Tóm tắt Luận án Quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2015

ĐÁNH GIÁ CHUNG

4.1.1. Thành tựu

+ Về kinh tế: Nhờ cải cách, kinh tế Ấn Độ đã có những bước phát triển vượt bậc.

Từ một nền kinh tế trì trệ khủng hoảng, GDP Ấn Độ tăng trưởng một cách nhanh chóng.

Hiện nay, theo số liệu của Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ 7 thế giới

xét theo GDP danh nghĩa (năm 2015 GDP của Ấn Độ đạt trên 2 tỷ USD) [Xem thêm phụ

lục 3] và lớn thứ ba thế giới xét theo sức mua tương đương (PPP). Ấn Độ trở thành một

trong số các nền kinh tế có mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới và được nhận định là

một nước công nghiệp mới (NICS).

+ Về chính trị: Chính trị nội bộ được duy trì tương đối ổn định. Mặc dù còn nhiều

vụ khủng bố, mâu thuẫn tôn giáo và đấu tranh gay gắt giữa các đảng nhưng Ấn Độ xử lý

khéo léo, đảm bảo an ninh quốc gia. Với chính sách đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt mà trọng

điểm là “Chính sách hướng Đông” sau này chuyển thành chính sách “Hành động ở phía

Đông”, “Chính sách văn hóa mềm”. đã giúp Ấn Độ có một vị thế và tầm ảnh hưởng lớn18

trên thế giới và đặc biệt là khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sau khi Thủ tướng N.Modi

lên nắm quyền với những chính sách ngoại giao quyết đoán và năng động hơn đã khiến Ấn

Độ đột ngột nổi lên trong nhận thức chiến lược toàn cầu. Tất cả điều này đã khiến Hoa Kỳ,

Nga, Nhật Bản, Trung Quốc và Australia điều chỉnh ưu tiên chính sách đối ngoại với Ấn

Độ. Vị thế và ảnh hưởng của Ấn Độ ngày càng gia tăng tại các khu vực và các diễn đàn đa

phương trên thế giới.

+ Về an ninh - quốc phòng: Ấn Độ có tiềm lực quốc phòng mạnh thứ tư thế giới (sau

Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga); quân chính quy và dự bị đông thứ 2 thế giới (4,207,250 người)

[169]; có vũ khí hiện đại như máy bay chiến đấu đa năng, tên lửa mang đầu đạn nhân tầm

bắn 3.500 km, tên lửa siêu âm, 5000 xe tăng, 3.200 pháo cao xạ, lực lượng hải quân hùng

mạnh.[45, tr.51]. Việc sở hữu vũ khí hạt nhân giúp Ấn Độ có vai trò răn đe chiến lược ở

Nam Á và toàn cầu. Ấn Độ đã trở thành thành viên của một loạt các cơ chế an ninh khu vực

như: ARF (1995), ReCAAP (2006), ADMM + (2010), SCO (2017). Ấn Độ tham gia vào các

cuộc tập trận đa phương trên Biển Đông và Thái Bình Dương. Hợp tác an ninh - quốc

phòng với các nước như Singapore, Nhật bản, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam

được nâng cấp và cải thiện đáng kể.

+ Về văn hóa - xã hội và khoa học công nghệ: Với “Chính sách văn hóa mềm” và

“Ngoại giao Phật giáo”, Ấn Độ đã thành công trong việc quảng bá hình ảnh của một đất

nước đa sắc tộc, đa văn hóa với thế giới và trở thành một điểm du lịch hành hương với hệ

thống dày đặc các viện bảo tàng, các danh lam thắng cảnh mang đậm nét văn hóa của Ấn

Độ đối với các tín đồ Phật giáo trên toàn cầu. Ấn Độ còn đẩy mạnh phát triển ngành điện

ảnh Bollyhood và môn thể thao tâm linh Yoga.

Ấn Độ được đánh giá là trung tâm nguồn nhân lực chất lượng trên toàn thế giới

đặc biệt trong lĩnh vực IT, khoa học kỹ thuật và y học. Một số ngành khoa học và công

nghệ của Ấn Độ (hạt nhân, nghiên cứu vũ trụ, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,

hóa chất, dược phẩm, hải dương học, thủy tinh lỏng, siêu dẫn, công nghệ nano, năng

lượng mới.) ở trình độ ngang với các nước phát triển

pdf27 trang | Chia sẻ: trungkhoi17 | Lượt xem: 351 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2015, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
oát chặt chẽ của nhà nước thông qua các đạo luật nhằm ngăn chặn xu hướng tập trung hóa dẫn tới tư bản độc quyền. Ấn Độ chủ chương đẩy mạnh công nghiệp hóa, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Thủ tướng J.Nehru cho rằng công nghiệp nặng là điều kiện cơ bản cho công nghiệp hóa. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp nhẹ được phát triển rộng khắp nhằm đáp ứng mọi tiêu dùng trong nước. Với đường lối độc lập, tự lực cánh sinh, Ấn Độ thực hiện chính sách đóng cửa và chính sách thay thế nhập khẩu. Nông nghiệp cũng được ưu tiên phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực và nguyên liệu cho công nghiệp. Tất cả các chiến lược phát triển cụ thể được xây dựng thông qua các Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm. Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, Thủ tưởng Indira Gandhi đã tiến hành cải cách kinh tế mạnh mẽ. Ngoài việc nới lỏng việc cấp phép, chính phủ còn điều chỉnh Luật Hạn chế độc quyền và thương mại (MRTP), nâng mức giới hạn tài khoản của công ty từ 200 triệu Rupee lên 01 tỷ Rupee; điều chỉnh Luật Kiểm soát ngoại hối (FERA); điều chỉnh chính sách ngoại thương.... Vì vậy, nền kinh tế Ấn Độ từng bước khởi sắc. Tuy nhiên, chỉ sau 2 năm cải cách (1985 - 1987), nền kinh tế Ấn Độ lại rơi vào trì trệ. Trước tình hình đó, tháng 6/1988, Ấn Độ công bố chính sách cấp giấy phép cho các công trình đầu tư vào các vùng sâu, vùng xa, lạc hậu; đồng thời có những chính sách ưu đãi thuế cho các công trình này. Đến năm 1990, Ấn Độ triển khai Chính sách công nghiệp chú trọng hơn tới đầu tư nước ngoài và khuyến khích sản xuất cho xuất khẩu. * Trên lĩnh vực chính trị: Sau khi độc lập, Ấn Độ đã thực hiện một loạt chính sách, cải cách từ chính trị đến kinh tế, xã hội nhằm củng cố nền độc lập, xây dựng một hệ thống chính trị hòa hợp dân tộc, phát triển kinh tế, thúc đẩy công bằng và dân chủ. Ngày 26/01/1950, Ấn Độ tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Ấn Độ và ban hành Hiến pháp mới, trong đó quy định, Nhà nước Ấn Độ tổ chức theo hình thức “liên bang” và chế độ “dân chủ đại nghị” với hai viện Thượng viện (Viện liên bang) và Hạ viện (Viện Nhân dân); Tổng thống là nguyên thủ quốc gia; Thủ tướng đứng đầu Hội đồng Bộ trưởng. Hiến pháp năm 1950 cũng quy định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, chính quyền bang và vùng lãnh thổ liên bang, cũng như vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng thống, Thủ tướng và nhân dân.Tiếp đó, để kiện toàn nền chính trị chính thể Cộng hòa thông qua các cuộc tổng tuyển cử. * Trên lĩnh vực ngoại giao: Ấn Độ chủ trương xây dựng phát triển đất nước theo con đường độc lập dân tộc và tự lực tự cường, thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, không liên kết, hữu nghị với tất cả các nước. * Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng: 10 Nhận thức được tầm quan trọng của sức mạnh an ninh, quốc phòng đối với sự nghiệp củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc, kể từ sau khi giành độc lập, Ấn Độ tập trung tăng cường xây dựng và củng cố trên nhiều phương diện khác nhau. * Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội: Trước tiên, chính phủ Ấn Độ tiến hành pháp lý hóa ngôn ngữ. Tiếp đó, Chính phủ Ấn Độ tiến hành hội nhập các bộ lạc trên cở sở bảo tồn những di sản xã hội và nền văn hóa phong phú của các bộ lạc. Bên cạnh đó, nhiều chương trình, đề án phúc lợi cho sự phát triển của các bộ lạc thuộc vùng Đông Bắc, Nagaland, Mizoram, Jharkhand được xây dựng và triển khai bởi chính phủ thông qua các kế hoạch 5 năm nhằm cải thiện điều kiện kinh tế, giáo dục cũng như thúc đẩy tiến bộ cho phụ nữ và trẻ em. Việc ổn định các cộng đồng bộ lạc nói chung, vùng tiếp giáp với biên giới Tây Tạng nói riêng không những đảm bảo được an ninh biên giới mà còn góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú nền văn hóa Ấn Độ. 2.3.3. Tình hình của Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh * Về kinh tế: Vào cuối những năm 1980, khi Thủ tướng Rajiv Gandhi lên nắm quyền, đã có những điều chỉnh trong cải cách kinh tế như nới lỏng các hạn chế tham gia của nước ngoài vào các ngành công nghiệp, điều chỉnh luật hạn chế độc quyền, luật kiểm soát ngoại hối, chính sách ngoại thương... Nền kinh tế Ấn Độ có những dấu hiệu tăng trưởng: GDP tăng 5,4% so với 3,5% những thập kỷ trước; công nghiệp tăng bình quân 7% so với 5%, vốn đầu tư tăng 4 lần [36, tr.9]. Mặc dù những cải cách của vị Thủ tướng trẻ tuổi đầy nhiệt huyết này đã có tác động tích cực đến nền kinh tế nhưng do những rào cản của bộ máy quan liêu, những phản kháng đối với công cuộc cải cách từ những tập đoàn tư bản trong nước vốn được nhà nước bảo hộ đã khiến cho nền kinh tế Ấn Độ lại rơi vào tình trạng trì trệ. Tổng thu nhập quốc nội (GDP) không đạt được 7% như mục tiêu đề ra mà còn suy giảm nghiêm trọng. Khu vực thuộc sở hữu nhà nước phình to đi đôi với hệ thống bao cấp nặng nề thông qua hàng loạt các hình thức như bao cấp tài chính, lương công chức cao, lãi tức thấp. Vì vậy, vào đầu những năm 1991, gần một nửa số công ty thuộc sở hữu nhà nước bị nợ với tổng mức là 1 tỷ USD. Đến năm 1991, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu đã khiến Ấn Độ mất đi một chỗ dựa lớn về kinh tế, cùng với những tác động xấu từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh khiến Ấn Độ mất đi thị trường ở Trung Đông, nền kinh tế vốn đã yếu kém và trì trệ đã rơi vào cuộc khủng hoảng vô cùng nghiêm trọng. * Về chính trị: Do tình hình kinh tế khủng hoảng kéo theo những bất ổn về mặt chính trị một cách nghiêm trọng. Kể từ khi giành được độc lập năm 1947, tình hình chính trị của Ấn Độ luôn có những diễn biến phức tạp do những mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo thì đến lúc này những mâu thuẫn đó lại càng có điều kiện để phát triển. Những suy thoái về kinh tế cùng với những hỗn loạn về mặt xã hội dẫn đến dân mất lòng tin vào Chính phủ. Về mặt đối ngoại, uy tín của Ấn Độ trên trường quốc tế bị suy giảm nghiêm trọng. * Về an ninh: Sau Chiến tranh lạnh, Ấn Độ luôn phải đối mặt với tình hình an ninh bất ổn do những mối đe dọa khủng bố ở các bang Jammu, Kashmir và Punjab. Ở vùng Đông Bắc, 11 tình hình an ninh vẫn rất phức tạp với nhiều tổ chức chống đối Chính phủ được tái thành lập hoặc ra đời như nhóm ly khai Lực lượng con hổ Tripura (ATTF), Mặt trận giải phóng dân tộc Tripura (NLFT) có tư tưởng chống những người nhập cư Bengal. Ở Nagaland, Tổ chức Hội đồng xã hội chủ nghĩa quốc gia Nagaland (NSCN) trở thành lực lượng ly khai có vũ trang, một lực cản đối với những nỗ lực ổn định tình hình của chính quyền bang Nagaland cũng như chính phủ Ấn Độ. Sau nhiều nỗ lực, năm 1997, chính phủ mới chỉ đạt được hiệp định đình chiến với tổ chức này. Có thể nói, đây là thời kỳ khó khăn nhất trong quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ. Đối nội thì “đứng trước bờ vực”, đối ngoại thì “bị lu mờ như không thể tồn tại”. Để vực dậy nền kinh tế khủng hoảng trầm trọng, Cộng hòa non trẻ này buộc phải thực hiện cải cách kinh tế và mở rộng ảnh hưởng chính trị của mình ra khỏi khu vực Nam Á. Tiểu kết chƣơng 2 Quá trình củng cố và bảo vệ độc lập của Cộng hòa Ấn Độ giai đoạn 1991 - 2015 chịu tác động bởi nhiều nhân tố ở cả cấp độ quốc tế, khu vực và cấp độ quốc gia mang lại cả thuận lợi và thách thức đối với quốc gia này. Về thuận lợi: Thứ nhất, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới thay đổi căn bản với những xu thế thuận lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển. Sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hóa, sự cạnh tranh, hợp tác và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Điều này tạo cơ hội cho quốc gia củng cố độc lập về kinh tế, kích thích tăng trưởng và mở rộng về thị trường; tận dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ vào sản xuất và điều hành đất nước. Thứ hai, Ấn Độ là một quốc gia có dân số đông thứ hai thế giới rất thuận lợi cho việc xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh và cung cấp nguồn lao động tại chỗ. Là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, giàu truyền thống văn hóa, người dân ôn hòa, trách nhiệm... tạo nên sức mạnh mềm giúp Ấn Độ vươn mình ra thế giới. Thứ ba, quan hệ giữa các nước lớn và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt ở khu vực Nam Á và Châu Á - Thái Bình Dương diễn ra sôi động sau Chiến tranh lạnh cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Ấn Độ tăng cường hợp tác, tranh thủ sự ủng hộ về chính trị để phát triển kinh tế, củng cố an ninh - quốc phòng... nếu Ấn Độ biết tận dụng những lợi ích xen cài. Thứ tư, những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng kể từ khi Ấn Độ giành quyền tự trị (1947) đến năm 1991 là nền tảng, cơ sở cho quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc sau này. Về thách thức: Thứ nhất, tình hình kinh tế của Ấn Độ những năm 90 của thế kỷ XX rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng kéo theo những bất ổn về mặt xã hội khiến cho vị thế của Ấn Độ suy giảm trên bản đồ chính trị thế giới. Thứ hai, ngoài những mâu thuẫn về chính trị, an ninh, chủ quyền lãnh thổ giữa Ấn Độ và Pakistan, Trung Quốc - yếu tố tác động trực tiếp đến củng cố và bảo vệ độc lập chủ quyền của Ấn Độ, Cộng hòa non trẻ này luôn phải đối mặt với những vấn đề an ninh phi truyền thống cũng như mâu thuẫn về sắc tộc, chủ nghĩa tôn giáo cực đoan, khủng bố, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, bệnh tật, tham nhũng, thất nghiệp, biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường. Các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống này tác động mạnh mẽ đến độc lập dân tộc, chủ quyền, an 12 ninh quốc gia, đến con đường phát triển kinh tế độc lập tự chủ, đến vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc của Ấn Độ. Có thể khẳng định, đây là những vấn đề cốt lõi mà các nhà lãnh đạo của Ấn Độ trong suốt gần 3 thập niên qua chưa thể giải quyết triệt để được. Thứ ba, hợp tác là xu thế chính trong quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh nhưng cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt đòi hỏi Ấn Độ phải khéo léo, linh hoạt trong việc hài hòa mối quan hệ với các nước để đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc. Như vậy, quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ vận động trong bối cảnh quốc tế, khu vực và tình hình phức tạp trong nước đòi hỏi các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách của Ấn Độ phải có những quyết sách cải cách phù hợp để phát triển đất nước trong tình hình mới. Những chiến lược đó là gì, tác giả sẽ trình bày chi tiết ở Chương 3. Chƣơng 3 NỘI DUNG CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ GIAI ĐOẠN 1991 - 2015 3.1. GIAI ĐOẠN 1991 - 2000 Năm 1991, sự bất ổn định chính trị nội bộ trong nước, sự kiện Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, cuộc chiến tranh Vùng Vịnh đã tác động xấu tới nền kinh tế, Ấn Độ rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Nguy cơ vỡ nợ trở thành sức ép lớn đòi hỏi chính phủ mới của Thủ tướng N.Rao không có lựa chọn nào khác là phải có một cuộc cải cách lớn và toàn diện, một cuộc “đại phẫu thuật”, mang lại sức sống mới cho nền kinh tế Ấn Độ trong bối cảnh nhiều nước ở châu Âu, châu Á đang đi theo xu thế tự do hóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. 3.1.1. Trên lĩnh vực kinh tế Năm 1991, sự bất ổn định chính trị nội bộ trong nước, sự kiện Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, cuộc chiến tranh Vùng Vịnh đã tác động xấu tới nền kinh tế, Ấn Độ rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Ngay sau khi lên cầm quyền, cùng với Bộ trưởng Tài chính Manmohan Singh, chính phủ mới của Thủ tướng N.Rao đã tập trung vạch ra những định hướng phát triển kinh tế với 4 trọng tâm: - Lấy lại cân bằng kinh tế vĩ mô, giảm bớt thâm hụt ngân sách chính phủ, kiềm chế lạm phát; - Tăng hiệu quả kinh tế khu vực quốc doanh bằng cách tái cấu trúc; - Thúc đẩy phát triển doanh nghiệp tư nhân, khuyến khích đầu tư nước ngoài; - Từng bước tự do hóa thị trường tài chính, thả nổi một phần đồng Rupee, giảm thuế quan, thúc đẩy xuất nhập khẩu. Giai đoạn đầu của chiến lược cải cách được cụ thể hóa ở các Kế hoạch 5 năm lần thứ tám và Kế hoạch 5 năm lần thứ chín. Tư tưởng chủ đạo của các Kế hoạch này là cải cách chính sách kinh tế vĩ mô với các lĩnh vực được ưu tiên như nông nghiệp, công nghiệp, ngoại thương, tài chính - tiền tệ - ngân hàng. 3.1.2. Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao 3.1.2.1. Điều chỉnh chính sách đối ngoại với các nước lớn Để củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc một cách toàn vẹn, Ấn Độ cần xây dựng cho được môi trường khu vực và quốc tế hòa bình, ổn định để hợp tác cùng phát triển, đặc 13 biệt đối với Trung Quốc, Mỹ, Nga, Nhật Bản, sự điều chỉnh này đã có tác động không nhỏ đến việc tăng cường sức mạnh của Ấn Độ trên trường quốc tế 3.1.2.2. Thực hiện chính sách đối với các nước láng giềng khu vực Duy trì sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo an ninh quốc gia luôn là ưu tiên hàng đầu của Cộng hòa Ấn Độ trong công cuộc bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc. Vì vậy, một trong số những mục tiêu của chính sách ngoại giao của Ấn Độ là thiết lập mối quan hệ hợp tác thân thiện và bền vững với các quốc gia láng giềng nhằm đảm bảo cho một môi trường an ninh tích cực ở khu vực Nam Á, đồng thời, ngăn chặn các lực lượng từ bên ngoài ủng hộ cho các phong trào chính trị và các lực lượng nổi dậy đang đe dọa đến sự toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước. Cùng với những điều chỉnh mối quan hệ với Trung Quốc trong việc giải quyết tranh chấp biên giới với nước này, các nước láng giềng khu vực Nam Á cũng được Ấn Độ đặc biệt coi trọng. 3.1.2.3.Triển khai Chính sách hướng Đông Sau Chiến tranh lạnh, trước những thay đổi của tình hình thế giới và khu vực, nhu cầu cải cách để phát triển, nhiệm vụ của nền ngoại giao Ấn Độ là phải tìm kiếm các đối tác kinh tế để phục vụ cho công cuộc cải cách này. Đồng thời, thông qua những nỗ lực kinh tế, Ấn Độ muốn xây dựng và mở rộng hình ảnh của mình ra khỏi khu vực Nam Á. Chính vì thế, cùng với những điều chỉnh chính sách đối ngoại với các nước lớn, các nước láng giềng khu vực, Chính sách hướng Đông được Ấn Độ chọn lựa để vươn mình ra khu vực năng động và đầy tiềm năng mang lại cho Ấn Độ nhiều lợi ích chiến lược, khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó ASEAN là trụ cột cho chính sách này. 3.1.3. Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng Quan điểm của Ấn Độ là xây dựng tiềm lực quốc phòng đủ mạnh để đảm bảo an ninh quốc gia và củng cố vị trí bá quyền tại Nam Á, đạt được thế thượng phong về mặt quân sự trong khu vực Ấn Độ Dương và đạt được sức mạnh quân sự đủ để gây áp lực lên cộng đồng quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao vị thế của mình. Cụ thể hóa mục tiêu chiến lược này, Ấn Độ tiến hành chính sách “Răn đe hạt nhân tối thiểu”, củng cố và hiện đại hóa thiết bị quân sự, xây dựng lực lượng quân đội hùng hậu để tiến tới thực hiện mục tiêu trở thành cường quốc quân sự khu vực và thế giới. 3.1.4. Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội 3.1.4.1. Chính sách bảo tồn văn hóa Trước tiên, Ấn Độ thực hiện việc pháp lý hóa ngôn ngữ và tôn giáo. Năm 1995, chính phủ đã thông qua Chính sách bảo tồn di sản văn hóa quốc gia do Bộ Văn hóa soạn thảo từ năm 1992 với mục đích triển khai việc bảo tồn văn hóa Ấn Độ một cách hiệu quả nhất cả trung hạn và dài hạn. 3.1.4.2. Chính sách ngoại giao văn hóa Cùng với các chính sách trong nước, Ấn Độ đã đẩy mạnh chính sách ngoại giao văn hóa và coi đây là một công cụ hữu hiệu củng cố sức mạnh mềm của Ấn Độ. Ngay khi lên nắm quyền, nhận thức được giá trị của ngoại giao văn hóa, Thủ tướng Nehru cùng với Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã thành lập Hội đồng hợp tác văn hóa Ấn Độ (ICCR) năm 1950. Kể từ đó, ICCR đã quảng bá di sản văn minh của Ấn Độ tới nhiều quốc gia trên thế giới thông qua việc thành lập các trung tâm văn hóa Ấn Độ, lễ hội văn hóa Ấn Độ khắp nơi trên thế giới với mục đích toàn cầu hóa văn hóa Ấn Độ và tạo cơ hội cho những người Ấn đang sinh sống tại khắp nơi trên thế giới chiêm ngưỡng vẻ đẹp văn hóa của quê hương. 14 Chính sách văn hóa mềm của Ấn Độ còn được thể hiện ở việc Ấn Độ triển khai những chương trình học bổng và hợp tác giáo dục - kỹ thuật cho các nước khu vực ASEAN như Chương trình học bổng văn hóa chung (GCSS), Chương trình hợp tác kinh tế, kỹ thuật Ấn Độ (ITEC)... Đặc biệt, trong khuôn khổ của Hợp tác Mekong - sông Hằng (MGC) và BIMSTECT tập trung vào các lĩnh vực hợp tác như du lịch, văn hóa, giáo dục và vận tải, y tế công, giảm nghèo, môi trường và quản lý thảm họa... 3.1.4.3. Chính sách an sinh xã hội Chính sách xóa đói, giảm nghèo: Kể từ năm 1991, Chính phủ đã ban hành một loạt các chính sách để xóa đói giảm nghèo như Chương trình 12 điểm (triển khai năm 1982, sửa đổi năm 2006); Chương trình Jawahar Rojgar Yojna (JRY); Chương trình Swarna Jayanti Gram Swarozgar Yojna; Chương trình tự tạo việc làm cho người nghèo đô thị, nông thôn (SEPUP), Kế hoạch quốc gia về hỗ trợ xã hội cho những người có mức sống dưới mức nghèo khổ, cho người già trên 65 tuổi, người già không có lương hưu; Chính sách giáo dục: Chương trình toàn quốc biết chữ (NLM) triển khai từ năm 1998. Ngoài ra, còn có Chương trình trợ giúp dinh dưỡng cho trẻ em tiểu học (1995), Chương trình đem lại sức sống mới cho giáo dục (1994 Chính sách y tế: Có thể nói, y tế là một khoảng trống mà chính phủ chưa có những quan tâm thỏa đáng so với các chính sách khác trong quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc ở giai đoạn này. 3.2. GIAI ĐOẠN 2001 - 2015 Bước sang thế kỷ XXI, xu thế hòa bình và hợp tác trên thế giới được củng cố và duy trì đã góp phần làm cho các khu vực được ổn định hơn, trong đó mối quan hệ giữa Ấn Độ với Pakistan, Bangladesh có xu thế hòa dịu, bắt đầu quá trình hợp tác mở ra cơ hội mới có chiều hướng tích cực. Ngày 23/9/2001, Ấn Độ đã phá được thế bao vây cấm vận của Mỹ và các nước đã từng coi Ấn Độ là một cường quốc hạt nhân với nguy cơ bất ổn. Với những thành tựu to lớn trên mọi mặt của quá trình cải cách giai đoạn đầu đã tạo cơ sở vững chắc cho Ấn Độ tiến hành triển khai các kế hoạch cải cách kinh tế giai đoạn II. Mặc dù chiến lược cải cách giai đoạn II được Thủ tướng B.Vajpayee thông qua năm 1999, nhưng phải đến năm 2001 kế hoạch này mới được triển khai một cách thực sự. Thời kỳ này, Ấn Độ cũng đẩy mạnh triển khai Giai đoạn thứ hai của Chính sách hướng Đông. 3.2.1. Trên lĩnh vực kinh tế Tư tưởng chỉ đạo trong cải cách lần II là: “Phát triển nhanh hơn, nhiều việc làm và giàu vốn” Phương châm, biện pháp hành động: “Chính phủ xây dựng chính sách, lãnh đạo điều tiết; khu vực kinh tế tư nhân mang lại sự sinh động và hiệu quả cho môi trường cạnh tranh; các cơ quan địa phương và xã hội dân sự đảm bảo sự tham gia tích cực của nhân dân” Lĩnh vực cải cách: ngân sách, tài chính tiền tệ, công nghiệp, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và kinh tế đối ngoại; chống quan liêu; nhấn mạnh đa dạng hóa chính sách xuất khẩu, áp dụng lãi xuất gia tăng; chú trọng nâng cấp hạ tầng cơ sở; xóa bỏ những thủ tục và luật lệ đã lỗi thời; thúc đẩy 4 ngành mũi nhọn: Hóa chất, dược phẩm, dệt và cơ khí. 3.2.2. Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao Những mục tiêu của chính sách đối ngoại Ấn Độ giai đoạn 2001 - 2015 là: (1) bảo vệ 15 độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia; (2) tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế; (3) tăng cường, mở rộng quan hệ với các nước lớn, các trung tâm kinh tế thế giới nhằm tranh thủ vốn đầu tư và kỹ thuật cao; (4) đẩy nhanh quá trình hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu; (5) nâng cao vai trò và vị thế của Ấn Độ trong khu vực và thế giới. Như vậy, so với giai đoạn trước, ngoài mục tiêu chính là bảo vệ độc lập, chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ, các mục tiêu khác đã được chuyển đổi hoặc cụ thể hơn. Đó là, ngoại giao kinh tế, chính sách đối ngoại phục vụ chính cho phát triển kinh tế. 3.2.3.Trên lĩnh vực an ninh, quốc phòng 3.2.3.1. Tiếp tục củng cố, xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng Trong giai đoạn 2001- 2015, trung bình hàng năm, chính phủ chi khoảng từ 2,3 - 3% GDP cho ngân sách quốc phòng [153, tr124]. Song song với việc nhập khẩu vũ khí và các thiết bị quân sự, Ấn Độ đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp quốc phòng, nhằm phục vụ cho xây dựng kinh tế quốc gia thông qua việc xuất khẩu vũ khí, giảm áp lực chi phí quân sự, đáp ứng phần lớn nhu cầu của quân đội. Ấn Độ cũng xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh, có 4,207,250 quân thường trực, quân dự bị và lực lượng bán vũ trang [169,tr3] chia làm 03 quân chủng: Lục quân, Không quân, Hải quân. 3.2.3.2. Hợp tác về an ninh - quốc phòng với các nước Hợp tác song phương: Ấn Độ xác định, hợp tác song phương về quân sự là biện pháp để nâng cao chiến lược phòng thủ quốc gia nhằm xây dựng quan hệ hữu nghị, tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau, ngăn ngừa nguy cơ xung đột. Tăng cường hợp tác quân sự nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia trước sự xâm lược từ bên ngoài, thực hiện chiến lược quốc phòng phục vụ cho lợi ích phát triển kinh tế đất nước. Xuất phát từ đường lối trên, đặc biệt là sau chiến tranh lạnh, Ấn Độ đã tăng cường, mở rộng hợp tác quốc phòng - an ninh với hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt các nước lớn như: Mỹ, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN. Hợp tác đa phương: Ấn Độ tích cực tham gia và có những đóng góp quan trọng tại các khuôn khổ hợp tác khu vực của ASEAN như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn Biển ASEAN Mở rộng (EAMF), SCOphấn đấu vì một châu Á hòa bình và thịnh vượng. Ngoài ra, Ấn Độ còn tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, triển khai căn cứ quân sự ở nước ngoài. 3.2.4. Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội 3.2.4.1. Chính sách bảo tồn văn hóa Ấn Độ đã phê duyệt các dự án, đề án cải tạo, nâng cấp, xây mới hệ thống các viện bảo tàng như Bảo tàng Khoa học, Bảo tàng Ngôn ngữ và Văn học Ấn Độ, Bảo tàng Đồ trang sức, Nghệ thuật trình diễn, Nghệ thuật đương đại Ấn Độ; các đề án giữ gìn và bảo vệ Di sản phi vật thể, thành lập các trung tâm nghệ thuật quốc gia, các trường nghệ thuật... đặc biệt là trường Đại học Nalanda với mục tiêu “tạo ra một trung tâm trao đổi văn hóa, nghiên cứu và hiểu biết liên tôn giáo ở khu vực”. Bên cạnh đó, Ấn Độ còn tạo một kênh truyền hình chuyên trang về văn hóa do Bộ Văn hóa chỉ đạo và quản lý về nội dung phát sóng. Các chương trình truyền bá nghệ thuật dân gian và bộ lạc của đất nước cũng được tổ chức 16 thường xuyên tại các bang cùng với những hoạt động gây quỹ nhằm khuyến khích các nghệ nhân, nghệ sỹ, nhà văn... 3.2.4.2. Chính sách ngoại giao văn hóa Ngoại giao văn hóa được Ấn Độ triển khai mạnh từ đầu thế kỷ XXI đến nay thông qua việc phát triển và xuất khẩu điện ảnh Bollywood. Khi Thủ tướng Narendra Modi lên nắm quyền (2014), ông đã nỗ lực không ngừng để mang đến thế giới hình ảnh về một đất nước Ấn Độ với một truyền thống về triết học và tôn giáo lâu đời thông qua việc toàn cầu hóa Yoga. Cùng với ngành công nghiệp điện ảnh, Yoga, tôn giáo còn là công cụ để Ấn Độ củng cố sức mạnh tổng hợp của mình trong quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc. Chính sách “ngoại giao Phật giáo” đã được Ấn Độ triển khai mạnh tại châu Á một mặt nhằm tạo ảnh hưởng của mình tại các quốc gia châu Á và cũng là để dung hòa các lợi thế sử dụng sức mạnh mềm của Trung Quốc đang có ảnh hưởng khá lớn tại châu lục này. Chính sách “ngoại giao Phật giáo” được thể hiện qua các hoạt động như tổ chức các diễn đàn, hội nghị Phật giáo, tặng các thánh vật, tổ chức các tour du lịch hành hương... Bên cạnh đó, Ấn Độ còn thực hiện chính sách quảng bá ẩm thực ra toàn thế giới. 3.2.4.3. Các chính sách an sinh xã hội Chính sách xóa đói, giảm nghèo: Ngoài việc tiếp tục triển khai một loạt các chính sách đã ban hành, năm 2006, tiến hành sửa đổi Chương trình 12 điểm (triển khai năm 1982; Chương trình Jawahar Rojgar Yojna (JRY); Chương trình Swarna Jayanti Gram Swarozgar Yojna; Chương trình tự tạo việc làm cho người nghèo đô thị, nông thôn (SEPUP), Kế hoạch quốc gia về hỗ trợ xã hội cho những người có mức sống dưới mức nghèo khổ, cho người già trên 65 tuổi, người già không có lương hưu; Chương trình nhà ở nông thôn; Luật đảm bảo việc làm cho nông thôn (2005) và rất nhiều các chương trình khác. Cùng với chiến dịch xóa đói, giảm nghèo, Thủ tướng N.Modi còn phát động chiến dịch “Clean India”. Chính sách giáo dục: Chính phủ triển khai Chương trình Giáo dục cho toàn dân năm (EFA) (2001), Chương trình Sarva Shiksha Abhiyan năm 2010 (SSA) với mục tiêu 99% người dân nông thôn có trường tiểu học, chính phủ đầu tư 21,000 triệu Rs [174] cho chương trình này. Để nâng cao trình độ học vấn cho phụ nữ, năm 2009, chính phủ ban hành chương trình SAAKSHAR BHARAT. Ấn Độ đầu tư lớn cho giáo dục đại học. Chính sách y tế: chính phủ có ban hành chính sách y tế quốc gia năm 1983, và chỉnh sửa bổ sung năm 2002 với những mục tiêu như chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phòng chống dịch bệnh HIV, AIDS, tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ sở y tế... nhưng trên thực tế triển khai chưa đem lại nhiều kết quả. Ngân sách đầu tư cho lĩnh vực ở mức rất hạn chế. Tiểu kết Chƣơng 3 Quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ từ 1991 đến

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_an_qua_trinh_cung_co_va_bao_ve_doc_lap_dan_toc.pdf
Tài liệu liên quan