổ chức, cá
nhân cần lấy ý kiến. Hồ sơ đánh giá tác động trong 1-2 năm gần đây có được
chú ý đảm bảo thực hiện, song còn mang tính hình thức và sơ sài.
3.3.3. Thực trạng xây dựng nội dung báo cáo
Trên thực tế, các báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước vẫn chưa
thực sự đầy đủ khi thiếu phần phân tích hiệu quả. Các con số thống kê trong
báo cáo chưa đủ làm căn cứ, dữ liệu để đánh giá một cách khách quan và đầy
đủ tình hình và năng lực quản lý nhà nước của các cấp các ngành.
3.3.4. Thực trạng áp dụng công thức thống kê- dự báo
Một vấn đề nữa là công thức tính để thống kê cần chính xác, thống nhất
và phù hợp thực tiễn. Có nhiều quyết định dựa trên số liệu đúng nhưng công
thức tham mưu tính sai hoặc quá cũ cũng gây nguy hại.
3.3.5. Thực trạng xây dựng, đề xuất phương án trình lãnh đạo
Luận án đã đánh giá hiệu quả vịêc áp dụng các phương pháp tư duy ở
mức trung bình: Phác thảo, xây dựng hệ thống ý tưởng, năng lực liên hệ các
vấn đề tổng hợp, dự báo diễn biến của đội ngũ tham mưu;Đánh giá năng lực
16
tiếp cận lãnh đạo, trình bày ý tưởng của tham mưu, khả năng thuyết phục của
tham mưu, chiêu thức PR cho chính sách.
3.4. Thực trạng đánh giá chất lượng hoạt động tham mưu của cơ
quan HCNN ở trung ương
3.4.1. Thực trạng đánh giá sản phẩm tham mưu
Nội dung luận án đề giới thiệu bảng tổng hợp khảo sát đánh giá sản
phẩm tham mưu qua các năm.
Qua kết quả báo cáo rà soát văn bản quy phạm pháp luật quy ra điểm
số theo thang điểm 100 và qua khảo sát ý kiến đánh giá sự hài lòng từ phía
lãnh đạo, chủ thể sử dụng cán bộ tham mưu, tổng hợp điểm trung bình có thể
thấy sự đánh giá năng lực và chất lượng tham mưu tăng từ trung bình lên
mức tốt qua từng năm tuy nhiên không tăng đều đặn.
Việc tăng nhanh hoặc tăng chậm có thể thấy do tác động của môi
trường kinh tế xã hội đòi hỏi ngày một cao đối với chất lượng tham mưu. Sự
cải tiến chất lượng tham mưu nếu không ngày càng quyết liệt và có chiến
lược cụ thể thì sẽ không đáp ứng đươc sự thay đổi rất nhanh của xã hội.
3.4.2. Thực trạng công tác đánh giá công chức tham mưu
Việc đánh giá còn dễ dãi, nhiều khi mang tính cào bằng và tạo nên tâm lý
chán nản cho những nhân sự tốt, có năng lực và nhiệt huyết trong bộ máy. Tiêu
chí đánh giá kết quả công tác hàng năm đối với đội ngũ tham mưu chưa rõ ràng.
Thiếu thông tin về hiệu quả thực tế của phương án do tham mưu tổng hợp, đề
xuất.
Thời gian vừa qua cũng ghi nhận những cải tiến nhất định của cơ quan
hành chính NN trong quản lý nhân sự có trình độ, bằng các văn bản quy đinh và
các biện pháp triển khai thực hiện, giúp cho đội ngũ tham mưu giúp việc có sự
điều chỉnh, thanh lọc, có thái độ làm việc nghiêm túc, tập trung hơn.
3.4.3. Định giá sản phẩm tham mưu
Tính chi phí và đánh giá các đề xuất chính sách là 2 nội dung hoạt động khác
nhau với các mục tiêu khác nhau. Tính chi phí để định giá chi trả cho những đề
xuất. Các quyết định sách lược và giải quyết sự vụ cũng không được đánh giá đề
đánh giá chất lượng tham mưu. Luận án xây dựng phương pháp định giá sản phẩm
tham mưu, làm tiền đề xây dựng thị trường ý tưởng.
3.5. Thực trạng các điều kiện đảm bảo hiệu quả cho hoạt động
tham mưu của cơ quan HCNN ở trung ương
3.5.1. Thực trạng công tác nhân sự tham mưu
17
Cách thức tuyển dụng về yêu cầu kỹ thuật đặt ra là tương đối phù hợp
với tiêu chí nền đối với đội ngũ chuyên môn, song việc tuyển dụng công chức
nguồn vẫn chưa mang tính sáng tạo, linh hoạt, chưa đánh giá được năng lực
về sự sáng tạo, kinh nghiệm, bản lĩnh. Vẫn còn thiếu những tiêu chí đánh giá
về khả năng làm việc độc lập, phương pháp phân tích và xử lý thông tin để
xây dựng giải pháp.
Về nội dung, chương trình, công tác mở lớp và quản lý lớp: Kết quả ứng
dụng kiến thức kỹ năng đào tạo vào công việc chuyên môn của đội ngũ tham
mưu cũng có những đột phá, tuy vẫn còn mang tính lẻ tẻ, chưa được sâu
rộng, phổ biến, chưa nâng đến tầm áp dụng công nghệ. Luận án giới thiệu
bảng tổng hợp kết quả đánh giá công tác mở lớp đào tạo cán bộ tham mưu.
3.5.1. Thực trạng đảm bảo các điều kiện, tổ chức thông tin, quản lý hồ sơ,
tài liệu trong tham mưu
Luận án giới thiệu bảng tổng hợp đặc điểm thông tin phục vụ tham mưu
chính sách. Nội dung đánh giá cho thấy:
Việc tổ chức thông tin vẫn chưa áp dụng đồng đều, công tác quản lý hồ sơ,
tài liêu giấy còn cẩu thả, tuỳ tịên (nhiều nơi thiếu danh mục hồ sơ, việc lựa chọn
tiêu đề chưa khoa học, chưa xác định được thời hạn bảo quản tài liệu, việc nộp
lưu còn rất hạn chế, thông tin chưa được phân loại);
Đặc biệt, việc áp dụng công nghệ thông tin trong lưu trữ và tổng hợp, phân
tích thông tin trong các vụ còn yếu. Luận án giới thiệu đặc điểm nguồn thông
tin thực tiễn và hoạt động đi thực tế của tham mưu.
3.5.3. Tổng hợp điều kiện, tổ chức đảm bảo hiệu quả công tác tham mưu
Luận án giới thiệu bảng tổng hợp xác định mối quan hệ giữa chất
lượng tham mưu với các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tham mưu
cùng với phân tích nội dung. Luận án chỉ ra mức độ thỏa mãn yêu cầu thực
tiễn các điều kiện về mặt tổ chức chưa giải quyết được các thách thức đối với
hoạt động tham mưu trong giai đoạn tới.
3.6. Đánh giá chung và và phân tích nguyên nhân chất lượng hoạt
động tham mưu
Đánh giá chung về đặc điểm đội ngũ tham mưu cho thấy về cơ bản, đội
ngũ tham mưu đáp ứng những yêu cầu, nguyên tắc chung của công tác này.
Tuy nhiên, đối chiếu với nhiệm vụ và yêu cầu cải cách hành chính trong tình
hình mới, thực trạng đội ngũ chưa thể đáp ứng được yêu cầu đổi mới, cụ thể
là những yêu cầu về tính linh hoạt, tập trung trí tuệ, tổ chức xử lý thông tin
kịp thời và đưa ra các dự báo tầm xa.
18
Nguyên nhân chủ quan trong khâu tổ chức, quản lý, đào tạo bồi dưỡng
bộ máy, nhân sự tham mưu:
Đội ngũ tham mưu chưa có nhiều cải tiến trong hoạt động xuất phát từ
chính năng lực của đội ngũ này, bắt đầu từ khâu tuyển dụng, đào tạo và sử
dụng cán bộ. Tiêu chuẩn sử dụng, đánh giá năng lực đội ngũ tham mưu vẫn
còn chung chung, từ đó chưa có cơ sở đổi mới hoạt động tuyển dụng, đào tạo,
cũng như khó xây dựng cơ chế khuyến khích đặc biệt đối với đội ngũ này.
Về tổ chức bộ máy, các viện nghiên cứu còn tản mát, hoặc mang tính
hình thức, chưa phát huy hiệu quả nghiên cứu khoa học ứng dựng vào thực
tiễn xây dựng chính sách.
Các nguyên nhân trên có mối quan hệ hữu cơ với nhau đòi hỏi xây dựng
giải pháp đồng bộ, có kế hoạch trước mắt và lâu dài tăng cường năng lực đội
ngũ tham mưu.
19
Chương IV
QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
THAM MƯU CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở TRUNG
ƯƠNG
4.1. Quan điểm chỉ đạo, giải pháp thể chế hóa, đổi mới cơ chế, tổ
chức bộ máy tham mưu
4.1.1. Quan điểm chỉ đạo về đổi mới công tác tham mưu cơ quan HCNN ở
trung
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- tom_tat_luan_an_hoan_thien_cong_tac_tham_muu_cua_co_quan_han.pdf